Huế vốn là đất kinh kỳ, có rất nhiều thú vui tao nhã. Những thú vui đó đã tạo cho Huế một bản sắc riêng mà "chẳng nơi nào có được". Ngủ đò trên dòng sông Hương là một trong những thú vui như thế.
Thú ngủ đò trở thành một nét văn hóa của người dân đất kinh kỳ
Không ai biết thú ngủ đò ở Huế có từ bao giờ. Có người lý giải, đây là nét văn hóa sinh ra từ thói quen dân dã của các cư dân sông nước, sinh sống trên những con sông của Huế. Hàng ngày họ vất vả mưu sinh cùng con nước, đến đêm lại thả hồn nằm ngủ trên những con đò, thảnh thơi với mây trời.
Cũng có người cho rằng, thú ngủ đò được giới nho sĩ khai sinh. Bởi, Huế xưa là đất kinh đô, là nơi gặp gỡ của bao mặc khách tao nhân trên mọi miền đất nước đổ về. Đó là những sĩ tử ngoài Bắc hay những vị công tử từ miền Nam, khăn gói về kinh mong muốn đổi đời bằng con đường hoan lộ qua nghiệp đèn sách. Đó là những quan lại tứ phương sống xa gia đình, về kinh tại chức. Đó cũng có thể là những cậu ấm, những bậc vương giả đất thần kinh mang tâm hồn lãng tử, thích phá bĩnh nhưng lại bức bối trong luân lý Nho gia... Tất cả họ tìm về thú ngủ đò như để tìm chút tự do, phóng khoáng cho thỏa nguyện chí tang bồng.
Nghe nói, ngày xưa, nhà thơ Lưu Trọng Lư, thời trai trẻ vào kinh đèn sách, bỗng gặp rồi mê mẩn tiếng đàn nguyệt của người con gái Huế, thế là hai người rủ nhau xuống đò tâm sự thơ ca, đàn hát suốt mấy tháng trời.
Còn nhạc sĩ Văn Cao thì "ngủ đò" để đàn ca trong "một đêm đàn lạnh trên sông Huế":
Giọng hát sầu chi phấn nữ ơi
Từng canh trời điểm một sao rơi
Tà tà trăng lặn hiu hiu gió
Ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi...
Chính những đêm trên đò sông Hương ấy đã cho Văn Cao cảm hứng để viết nên những bản nhạc Sông Hương, Thiên Thai, Suối Mơ, Trương Chi...
Đò để ngủ ở Huế rất đặc biệt. Chúng được người Huế thiết kế tinh tế, tạo cho khách ngủ đò một thế giới riêng tư và kín đáo. Đò có ba phần: phía trước là mũi đò với khoảng không gian thoáng và rộng, là nơi để du khách hóng mát và ngắm trăng. Ở giữa có mui vòm đan bằng tre với sàn làm bằng gỗ bào nhẵn, có trải chiếu với đôi gối thêu, là chỗ dành cho khách và kỹ nữ. Sau cùng là nơi của người lái đò.
Trước đây, khách xuống ngủ đò là để nghe đàn ca hát xướng, để ngâm thơ, đàm đạo cùng bạn tri âm, tri kỷ. Đôi khi lại thao thức cùng người kỹ nữ xứ Huế, nói chuyện thâu đêm đến sáng...
Ngày nay, thú ngủ đò đã biến tấu thành việc đi thuyền đêm dọc dòng sông Hương
Ngày nay, thú ngủ đò đã biến tấu khác đi nhiều. Cũng có một ít người bây giờ vẫn thường thuê hẳn một con đò, rủ thêm đôi ba người bạn tri kỷ chèo thuyền lên gần điện Hòn Chén rồi buông mái để thuyền trôi lặng lẽ về xuôi, thưởng thức cái cảm giác bồng bềnh trên sông nước với những con sóng vỗ lao xao vào mạn thuyền và tiếng mái chèo rẽ nước róc rách. Nhưng số này giờ rất ít. Giờ những con đò đã thành những con thuyền du lịch đầu rồng. Khách không còn ngủ qua đêm cùng kỹ nữ như ngày xưa nữa. Họ xuống thuyền chỉ để nghe những cô ca nương ca giọng mái nhì, để thả đèn hoa đăng, để ngắm thành phố Huế dọc hai bên bờ sông, để thưởng thức cái thú ngồi tiệc tùng trên con thuyền di động...
