Đọc "Phan Bội Châu toàn tập"

16:14 23/09/2019

(Một đôi chỗ cần lưu ý)

CHU TRỌNG HUYẾN

Ảnh: internet

Phan Bội Châu (1867-1940), con người mà cuộc đời và sự nghiệp gắn liền với một giai đoạn lịch sử chống thực dân Pháp của dân tộc Việt nam đầu thế kỷ 20. Không ít người thuộc thơ phú của ông, tàng trữ ít nhiều trước tác của ông và nhiều người muốn sưu tập được càng nhiều càng tốt những di thảo của ông. "Phan Bội Châu toàn tập" do Chương Thâu sưu tập biên soạn, Trần Văn Giàu viết giới thiệu và Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành (1990), trước tiên phù hợp với lòng mong muốn của nhiều lớp người như vậy.

Với tấm lòng tôn quý nhà cách mạng và nhà văn Phan Bội Châu và với tấm lòng trân trọng công trình sưu tập biên soạn này, nhân khi đọc, bước đầu, chúng tôi thấy có đôi điểm sau đây muốn trao đổi với soạn giả.

Toàn tập đã đưa các tác phẩm thành văn (vốn đã được công bố) vào các tập: 1, 2, 3, 7, 8, 9, 10: Về văn bản học, phần này đã đi vào ổn định. Các tập 4, 5, 6 chủ yếu là câu đối, thơ, phú, bài luận thuyết của Phan Bội Châu, mới sưu tập được từ năm 1945 lại nay. Ở cả hai phần, đều đã được soạn giả làm việc công phu, tuy nhiên, cũng có đôi chỗ cần lưu ý thêm.

Ví ở tập 1 (tr. 236), bài "Qua đò Lách" là bài thơ được góp nhặt và lưu truyền một cách tản mát ở Nghệ Tĩnh mà chưa thật rõ là của ai. Soạn giả có chú thích là Ninh Viết Giao cho rằng đó là thơ bà Tú Ý. Bài có những câu:

"Trông lên Hồng Lĩnh mây tuôn ngược,
Ngó xuống Lam Giang nước chảy xuôi
"

Chỉ tâm trạng của một con người bị mất mát, chán đời. Rồi tiếp đến:

"Còn trời, còn đất, còn vũ trụ
Còn vua, còn chúa hãy còn tôi"
.

Câu trước là một lời triết lý dễ dãi. Câu sau là một niềm tin mù quáng. Tất cả đều không phù hợp với tư tưởng của Phan Bội Châu. Nhất là, bài thơ có ghi thời gian xuất xứ là 1905, cái thời điểm Phan Bội Châu đang hăm hở:

"Nguyễn trục trường phong Đông Hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi
"

Chỉ vì muốn:

"Nắm địa cầu vừa một tý con con
Đạp toang hai cái cánh càn khôn
"

(Bài: "Chơi xuân", cùng trang, cùng tập)

Vậy, thêm bài "Qua đò Lách", một tiếng nói lạc điệu so với thơ Phan Bội Châu hồi 1905. Kể cả những bài chưa đủ cơ sở để nói là của Phan Bội Châu như "Từ biệt thân hữu" (trang 231, T1) thì cũng không nên đưa vào. Người phản biện có thể khẳng định, đây không phải là lời Phan Bội Châu. Vì, "Phong vi vi hề chấp quân quyết" tức "Gió thổi hiu hiu vậy ôi! tay nắm lấy chéo áo bạn". Ra đi với lòng ước mong có sự nghiệp lớn như Phan Bội Châu mà lại cứ "Chấp quân quyết" mãi thì đi làm sao được? Sao lại gán cái bịn rịn ấy cho Phan Bội Châu, con người đang mong "nắm địa cầu vừa một tý con con" lúc này!

