Độc đáo mặt nạ tuồng Huế

14:19 26/02/2014

Tuồng Huế, đã có nhiều cuộc hội thảo với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nghệ sĩ lừng danh, tất cả đều đặt ra câu hỏi làm thế nào để bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật đã một thời được xem là quốc kịch dưới triều nhà Nguyễn. 

NSƯT La Cẩm Vân vào vai Chung Vô Diệm

Không tìm hiểu về cách khôi phục các kịch bản, hình thức biểu diễn, tuyển chọn diễn viên… chúng tôi đi tìm một ngôn ngữ tuồng ẩn chứa trong hai câu thơ: Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc/Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi.

Mặt nạ tuồng Huế có 3 tông màu chủ đạo là đen - đỏ - trắng và thêm một số màu phụ trợ như: xanh, xám… Mỗi tông màu gắn với từng mô típ nhân vật cụ thể, như: mặt đen - đại diện cho sự rắn chắc; mặt trắng - vẽ sự bạc bẽo; mặt mốc - dành cho kẻ xu nịnh, phản trắc; mặt rằn - kẻ tướng mạo xấu xí, tính tình nóng nảy; mặt đỏ - tỏ rõ sự trung can nghĩa khí... Và qua các sưu tầm, nghiên cứu, kết quả cho thấy tuồng Huế có khoảng 100 loại mặt nạ tiêu biểu. 
 
 Đã từng hóa thân nhiều vai diễn tuồng từ khi còn là diễn viên lớp Đồng Ấu, nghệ nhân La Nguyên cho biết: Khi vẽ mặt nạ tuồng, ngoài những quy định chung về tính cách và xuất xứ của nhân vật, nó còn có sự thay đổi, biến chuyển tùy thời điểm, tùy tình thế. Ví dụ như những nhân vật sống ở miền sông nước hay ở biển đều được gọi là Kép sông, Kép nước chứ không gọi là Kép biển. Tuy ở sông hay ở biển đều là kép nước nhưng nhân vật ở biển thì phải kẻ mặt màu đỏ, còn ở sông thì phải có màu xám. Theo giải thích, nhân vật ở biển chịu nắng nên mặt phải màu đỏ, còn nhân vật sinh sống gần sông, đôi khi, đôi lúc còn được ở chỗ râm, mát nên màu da của nhân vật không thể giống như người miền biển được. 
 
 
Cố nghệ nhân La Cháu đang tự kẻ mặt nạ
 
Khi đã theo nghiệp học tuồng, các diễn viên đều phải theo học vẽ mặt nạ. Trước tiên, bản thân người học phải tự nhớ, tự học màu sắc và thứ tự, chi tiết các bước vẽ, rồi tự mày mò, tìm tòi vẽ theo các vai mà các nghệ nhân đã vẽ. Người học phải tự bắt chước chứ không được chỉ bảo cụ thể phải làm như thế nào, bắt đầu từ đâu…. Nghệ nhân Huỳnh Văn Đức (Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế) tâm sự: "Khi tôi đóng vai Khương Linh Tá thì ông thầy vẽ cho tôi mặt Khương Linh Tá. Tuy nó có thứ tự từng bước một, nhưng thầy không chỉ cho là phải làm như thế nào, tôi phải tự mày mò, tự học trước gương”. 
 
Theo các nhà nghiên cứu về tuồng, mỗi mặt nạ tuồng khi được vẽ đều mang tính cách điển hình, tính cách ấy theo nhân vật đồng hành xuyên suốt từ đầu đến cuối vở diễn. Do đó, các nét vẽ thường lấy từ các hình tượng như: long, ly, quy, phượng tương ứng để tượng trưng cho vua, quan, sự vĩnh cửu và vẻ đẹp sang quý. 
 
 
Diễn viên tuồng Đồng Ấu dưới triều Nguyễn
 
Theo ông Trương Tuấn Hải - Giám đốc Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế, về cơ bản, cách hoá trang mặt nạ tuồng ở 3 miền Bắc - Trung - Nam đều giống nhau về việc sử dụng các gam màu vào tính cách của nhân vật. Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ văn hóa đặc trưng của vùng miền, nên mỗi nơi có cách thể hiện nét vẽ khác nhau. Riêng Huế, nơi nghệ thuật tuồng đã đạt đến đỉnh cao, xứ sở của những con người tế nhị có cuộc sống êm đềm bên dòng sông Hương, núi Ngự nên các nét vẽ khi được khắc họa lên gương mặt của người nghệ sỹ cũng nhẹ nhàng, thanh thoát hơn.  
 
Ông Hải cũng chia sẻ: Vẫn biết nghệ thuật tuồng không thể cạnh tranh kéo khách như các loại hình nghệ thuật khác, nhưng Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế đang có nhiều nỗ lực để tìm cách "nuôi” tuồng. Trong đó có việc lồng ghép để tổ chức biểu diễn các trích đoạn tuồng cổ ở Minh Khiêm Đường (Lăng Tự Đức) hay tại Duyệt Thị Đường (Đại Nội Huế) để phục vụ khách tham quan du lịch.
 

 

Và mỗi kỳ Festival Huế cũng là cơ hội tốt nhất để quảng bá nghệ thuật tuồng Huế, cũng như ngôn ngữ mặt nạ tuồng với những người muốn tìm hiểu sâu hơn về loại hình văn hóa dân gian độc đáo này.
 
Theo đaidoanket.vn
 
 
 
Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Xin những bậc chuộng sách vở từ chương đừng mất công dở sử sách Nhà Nguyễn để tìm địa danh này vì nó không phải là cái tên chính thức do vua đặt ra; may ra chỉ có cụ già Léopold Cadière nặng lòng với Huế nên đưa cái tên Nam Đài vào tập san Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue) mà thôi...

