Đoàn Thị Lam Luyến – người đơn phương phát động cuộc chiến tranh tình ái!

09:29 26/11/2008
THÁI DOÃN HIỂU Trong hôn nhân, đàn bà lấy chồng là để vào đời, còn đàn ông cưới vợ là để thoát ra khỏi cuộc đời. Hôn nhân tốt đẹp tạo nên hạnh phúc thiên đường, còn hôn nhân trắc trở, đổ vỡ, gia đình thành bãi chiến trường. Tình yêu chân chính thanh hóa những tâm hồn hư hỏng và tình yêu xấu làm hư hỏng những linh hồn trinh trắng.

Đoàn Thị Lam Luyến là nhân vật độc đáo nổi loạn tình yêu trong thơ!
Nàng là người đàn bà đẹp “da trắng mịn màng, mắt huyền thăm thẳm (Đặng Nguyệt Anh), đa tình nên nặng nợ đa đoan. Lam Luyến có cuộc đời lận đận, khát yêu, vồ vập yêu, dại yêu, xây hạnh phúc như “làm nhà trên lưng cá voi”. Nàng quyết liệt dữ dằn châm khói tuyên chiến với tình yêu!
Em đã đoạt anh từ tay người đàn bà kia
giống như người đàn bà kia đoạt anh từ tay người đàn bà khác
Bỗng chốc anh trở thành tư bản
Trong tay những kẻ chỉ yêu tiền!

Ghen như sôi và giận như điên
Người đàn bà vớt trái chín trên tay vừa bị lăn xuống đất

Ghen như sôi và yêu như điên
Người đàn bà với ước mơ chưa thành sự thật
Anh, dễ thương như cây và hiền lành như đất
Trong tay những kẻ chẳng yêu vườn!

Em đã đón anh về
 (Chiến tranh)
Hẩm hiu và bẽ bàng là cảnh giành giật người tình, nó xâu xé ngấu nghiến như diều hâu trước con mồi tươi rói. Thật là quyết liệt đến... đáo để! “Khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào” (Nguyễn Gia Thiều). Phụ nữ không biết e thẹn giống như cá tươi thiếu muối.

Một mình Lam Luyến táo gan phát động một cuộc “chiến tranh tình ái” Chiến tranh kết thúc, chiến bại thường thuộc về nàng. Thương tích đầy mình nhưng nàng vẫn lao lên quyết sống mái với tình yêu lần nữa, thêm một lần nữa..
Đoàn Thị Lam Luyến thường than thở cho tình duyên éo le của mình, thật ái ngại và tội nghiệp “Cơn mưa ảo ảnh – Vẫn ngoài xa khơi – Con tim hành khất – Tứ mùa nắng nôi” (Ảo ảnh). Phụ nữ thường yêu được người đàn ông mà họ lấy làm chồng hơn hơn là lấy được người đàn ông yêu họ. Tình yêu chứa trong mình nó tính đỏng đảnh như gió luôn đổi chiều. Nhiều cuộc tình tan vỡ phần lớn bởi cái lưỡi quá dài của người đàn bà. Hôn nhân giống hệt như cái kéo. Hai lưỡi kéo thép lạnh phối hợp với nhau chặt chẽ, chúng chuyển dịch về hai hướng ngược nhau và sẵn sàng cắt nát kẻ nào xen vào giữa.

Sau mỗi cuộc tình, Lam Luyến bình tĩnh như một luật sư trước tòa án của ái tình, cất lời tỉnh táo biện hộ khá dông dài cho chính mình. Lời lẽ rất hay, thấu lý đạt tình nhưng sự thật cuộc đời lại không phải vậy. Đối với Lam Luyến, khoảng cách từ người tình thứ nhất đến người tình thứ hai xa vời vợi hơn là khoảng cách từ người tình thứ nhất đến người tình thứ mười.
Có đâu như số trời đày
Phong trần cả mấy vạn ngày thế gian
Đa tình liền với đa đoan
Tơ duyên cứ nối lại càng đứt thêm.
(...)
Khởi điểm của vấn đề có lẽ bắt đầu từ luận điểm của Ănghen “Bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ”. Trong dân gian, người Việt chúng ta cũng thật dứt khoát về khoản này “Nhường cơm nhường áo, không ai nhường vợ nhường chồng”. Ghen có những cái lẽ công bằng và hợp lý của nó, ghen để gìn giữ bảo vệ cho ta cái thuộc về ta không thể bị kẻ khác tước đoạt. Thực chất nó là biến tướng của tính tư hữu.