Phải chăng, ở đôi chỗ, Toàn tập còn thiếu đi cái tinh. Về kịch bản "Truyện Trưng Nữ Vương diễn tuồng" (trang 23 T3) thì ở Nghệ Tĩnh trước đây nhất là Nam Đàn, Hưng Nguyên, nhiều người đã thuộc lòng với tên gọi là "Tuồng Trưng Trắc" mà tên gọi này nghe cũng nghệ thuật hơn. Các độc giả, khán giả ấy rất tôn kính Phan Bội Châu, thuộc nhiều thơ của ông, coi ông là "thánh" nhưng họ đã lưu diễn "Tuồng Trưng Trắc” với sự ghi nhận đó là kịch bản do Vương Thúc Lương, người làng Sen, Nam Đàn viết. Sau này họ mới nghe nhiều nhà nghiên cứu văn học nói thêm rằng, kịch bản ấy có được Phan Bội Châu nhuận sắc. Về lai lịch tác phẩm và tác giả kịch bản "Tuồng Trưng Trắc" ta phân định như vậy là thỏa đáng thế nhưng trong toàn tập, soạn giả không có phần lai lịch tác phẩm, nên cũng không nhắc gì đến Vương Thúc Lương cả.

Đáng chú ý hơn, ở các tập 4, 5, 6 là những tập ghi chép về câu đối, thơ phú về các bài xã thuyết của Phan Bội Châu trong 15 năm ở Bến Ngự (Huế). Bởi toàn cảnh sống và tuổi tác của tác giả như ta đã biết, chúng tôi thấy việc đưa vào toàn tập phần sáng tác của ông trong thời gian này cũng cần có sự chọn lọc thỏa đáng.

Câu đối (tr. 432, T6) sau đây:

"Trùng tuyền hạ đối án hàn huyên cầm sắt hữu thanh giai quốc tháo
Trấp tải dư ngã thế huynh vị nhi tiều tụy vô mộng bất thăng nhai
".

Ghi là "Điếu cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc” thì cần phải xem lại. Về nội dung, chí hướng, ông Phan và ông Nguyễn không phải là bạn "cầm sắt hữu thanh". Trong "Trấp tải dư", cả hai đều chẳng phải là "tiều tụy vô mộng". Phan Bội Châu hẳn đã không nghĩ như vậy. Về lời thì hai câu đối trên, nhiều chỗ khổ độc và đối ngẫu không chỉnh như "đối án hàn huyên" mà đối với "ngã thế huynh vị" vừa không có nghĩa vừa sai luật bằng trắc, từ loại. Cũng như "Quốc tháo" là lòng tiết tháo vì đất nước mà đem đối với "thăng nhai" là bên bờ (?) thì thật là vô nghĩa.

Cũng ở trong tập này (tr. 433), câu đối điếu Đặng Chính Kỷ thì đúng là của Phan Bội Châu, nhưng toàn tập đã ghi:

"Phụ tử bất dữ mưu, thử sự dĩ tri nga phó hỏa;
Phù sinh hà túc tích, lân quân tuy tử báo lưu bì
" là không đúng.

Về văn chữ Hán, Phan Bội Châu không viết dễ dãi với ý "thử sự dĩ tri" (chuyện ấy đã biết) và "phù sinh hà túc tích" (cuộc phù sinh sao khá nhớ) rẻ rúng như vậy. Cũng có thể là sự phàn nàn nhưng đã là lời lẽ của Phan Bội Châu thì tâm huyết và nhuần nhuyễn. Văn của Phan, nhất là thơ chữ Hán và câu đối, khiến người đọc dễ thuộc và khi đọc đến là người ta có lúc phải đứng lên dù là nói đến những điều bất hạnh, vì ý thơ của ông rất sâu có sức lay động rất lớn.

Hai câu này nguyên là:

"Phụ tử nan dữ mưu, để cục tảo tri nga phó hỏa;
Phù sinh hà túc luyến, lân quân do tự báo lưu bì
"

nghĩa là: Trẻ con khó mà mưu nổi việc (lớn), rốt cuộc sớm biết (đó là) con thiêu thân lao vào lửa; Cuộc phù sinh sao mà tiếc nổi, thương anh còn là con báo (chết) để da.

(Tục ngữ Việt Nam: "Con báo chết để da; người ta chết để tiếng")

Đặng Chính Kỷ là học trò thân của Phan Bội Châu đã vào Bến Ngự sống với Phan một thời gian khi Phan mới về ở đó (khoảng 1925-1926). Sau đó Đặng về quê đi dạy học, hoạt động cách mạng rồi hy sinh vì cao trào Xô-Viết Nghệ Tĩnh. Khi nghe tin Đặng mất Phan đã viết câu này vì đau xót thực lòng. Song, đó cũng là điều đau lòng của ta. Bởi Phan Bội Châu đã không đủ những thông tin để nhận thức đúng về phong trào Xô-Viết Nghệ Tĩnh và tấm gương chiến đấu oanh liệt của người học trò của mình lúc này. Về sau, ông có hiểu ra và thay đổi nhận thức đối với phong trào cách mạng 1930-1931, tuy có muộn. Vậy thì những việc riêng lẻ nhất thời như câu đối nói trên không phản ánh được tư tưởng yêu nước, cách mạng nói chung của Phan Bội Châu do đó, không đưa nó vào toàn tập thì hơn. Nêu ra vài ví dụ như vậy, chúng tôi muốn nói phần sáng tác của Phan Bội Châu ở trong các tập 4, 5, 6 nếu sau này được in lại thì nên có sự chọn lọc thêm.