Có thông tin, hiện nay ở Huế có một doanh nghiệp đang mở dịch vụ "ngủ đò trên sông Hương". Dịch vụ này theo tour khép kín kéo dài 2 ngày 1 đêm, với điểm xuất phát từ chùa Thiên Mụ rồi xuôi dòng sông Hương về phía hạ lưu. Du khách sẽ được tham quan các nghề truyền thống dọc hai bên bờ sông như: tranh làng Sình, hoa giấy Thanh Tiên... Thăm phố cổ Bao Vinh, cảng xưa Thanh Hà, đồng thời khám phá cuộc sống cư dân trên sông nước... Và khi đêm xuống, thuyền sẽ ngược sông Hương, neo đậu ở Nguyệt Biều, du khách sẽ ngủ lại trên thuyền được bố trí bốn giường đôi dành cho 8 khách.
Do trước đây, "ngại tai tiếng" mà thú ngủ đò vắng bóng một thời gian. Thiết nghĩ, nếu được khai thác một cách lành mạnh thì chắc chắn đây sẽ là một nét văn hóa độc đáo chỉ có ở mảnh đất cố đô.
Theo nguoiduatin.vn
Tải mã QRCode
Bộ sử bằng thơ này được các ông hoàng nhà Nguyễn khởi viết từ khoảng 1907-1916, kéo dài đến khoảng 1926. Ban đầu được lưu trữ ở thư viện gia đình Lục Khanh, sau được cất giữ ở chùa Từ Quang (Thừa Thiên - Huế). Vốn là tài liệu độc bản, viết tay bằng chữ Nôm, gồm 1.884 câu lục bát.
Huế có thể trở thành đô thị sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn, đô thị sang về Dĩ vãng và giàu về Hiện tại, nếu ta nhận thức rõ và ra sức bênh vực cái cơ ngơi mà nó sở hữu.
SHO - Chiều ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức lễ Tổng kết trại sáng tác văn học nghệ thuật“ về đề tài "Con người và thiên nhiên quê hương Thừa Thiên Huế” tại văn phòng Liên hiệp hội, 26 Lê Lợi, thành phố Huế. Hơn 50 tác phẩm thuộc các chuyên ngành gồm: văn học, âm nhạc, nhiếp ảnh, hội họa... đã được sáng tác trong đợt này. Trại sáng tác khai mạc vào ngày 10/4 tại khách sạn Phong Lan, vườn quốc gia Bạch Mã, kéo dài trong 10 ngày bao gồm 4 ngày thực địa và 6 ngày hoàn thành tác phẩm tại nhà.
Xe chạy tầm 45 phút thi tới đỉnh điểm đậu xe gần Vọng Hải Đài, xuống xe bắt đầu đi bộ ra. Vọng Hải Đài là điểm cao nhất Bạch Mã, từ đây có thể nhìn được vịnh Lăng Cô, Hồ Truồi…
Từng viếng thăm nhiều ngôi chùa nhưng khi đến Đông Thiền, tôi thật sự thích không gian xanh mát tĩnh lặng nơi đây, cảm giác như được sống trong một thế giới khác.
SHO - Chiều ngày 10/4, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã tổ chức Khai mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật “Con người và thiên nhiên quê hương Thừa Thiên Huế” tại vườn Quốc gia Bạch Mã, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế.