Quá yêu sinh... ghen. Quá ghen sinh... sự! “ghen như sôi và yêu như điên”. Ghen tuông là thiếu tin tưởng và thiếu yêu quí đối với người ta yêu và cả với chính bản thân mình. Nó hàm hồ xúc phạm thái quá người được yêu và là nguồn gốc của mọi dày vò, đau khổ cho người đang yêu, “làm cho bể ái khi đầy khi vơi” (Kiều). Ghen tuông thiếu hẳn đi phẩm tiết tín nghĩa. Tình yêu của người ghen giống như lòng hận thù chứ không phải là tình yêu. Trong những cơn điên loạn, độc tài là hình thức hoàn chỉnh của ghen tuông. Nó biến tổ ấm uyên ương thành địa ngục. Ghen là hành vi đáng khinh vì kẻ ghen thật sự không yêu nhau và có quan điểm xấu về bản thân ở cả hai phía. Ghen tuông chứa nhiều tự ái hơn là tình ái. Yêu đương và hận thù luôn đặt tấm màn che trước mặt làm cho người ghen khi ghen bao giờ cũng nhìn sự vật qua kính phóng đại: kiến thành voi, thấp hóa cao, thằng lùn thành gã lêu đêu, trắng ra đen, tốt hóa xấu..., cứ thế, nỗi hoài nghi chóng vánh hiện hình thành sự thật hiển nhiên. Đa nghi dẫn đường cho phản bội. Tình yêu tìm hoa hồng, ghen tuông đâm sầm vào bụi gai vằng lồ. Ghen tuông là bản tính cố hữu của người đàn bà. Đàn bà là giống si tình, đàn ông là phường bội bạc. Yêu thương nhiều thù oán nặng. Yêu nhau lắm cắn nhau đau. Yêu đương nếu ẩu tả thì danh dự tiêu ma. Trong tình yêu, con người vướng phải nhiều sai lầm nhưng ghen tuông khiến ta phạm phải nhiều lầm lỗi tai quái, lố bịch nhất.

Ai yêu thật sự người đó không ghen. Tình yêu là lòng tin, nó là nền tảng tạo nên sự bền vững của tình yêu. Khi ghen chính là lúc ta yêu. Người chưa biết ghen là chưa biết yêu. Kẻ tầm thường ghen vì sợ bị cướp mất người yêu, còn người cao thượng ghen vì sợ vật báu của mình bị vấy bẩn.
Ái tình ngự trị không có luật. Nếu thần yêu cứ từ tốn và điều độ tiến tới thì trên đời không có gì tốt đẹp hơn. Người Anh bảo “Love is blind, as well as hatred” (Tình yêu vốn mù quáng). Vâng, đó là tên hướng đạo sinh mù quáng. Mọi người đang yêu đều có cặp mắt quáng gà. Coi chừng, theo nó dễ lạc đường như chơi.

Tình yêu đã túm lấy nàng thơ tàn bạo bẻ vụn ra mà Lam Luyến cứ phải dằn lòng yêu trở lại. Lam Luyến rơi vào khoảng trống cô độc khủng khiếp. Cô đơn nằm kẹt giữa âm ty cõi người.
Khi thôi yêu tự chia ta thành bóng
Sống vật vờ hai nửa ở hai nơi
Bóng từ mình, một mảnh vỡ ra thôi
Nhưng từ bóng không trở về ta nữa
Và đơn côi chiếc bóng mãi trên đời.
(...)
Nàng thiệt thà mà tường trình lại cái cơn dại dột của lòng mình:
Nước thì gần đất thì xa
Xui tôi làm nhà trên lưng cá voi
Cầu giời cho cá đừng bơi
Tháng ngày, một chốn đôi nơi, mong chờ...

Một lần tôi thử đùa chơi
Que diêm đốt cháy một mồi lửa rơm
Cá vùng xuống đáy đại dương
Bỏ tôi trong mảnh ván thuyền trong tay
 (Trên lưng cá voi)
Nàng tự nhún mình:
Em đam mê đến độ hững hờ
Anh chầm chậm như là yêu thật vậy
Nhưng em biết, em chỉ là trang giấy
Lúc mềm lòng cho anh vẽ vu vơ.
 (...)
Nàng hạ cố đến mất cả nữ tính:
Tình yêu một mất mười ngờ
Khiến cho biển cứ khuất bờ trong nhau
Chị thản nhiên mối tình đầu
Thản nhiên em nhặt bã trầu về têm
 (Chồng chị chồng em)
Nàng nghi kỵ, dò xét:
Sao không phải là anh
mà lại là ngọn gió
mà lại là tia nắng
thiêu má em cháy đỏ
... mà lại là người đó
đứng chờ ai ngoài ngõ...
sao không phải là anh?