Cũng nhân đây, chúng tôi muốn đề cập đến việc đánh giá Phan Bội Châu qua "Lời giới thiệu" và "Nhận thức của người sưu tập, biên soạn" trong "Phan Bội Châu toàn tập".

Ở lời đề của "Lời giới thiệu" chỉ nên viết: Phan Bội Châu nhà cách mạng, nhà văn, nhà tư tưởng dân chủ của Việt Nam đầu thế kỷ 20 là đủ. Không nên thêm tính từ "yêu nước" sau chữ "nhà văn", cũng như không cần thêm trạng từ "lớn nhất" sau "nhà tư tưởng dân chủ". Vì đã là nhà cách mạng thì tất phải là yêu nước. Còn tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu thì chưa nên khẳng định là lớn nhất. Vì cách đề như thế có thể khiến người ta đặt câu hỏi Phan Bội Châu là nhà dân chủ lớn nhất thì ai là thứ nhì, ai là thứ ba? khi lịch sử chưa cho phép chúng ta đánh giá khẳng định. Cùng với Phan Bội Châu có Phan Chu Trinh, Đặng Thúc Hứa, Ngô Đức Kế... và, nếu như theo thời gian đã được tác giả khẳng định trong "lời giới thiệu" là khoảng 25 năm đầu thế kỷ, thì phải kể đến cả Nguyễn Ái Quốc.

Cũng như trong bài "Nhận thức của người sưu tập, biên soạn" ở trang 23 viết: "Phan bội Châu đã đặt nền móng cho cách mạng về sau (đoàn kết dân tộc, con người cách mạng...)". Nhận định như vậy trọn vẹn quá, lớn quá. Chỉ nên nói: Phan Bội Châu đã góp phần đặt nền móng cho cách mạng về sau. Như thế, dễ chấp nhận hơn. Không nên mở dấu đơn để nối thêm đặt nền móng về "con người cách mạng". Vì nói con người làm nền móng cho cách mạng sau này thì phải nói đến tư tưởng, ý thức hệ... Như vậy thì với nhận thức và hoàn cảnh của Phan Bội Châu làm sao ông ta đặt nổi "nền móng".

Ý nhỏ cuối cùng là vấn đề in chữ Hán. Khi nâng quyển 1 của toàn tập ai cũng có thêm điều mừng là thấy đằng sau có phần in chữ Hán. Nhưng từ tập 2 cho đến tập 10 thì không có phần chữ Hán như thế. Người đọc dễ hiểu là nếu in trọn phần chữ Hán thì công viết, công sắp chữ lớn, toàn tập dày thêm, tốn kém nhiều hơn mà kinh phí có hạn. Nhưng dẫu sao, người đọc vẫn muốn cả 10 tập đều có phần in chữ Hán. Hoặc giả, ở mỗi tập chọn in những câu bài chữ Hán cần đối chiếu.

Ngọc còn có vết, huống chi một bộ "Phan Bội Châu toàn tập", 10 quyển, ngót 4900 trang sách do từ nhiều văn bản nhiều địa phương (trong và ngoài nước) được tập hợp, ghi chép lại thì sao mà mười phần vẹn mười được. Chúng tôi chỉ là một người đọc sơ bộ góp phần điểm sách với tấm lòng mong khi toàn tập được in lại thì sẽ tốt hơn.

Xin ghi lại ở dòng cuối tấm lòng biết ơn đối với soạn giả Chương Thâu và Nhà xuất bản Thuận Hóa.