SHO - Sáng ngày 4/4, hàng trăm cựu chiến binh(CBB) của hai tiểu đoàn 804 - 810 (K4 - K10) đã có buổi họp mặt kỷ niệm 40 năm giải phóng Thừa Thiên Huế tại Ban chỉ huy Quân sự Thành phố, 25A Trần Cao Vân, Tp Huế.
Quốc tự Thánh Duyên toạ lạc ở Tuý Vân sơn, ngày trước thuộc phường Đông Am, tổng Diêm Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên; nay là làng Hiền An, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cùng với Linh Mụ và Diệu Đế, Thánh Duyên là một trong ba ngôi quốc tự của xứ Thần kinh còn tồn tại cho đến ngày nay.
Không phải đền đài, lăng tẩm uy nghi mà chính những điều bình dị như góc phố yên bình hay giọng nói ngọt ngào đã để lại nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng du khách.
Nhắc đến cố đô Huế, người ta không thể không kể tới các nhà vườn, bởi kiến trúc của nhà vườn Huế cũng có một lịch sử lâu đời trên 200 năm kể từ khi nhà Nguyễn xây dựng kinh đô.
SHO - Tối 26/3, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức bắn pháo hoa tầm cao để chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên Huế (26/3/1975-26/3/2015).
SHO - Hòa chung trong không khí tiến tới kỷ niệm thống nhất đất nước, sáng ngày 26/3 tỉnh Thừa Thiên Huế trang trọng tổ chức Lễ mitting kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế (26/3/1975- 26/3/2015) tại Sân vận động Tự Do, Thành phố Huế.
SHO - Chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng quê hương Thừa Thiên Huế (26/3/1975- 26/3/2015), Liên hiệp các hội VHNT tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Hội Nhiếp ảnh Thừa Thiên Huế tổ chức khai mạc triển lãm ảnh thời sự nghệ thuật với chủ đề: “Thừa Thiên Huế- 40 năm xây dựng và phát triển” vào chiều ngày 25/3, tại Bảo tàng Văn hóa Huế - số 25 Lê Lợi - Thành phố Huế.
Tiếp bước hành trình khám phá những ngôi chùa Huế, ta sẽ đến với một ngôi chùa – một tổ đình – nơi thể hiện tấm lòng bao dung của nhà Phật với những con người không toàn vẹn – Từ Hiếu. Chùa nằm ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, thành phố Huế.
Khi bàn về Nhã nhạc người ta thường chú trọng nhiều đến thành phần, biên chế các loại dàn nhạc và bộ phận nhạc không lời do các nhạc cụ diễn tấu, mà ít đề cập đến một bộ phận quan trọng của Nhã nhạc là thể loại nhạc có lời.
Trong kiến trúc cung đình Nguyễn tại Huế, hình thức nhà tạ có mặt ở khắp nơi: Hoàng cung, Hành cung, Biệt cung và ở cả các lăng tẩm đế vương.
Để nhã nhạc cung đình Huế “sống lại” như ngày hôm nay, có công rất lớn của cụ Lữ Hữu Thi- nhạc công cuối cùng của triều Nguyễn. Cụ đã âm thầm, kiên trì vượt qua khó khăn trước những thăng trầm của lịch sử để giữ gìn và trao truyền ngọn lửa nhã nhạc, đưa nhã nhạc từ chỗ bị lãng quên trở thành di sản của nhân loại.
Nhà văn Nguyễn Tuân đã tinh tế nhận xét: “Người Huế ăn bằng mắt trước khi ăn bằng miệng”.
Ngài thủy tổ họ Hồ Đắc làng An Truyển, xã Phú An, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế vốn là gốc từ ngoài bắc vào lập nghiệp thường được dân làng gọi là Hồ Quản Lãnh.
Nói thiệt thì o Huế của tôi cũng có uy lắm đấy, đừng tưởng là o hiền. Đôi lúc vui miệng tôi hỏi o: “Vậy chớ Kho Rèn ngoài nớ nó rèn cái giống gì vậy?”, thì o không trả lời mà trừng mắt nhìn tôi!!!