Nàng khắc khoải nhớ thương da diết trong ước vọng sinh thành:
Đợi bạn từ hoa sữa
Bây giờ thơm hoa cau.
(...)
Nhớ thành cây cho đất
Thương-thành hoa cho đời.
(...)
Nàng chầm vập yêu và oán trách:
Gửi tình yêu vào đất
Được hoa trái đầy cành
Gửi lên trời cao rộng
Sẽ được ngọn sóng xanh

Ta muốn ôm cả đất
Ta muốn ôm cả trời
Mà sao không yêu trọn
Trái tim một con người
 (Gửi tình yêu)
Nàng phấp phỏng chờ đợi, nôn nao hy vọng:
Dở dang quá nửa cuộc đời
Bỗng dưng mọc một mặt trời trong nhau.
 (...)
Khó khăn tột cùng, nỗ lực vô ích cuối cùng:
Que diêm mảnh cứ châm bờ rạ ướt
Khói lửa nào đắng đót trái tim côi
 (Châm khói)
Nàng buông xuôi tay tuyệt vọng:
Đêm dài như xác pháo
Xé tan tuổi đôi mươi
Chưa tiêu gì ra món
Đã hết veo cuộc đời.
 (Đêm trắng)
Nàng tự an ủi, xoa dịu vết thương lòng của mình:
Giá được một chén say mà ngủ suốt triệu năm
Khi tỉnh dậy, anh đã chia tay với người con gái ấy
Giá được anh hẹn hò dù phải chờ lâu đến mấy
Em sẽ chờ như thể một tình yêu...
Như lúa đợi sấm tháng ba
Như hạt cải đơm hoa, đợi ngày chia cánh bướm
Như cô Tấm thương chồng từ kiếp trước
Lộn lại kiếp này từ quả thị nhận ra nhau.
 (Huyền thoại)
Nàng hướng tới hạnh phúc lứa đôi nhỏ nhoi của riêng mình giữa đời thường:
Cải nở vàng đêm những sao trời
Trăng liềm chúc xuống mãi không rơi
Em không cười nói vu vơ nữa
Áo đẹp song đôi với mọi người
(Một ngày thu)
Hoàn toàn không phải là tình thế, yêu và ghen với Đoàn Thị Lam Luyến có lúc nghiêng về lòng tự ty, có lúc ngang ngạnh đứng ở vị trí tự đại của nhục thể. Ghen tuông trong thơ Lam Luyến là tai vạ của ái tình và là nguyên cớ khởi đầu của những bài thơ thất tình có tầm cỡ trong lịch sử thơ ca Việt .

Yêu và điên, ngọt ngào và cay đắng là nỗi thống khổ dã man đày đọa kiếp người. Nó là thứ trò chơi buồn bã đối với kẻ yếu bóng vía nhưng là thứ rượu mạnh đối với những tâm hồn khỏe khoắn. Lam Luyến có những cơn điên, triền miên điên. Lấy Vân dại làm hình tượng hóa thân, lấy tâm sự nàng Kiều làm niềm an ủi, Đoàn Thị Lam Luyến đã đi đến tận cùng của khổ ải giữa địa ngục của tình yêu. Xiềng xích hôn nhân nặng đến mức cả ba người è cổ ra khiêng. Yêu đương quả là cuộc ký kết hợp đồng với đau khổ. Trong những mối tình tuyệt vọng, có khi kẻ gieo sầu chuốc thảm vô tình như không hay biết gì cả. Các quý bà có một điểm chung phổ biến: không muốn kẻ khác hưởng lợi ở cái mình đã chối bỏ. Đàn bà làm ác dễ hơn làm lành. Thường thì tình bạn đưa đến tình yêu nhưng hiếm khi tình yêu biến thành tình bạn.
Có người thả bóng, buông câu.
Làm cho gãy nốt nhịp cầu quá giang
Đa tình liền với đa đoan
Tơ duyên đã nối lại càng đứt thêm.
 (Không đề)