C.T.H
(TCSH47/05-1991)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • VÕ QUANG YẾN Tôi yêu tiếng nước tôi                Từ khi mới ra đời làm người                                                Phạm Duy

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGKhao khát, đinh ninh một vẻ đẹp trường tồn giữa "cuộc sống có nhiều hư ảo", Vú Đá, phải chăng đó chính là điều mà kẻ lãng du trắng tóc Nhất Lâm muốn gửi gắm qua tập thơ mới nhất của mình? Bài thơ nhỏ, nằm nép ở bìa sau, tưởng chỉ đùa chơi nhưng thực sự mang một thông điệp sâu xa: bất kỳ một khoảnh khắc tuyệt cảm nào của đời sống cũng có thể tan biến nếu mỗi người trong chúng ta không kịp nắm bắt và gìn giữ, để rồi "mai sau mang tiếng dại khờ", không biết sống. Cũng chính từ nhận thức đó, Nhất Lâm luôn là một người đi nhiều, viết nhiều và cảm nghiệm liên tục qua từng vùng đất, từng trang viết. Câu chữ của ông, vì thế, bao giờ cũng là những chuyển động nhiệt thành nhất của đời sống và của chính bản thân ông.

  • MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHTôi nghe rằng,Rạch ròi, đa biện, phân minh, khúc chiết... là ngôn ngữ khôn ngoan của lý trí nhị nguyên.Chan hoà, đa tình, niềm nỗi... là ngôn ngữ ướt át của trái tim mẫn cảm.Cô liêu, thuỷ mặc, bàng bạc mù sương, lấp ló trăng sao... là ngôn ngữ của non xanh tiểu ẩn.Quán trọ, chân cầu, khách trạm, phong trần lịch trải... là ngôn ngữ của lãng tử giang hồ.Điềm đạm, nhân văn, trung chính... là ngôn ngữ của đạo gia, hiền sĩ.

  • MAI VĂN HOANTập I hồi ký “Âm vang thời chưa xa” của nhà thơ Xuân Hoàng ra mắt bạn đọc vào năm 1995. Đã bao năm trôi qua “Âm vang thời chưa xa” vẫn còn âm vang trong tâm hồn tôi. Với tôi, anh Xuân Hoàng là người bạn vong niên. Tôi là một trong những người được anh trao đổi, trò chuyện, đọc cho nghe những chương anh tâm đắc khi anh đang viết tập hồi ký để đời này.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ giới thiệuNhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà phê bình Hoài Thanh (1909-2009)Chúng ta từng biết cố đô “Huế Đẹp và Thơ” một thời là nơi hội tụ các văn nhân, trong đó có những tên tuổi kiệt xuất của làng “Thơ Mới” Việt Nam như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…; nhưng nhà phê bình Hoài Thanh lại đến với Huế trong một hoàn cảnh đặc biệt và có thể nói là rất tình cờ.

  • LÊ TRỌNG SÂM giới thiệuBà sinh ra và lớn lên ở Painpol và Saint-Malo, một đô thị cổ vùng Bretagne, miền đông bắc nước Pháp. Học trung cấp và tốt nghiệp cử nhân văn chương ở thành phố Nice, vùng xanh da trời miền nam nước Pháp. Là hội viên Hội nhà văn Pháp từ năm 1982, nay bà đã trở thành một trong số ít nhà văn Châu Âu đã tiếp thu và thâm nhập sâu sắc vào rất nhiều khía cạnh của văn hoá Việt Nam.

  • MAI VĂN HOAN giới thiệu Vĩnh Nguyên tên thật là Nguyễn Quang Vinh. Anh sinh năm 1942 (tuổi Nhâm Ngọ) ở Vĩnh Tuy, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Bố anh từng tu nghiệp ở Huế, ông vừa làm thầy trụ trì ở chùa vừa bốc thuốc chữa bệnh cho người nghèo. Thuở thiếu thời anh đã ảnh hưởng cái tính ngay thẳng và trung thực của ông cụ. Anh lại cầm tinh con ngựa nên suốt đời rong ruổi và “thẳng như ruột ngựa”.