  • Như một thói quen, một sự tò mò khó lý giải cứ vào những đêm trăng sáng, nhiều người lại đến khu phế tích Tháp Đôi Liễu Cốc (thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế) để xem vàng hiển linh.

  • Đây là một dinh thự 2 tầng được xây dựng theo kiến trúc hiện đại, khác với các tòa nhà mang phong cách truyền thống trong Tử Cấm Thành.

  • Đây không phải là sản phẩm gì quá xa hoa mà chỉ là một vật dụng rất quen thuộc của người Việt xưa...

  • Trước khi có sự biến mất hoàn toàn các dấu tích cuối cùng của cửa “quan ải An-nam” trên đỉnh đèo Hải Vân, địa điểm cao nhất của đường cái quan nối liền Huế với Đà Nẵng, tôi thiết nghĩ cần hồi phục các kỷ niệm của nó bằng cách đưa ra các bức ảnh cho thấy tình trạng hiện nay, cũng như đưa ra một số lời giải thích ngắn gọn liên quan đến cửa ải xưa chưa đầy một thế kỷ này; nhưng hiện nay hoàn toàn bị phế bỏ và đang lần hồi mai một do ảnh hưởng tác hại của mưa nắng, của các loài cây cỏ bám cứng.

  • Phạm Duy sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, hơn một phần ba cuộc đời ông sống ở Sài Gòn, hơn một phần ba sống ở ngoại quốc. Ông đi nhiều, yêu và được yêu cũng nhiều, kể cả người Pháp. Nhưng rồi qua trải nghiệm ông thấy người con gái Huế ông yêu là đẹp nhất, sâu sắc nhất...

  • Huyền Không Sơn Thượng hay còn gọi là chùa Huyền Không 2 cách cố đô Huế chừng 14 km về hướng Tây, thuộc thôn Đồng Chầm (Hòn Vượn), xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

  • Không chỉ cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp, Huế trước đây còn là kinh đô của nhà Nguyễn hàng trăm năm, nên đã hội tụ văn hoá nhiều miền của đất nước, tạo nên một di sản văn hoá đồ sộ, trong đó có CA DAO.

  • Trải qua bao thăng trầm cùng lịch sử, xây rồi phá, phá rồi xây nhưng vẻ đẹp trong lối kiến trúc của nhà thờ chính tòa Phủ Cam vẫn luôn hiện hữu, thách thức với thời gian.

  • “Tứ thú” xưa gồm ăn trầu, uống trà, hút thuốc, uống rượu được các bậc cha ông chơi và đạt đến một trình độ đẳng cấp.

  • Trải dòng lịch sử bi tráng của nước Việt, Hải Vân không chỉ là cung đèo kỳ vĩ mà còn đẫm máu xương vệ quốc. 

  • Tổng thể kiến trúc của lăng Thiệu Trị là sự kết hợp và chọn lọc từ mô thức kiến trúc của lăng Gia Long và lăng Minh Mạng. Trải qua thời gian với những biến cố lăng đã trở nên đổ nát.

  • Vua Hiệp Hòa (Nguyễn Phúc Hồng Dật, 1847 - 1883) là một trong những vị vua có số phận buồn nhất lịch sử Việt Nam...

  • Lễ bái ở lăng Minh Mạng, lính canh ở lăng Gia Long... là hình ảnh sinh động về con người ở kinh thành Huế xưa.

    Bài viết liên quan: 

    Hình ảnh hiếm có về kinh thành Huế những năm 1920

    Ảnh hiếm về kinh thành Huế những năm 1920 (2)

  • Cách đây gần 100 năm nhiều công trình kiến trúc ở Huế vẫn còn nguyên vẹn, chưa bị xuống cấp và đổ nát như bây giờ.

  • Nhiều hình ảnh quý giá về kinh thành Huế của nhà Nguyễn trong khoảng năm 1919-1926 đã được nhiếp ảnh gia Pháp ghi lại...

  • Trong khuôn viên lăng vua Minh Mạng ở Huế có một di tích độc đáo nhưng ít người biết đến, đó là Tả tùng phòng trên núi Tịnh Sơn. Điểm đặc biệt của công trình này là cánh cửa vòm cuốn đã bị một cây si cổ thụ "nuốt chửng". Đây là minh chứng cho sức mạnh tàn phá của thiên nhiên và thời gian đối với các công trình do con người xây dựng.

  • Một bà Hoàng con đại gia, vợ ông vua Nguyễn nổi tiếng, nhan sắc Việt Nam đẹp nhất thế kỷ XX mà ngôi mộ của bà thua cả nhiều ngôi mộ của chị em tiểu thương chợ Đông Ba ở quê nhà. 

  • Người Huế vốn là người xứ kinh kỳ, nên lời ăn tiếng nói, cung cách ứng xử, đi lại cũng nhẹ nhàng, tri thức. Ẩm thực cung đình Huế cũng mang nhiều nét ảnh hưởng của cung cách hoàng gia: Ăn uống nhẹ nhàng, khoan thai, các món ăn ngoài khẩu vị ngon phải nhẹ và thanh, cách trình bày cũng phải đẹp, bắt mắt.

  • Ba giờ sáng, tại Đàn Nam Giao (Thừa Thiên Huế), không còn nghe tiếng hô đức vua xa giá, chỉ có âm thanh rì rầm dội vào rừng thông và những ánh mắt hướng về linh vị đặt trên bàn thờ. Những người dân đến Đàn Nam Giao để nguyện xin sự viên mãn, gia đình bình an.