Giữa cơn khủng hoảng tình yêu, trong cảnh ông ăn chả bà ăn nem, Eva ăn thì Adam cũng nếm, phụ nữ phải luôn luôn là một nghệ sĩ. Nếu là nghệ sĩ tồi nàng sẽ bại trận. Thượng đế tạo ra phụ nữ là để được yêu chứ không phải là cái bồ để đàn ông thải rác tình.
Đức hạnh thì nông nổi, cái giận thì không đáy, lòng dạ nàng cũng chóng thay da lột xác. Lam Luyến đã rên xiết, đã lỗi lầm đôi phen, đã ngất ngây tận hưởng những phút giây hoan lạc do tình yêu đem đến. “Khi yêu nhau hai ta như là một - Ta với mình đâu dễ xẻ làm đôi”. Căn bản nàng đã được yêu! Và thế là đã đủ mãn nguyện cho thi nhân khi phải làm người ở giữa thế gian cằn cỗi này! Nàng thẳng thừng tuyên bố:
Thì cứ say, cho xa đừng phải nhớ
Thì cứ điên, cho đổ vỡ đừng buồn
Vân cứ dại thêm một nghìn năm nữa
Cho ngày mai đôi lứa dịu dàng hơn
Điên để trắng và đen không đảo ngược
Điên để tình và hận mãi song đôi.
(Vân dại)
Người đàn ông có thể ngồi xổm trên dư luận, nhưng người đàn bà phải chiều theo dư luận. Khóc lóc buồn bực, hờn dỗi khi nghĩ tới sự bất hạnh đã qua, Lam Luyến sẵn sàng phơi gan ruột ra ngoài để phản bác và chiêu tuyết cho mình:
Em như vạt cháy rừng quanh năm đòi cứu hỏa
Như con lũ sông Hồng chỉ chực vỡ đê
Nếu hạnh phúc không thể là vĩnh viễn
Điên cũng cần cho xứng với đam mê.
 (Gọi Thúy Kiều)
Luôn hướng khát vọng về một thế giới hoàn mỹ, Đoàn Thị Lam Luyến đã khước từ mọi cái xấu, cái tầm thường, vươn lên luyện cho trái tim cứng cáp và nhạy cảm phô bày tất cả cái tốt đẹp lẫn cái phù phiếm. Lam Luyến yêu ghét không bao giờ lừng chừng, mạnh bạo, cả quyết đến liều lĩnh bản năng. Với nàng, chưa yêu là chưa sống. “Con tim em hạn hán - Tình anh là mưa bay”. Cứ thế, Lam Luyến lặng lẽ nhả hương trong bóng tối đời mình. Chính Lam Luyến đã tự diễu:
Làng thơ có chị Đoàn Lam
Tình dọc thì ít, tình ngang thì nhiều
Mới gặp cứ tưởng dễ yêu
Xem trong âu yếm có chiều chông gai...

Đàn bà như Lam Luyến quả thông minh hơn đàn ông, ít ra là nàng cũng đã biết dùng trí của mình mê hoặc để đàn ông không nhận ra điều đó. Ở đời, “gái dở một dành, gái lành một sọt” (Tục ngữ Việt ). Thiên hạ có quyền nghi ngờ đàn bà kể cả những người đàn bà hoàn hảo, đức hạnh. Mặc, họ có thể phán xét xem đàn bà tự do không phải là đàn bà. Từ một thiếu nữ vàng, biến thành một thiếu nữ phụ chì, Đoàn Thị Lam Luyến cảm rồi yêu, đau khổ rồi hy sinh, lại nhoai người lên phấn đấu, khẳng định... “Em muốn hồng nhan không bạc phận”. Đó là những đề tài bất tận mà Lam Luyến đã dệt nên những trang đời, trang thơ đặc sắc của một kỳ nữ không gặp may trên đường tình ái, cái mà Nguyễn Ngọc Oánh bảo là “Cầu duyên bắc vụng cho tình trượt chân” là thế. Trong hào quang của tình yêu cay đắng, Lam Luyến mới bộc lộ hết được toàn vẹn vẻ đẹp chân thật từ trái tim nổi dậy đầy bản lĩnh của mình. Sự nổi loạn cá tính là điều chủ yếu cho sự hình thành và tồn tại của một cây bút.
 (Rút trong bộ THI NHÂN VIỆT HIỆN ĐẠI)
T.D.H

(nguồn: TCSH số 205 - 03 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.

  • TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.

  • HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNG                 Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.

  • ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.

  • LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.

  • NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.

  • AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.

  • TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!

  • PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

  • THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm.                                VẠN HẠNH Thiền sư

  • HỒ THẾ HÀ  Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique  expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.

  • LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết:              Đào tiên đã bén tay phàm              Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?

  • CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.

  • PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.

  • HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.

  • BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.

  • NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.