  • LGT: Vài năm lại đây, sau độ lùi thời gian hơn 30 năm, giới nghiên cứu văn học cả nước đang xem xét, nhận thức, và đánh giá lại nền “Văn học miền Nam” (1954 - 1975) dưới chế độ cũ, như một bộ phận khăng khít của văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX với các mặt hạn chế và thành tựu của nó về nghệ thuật và tính nhân bản. Văn học của một giai đoạn, một thời kỳ nếu có giá trị thẩm mỹ nhân văn nhất định sẽ tồn tại lâu hơn bối cảnh xã hội và thời đại mà nó phản ánh, gắn bó, sản sinh. Trên tinh thần đó, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết vừa có tính chất hồi ức, vừa có tính chất nghiên cứu, một dạng của thể loại bút ký, hoặc tản văn về văn học của tác giả Nguyễn Đức Tùng, được gửi về từ Canada. Bài viết  dưới đây đậm chất chủ quan trong cảm nghiệm văn chương; nó phô bày cảm nghĩ, trải nghiệm, hồi ức của người viết, nhưng chính những điều đó làm nên sự thu hút của các trang viết và cả một quá khứ văn học như sống động dưới sự thể hiện của chính người trong cuộc. Những nhận định, liên hệ, so sánh, đánh giá trong bài viết này phản ánh lăng kính rất riêng của tác giả, dưới một góc nhìn tinh tế, cởi mở, mang tính đối thoại của anh. Đăng tải bài viết này chúng tôi mong muốn góp phần đa dạng hóa, đa chiều hóa các cách tiếp cận về văn học miền Nam. Rất mong nhận được các ý kiến phản hồi của bạn đọc. TCSH

  • MAI VĂN HOAN giới thiệuNăm 55 tuổi, Hồng Nhu từng nhiều đêm trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh gắn bó trọn hai mươi lăm năm với bao kỷ niệm vui buồn. Và cuối cùng anh đã quyết tâm trở về dù đã lường hết mọi khó khăn đang chờ phía trước. Nếu không có cái quyết định táo bạo đó, anh vẫn là nhà văn của những thiên truyện ngắn Thuyền đi trong mưa ngâu, Gió thổi chéo mặt hồ... từng được nhiều người mến mộ nhưng có lẽ sẽ không có một nhà văn đầm phá, một nhà thơ “ngẫu hứng” như bây giờ.

  • LÊ HỒNG SÂMTìm trong nỗi nhớ là câu chuyện của một thiếu phụ ba mươi tám tuổi, nhìn lại hai mươi năm đời mình, bắt đầu từ một ngày hè những năm tám mươi thế kỷ trước, rời sân bay Nội Bài để sang Matxcơva du học, cho đến một chiều đông đầu thế kỷ này, cũng tại sân bay ấy, sau mấy tuần về thăm quê hương, cô cùng các con trở lại Pháp, nơi gia đình nhỏ của mình định cư.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ     (Đọc “Cạn chén tình” - Tuyển tập truyện ngắn Mường Mán, NXB Trẻ, 2003)Với gần 40 năm cầm bút, với hơn hai chục tác phẩm văn xuôi, thơ và kịch bản phim, nhà văn Mường Mán là một tên tuổi đã quen thuộc với bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ. Có lẽ vì ấn tượng của một loạt truyện dài mà ngay từ tên sách (Lá tương tư, Một chút mưa thơm, Bâng khuâng như bướm, Tuần trăng mê hoặc, Khóc nữa đi sớm mai v...v...) khiến nhiều người gọi ông là nhà văn của tuổi học trò, trên trang sách của ông chỉ là những “Mùa thu tóc rối, Chiều vàng hoa cúc...”.

  • NGUYỄN VĂN HOATranh luận Văn Nghệ thế kỷ 20, do Nhà xuất bản lao động ấn hành. Nó có 2 tập: tập 1 có 1045 trang và tập 2 có 1195 trang, tổng cộng 2 tập có 2240 trang khổ 14,4 x 20,5cm. bìa cứng, bìa trang trí bằng tên các tờ báo, tạp chí có tư liệu tuyển trong bộ sách này.

  • VĨNH CAO - PHAN THANH HẢIVườn Thiệu Phương là một trong những Ngự uyển tiêu biểu của thời Nguyễn, từng được vua Thiệu Trị xếp là thắng cảnh thứ 2 trong 20 cảnh của đất Thần Kinh. Nhưng do những nguyên nhân lịch sử, khu vườn này đã bị triệt giải từ đầu thời vua Ðồng Khánh (1886-1889) và để trong tình trạng hoang phế mãi đến ngày nay. Trong những nỗ lực nhằm khắc phục các "không gian trắng" tại Tử Cấm Thành và phục hồi các khu vườn ngự của thời Nguyễn, từ giữa năm 2002, Trung tâm BTDTCÐ Huế đã phối hợp với Hội Nghệ thuật mới (Pháp) tổ chức một Hội thảo khoa học để bàn luận và tìm ra phương hướng cho việc xây dựng dự án phục hồi khu vườn này.

  • HỒNG DIỆUNhà thơ Cao Bá Quát (1809-1854) được người đời hơn một thế kỷ nay nể trọng, với cả hai tư cách: con người và văn chương. "Thần Siêu, thánh Quát", khó có lời khen tặng nào cao hơn dành cho ông và bạn thân của ông: Nguyễn Văn Siêu (1799-1872).

  • HÀ VĂN THỊNHI. Có lẽ trong nhiều chục năm gần đây của lịch sử thế giới, chưa có một nhà sử học nào cũng như chưa có một cuốn sách lịch sử nào lại phản ánh những gì vừa xẩy ra một cách mới mẻ và đầy ấn tượng như Bob Woodward (BW). Hơn nữa đó lại là lịch sử của cơ quan quyền lực cao nhất ở một cường quốc lớn nhất mọi thời đại; phản ánh về những sự kiện chấn động nhất, nghiêm trọng nhất đã diễn ra trong ba năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới: sự kiện ngày 11/9, cuộc chiến tranh Afganistan và một phần của cuộc chiến tranh Iraq.

  • ĐẶNG TIẾN     (Đọc Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp)Một tờ báo ở ngoài nước đã giới thiệu bốn cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp mới xuất bản. Dĩ nhiên là một bài báo không thể tóm lược được khoảng 1700 trang hồi ký viết cô đúc, nhưng cũng lảy ra được những đặc điểm, ý chính và trích dẫn dồi dào, giúp người đọc không có sách cũng gặt hái được vài khái niệm về tác phẩm.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO       (Đọc tập truyện ngắn “Trà thiếu phụ” của nhà văn Hồng Nhu – NXB Hội Nhà văn 2003)Tôi đã được đọc không ít truyện ngắn của nhà văn Hồng Nhu và hầu như mỗi tập truyện đều để lại trong tôi không ít ấn tượng. Trải dài theo những dòng văn mượt mà, viết theo lối tự sự của nhà văn Hồng Nhu là cuộc sống muôn màu với những tình cảm thân thương, nhiều khi là một nhận định đơn thuần trong cách sống. Nhà văn Hồng Nhu đi từ những sự việc, những đổi thay tinh tế quanh mình để tìm ra một lối viết, một phong cách thể hiện riêng biệt.

  • ĐỖ QUYÊN…Đọc thơ Bùi Giáng là thuốc thử về quan niệm thơ, về mỹ học thi ca. Đã và sẽ không ai sai nhiều lắm, cũng không ai đúng là bao, khi bình bàn về thơ họ Bùi. Nhắc về cái tuyệt đỉnh trong thơ Bùi Giáng, độ cao sâu tư tưởng ở trước tác Bùi Giáng nhiều bao nhiêu cũng thấy thiếu; mà chỉ ra những câu thơ dở, những bài thơ tệ, những đoạn văn chán trong chữ nghĩa Bùi Giáng bao nhiêu cũng bằng thừa…

  • LÊ THỊ HƯỜNGTrong căn phòng nhỏ đêm khuya, giai điệu bản sonat của Beethoven làm ta lặng người; một chiều mưa, lời nhạc Trịnh khiến lòng bâng khuâng; trong một quán nhỏ bên đường tình cờ những khúc nhạc một thời của Văn Cao vọng lại làm ta bất ngờ. Và cũng có thể giữa sóng sánh trăng nước Hương Giang, dìu dặt, ngọt ngào một làn điệu ca Huế khiến lòng xao xuyến.

  • NGÔ MINHĐến tập thơ chọn Giếng Tiên (*), nhà thơ - thầy giáo Mai Văn Hoan đã gửi đến bạn yêu thơ 5 tập thơ trữ tình, trong đó có hai tập thơ được tái bản. Đó là tập đầu tay Ảo ảnh, in năm 1988, tái bản 1995 và tập Hồi âm, in năm 1991, tái bản năm 2000. 15 năm xuất bản 7 đầu sách (2 tập tiểu luận) và đang có trong ngăn kéo vài tập bản thảo tiểu luận nữa, chứng tỏ sức sáng tạo sung mãn đáng nể trọng của một thầy giáo vừa dạy học vừa sáng tác văn chương.