Định ngữ “Hạnh” ở “Đèn hạnh” trong ca dao

15:06 10/11/2009
TRIỀU NGUYÊNCó một số bài ca dao dùng hình ảnh "đèn hạnh", xin dẫn ra dưới đây ít bài:(1)           Đêm khuya đèn hạnh thắp lên,                Vì chưng thương nhớ cho nên đi tìm.

(2)        Cậy cùng đèn hạnh tim lê,
            Mực mài nước mắt, thơ đề chéo khăn.


(3)        Em nghe tin anh dóng dả ra về,
            Tay em khêu cây đèn hạnh, tay em đề câu thơ.

(4)        Hát lên ta nhởi ta chơi,
            Mấy khi đèn hạnh soi nơi quyển vàng.


(5)        Chàng ở bạc chớ thiếp không bạc,
            Bởi con dao vàng sút ngạc, nên đèn hạnh lu li;
            Chờ chàng ba bốn năm ni,
            Trông không thấy bóng, thiếp phải đi lấy chồng.


Bài (1), (3) và (4) từ hát phường vải Nghệ Tĩnh; bài (5) thuộc ca dao Bình Trị Thiên; còn bài (2) chép lại từ hai bộ sưu tập ca dao trên phạm vi toàn quốc, không ghi xuất xứ địa phương.

Theo Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao (Ca dao Nghệ Tĩnh, Sở Văn hóa và Thông tin Nghệ Tĩnh, 1984, tr. 419), thì "đèn hạnh" là "loại đèn lồng; tán bằng giấy trắng, ngày xưa thường dùng nơi bàn học". Và như vậy, thì nói đèn hạnh" không khác khi nói về "đèn bão", "đèn hiệu", "đèn pha", "đèn xếp",..., vì chúng đều có ý nghĩa biểu vật rõ ràng.

Nhưng cho dù có một loại "đèn hạnh" như đã miêu tả, thì nó vẫn không thỏa đáng về nghĩa, khi xem xét các bài ca dao cụ thể. Chẳng hạn, với bài (2), do sự tương ứng về nghĩa với "tim (bấc) lê", mà "hạnh" trong "đèn hạnh" có nét nghĩa quả hạnh (quả mận); và với bài (4), thì chuyện "thường dùng nơi bàn học" của "đèn hạnh" bị phủ định. Như vậy, "đèn hạnh" có thể đã khoác một ý nghĩa hàm chỉ, đối lập với ý nghĩa tiểu vật đã nêu. Một ý nghĩa như vậy thường được tìm thấy không phải ở chủng loại sự vật ở cấp độ cao, mà ở chủng loại sự vật ở cấp độ thấp, xét về mặt cấu trúc; cụ thể ở đây, không phải "đèn" mà là "đèn hạnh", với định ngữ "hạnh" trong các kết hợp tương tự.

Các kết hợp này có thể tìm thấy trong ca dao qua một số dạng sau:
            +          Gió đưa buồm hạnh rảnh rang,
                        Tiếng nhơ thiếp chịu, để chàng danh thơm.

            +          Tới đây phân rẽ đôi đường,
                        Đó lui buồng hạnh, cố hương đây về.

            +          Đèn chong phòng hạnh biếng xem,
                        Phải chi trời định anh với em vợ chồng.
           
            +          Hai trái ổ qua đặt trên bàn hạnh,
                        Em nghiêng ve ngọc, anh chuốc chén rượu đào
                        Để người quân tử chí cao,
                        Đủ mùi tanh ngọt, thiếp mới trao ân tình.
           
            +          Em có chồng rồi, bớt ngọn tóc mai,
                        Bớt cái khăn chéo hạnh, kẻo trai tơ lầm.
                        - Trai lầm, trai phải mang gông,
                        Cái khăn chéo hạnh của chồng em cho.

            +          ... Nhắn nhe vườn hạnh
                        Ngồi đợi chim xanh
                        Khéo đưa tình
                        Đưa lại cho ta...
(Mảnh trăng thề, Ca Huế)

Không có sự phân biệt về loại giữa buồm hạnh, buồng hạnh, phòng hạnh, bàn hạnh, khăn chéo hạnhvườn hạnh với các loại buồm, buồng, phòng, bàn, khăn chéo và vườn; nhưng có thể xác định chúng là vật thuộc quyền sở hữu của phụ nữ, và thuộc vào các ngữ cảnh nói về sự hi sinh, khôn khéo hay chung thủy, đợi chờ. Qua đó, có thể nhận ra ý nghĩa chung của định ngữ "hạnh", là "nết tốt của người phụ nữ".

Trở lại với "đèn hạnh" ở nét nghĩa vừa nêu của "hạnh", chúng ta có được một hình ảnh vừa cụ thể (đèn thắp sáng) vừa biểu trưng (tiết hạnh, phẩm chất của người phụ nữ). Do tính chất phát sáng và hình dáng trắng tròn của cây đèn hạnh trong thực tiễn, mà nó gợi nên sự liên tưởng về thân phận của người phụ nữ ở mặt phẩm tiết.(1) Quá trình tạo nghĩa ẩn dụ (mang tính biểu trưng) này, đồng thời cũng là quá trình biến đổi nghĩa của định ngữ "hạnh", từ địa hạt hình vóc (rất có thể là quả hạnh) đến lĩnh vực tinh thần (là phẩm hạnh). Nét nghĩa này của "đèn hạnh" tỏ ra thỏa đáng với năm bài ca dao đã dẫn, cả trường hợp của truyện thơ dân gian Mã Phụng Xuân Hương, ở lời thư của bà Phó gửi cho chồng: "Biết bao giờ có sớ triệu hồi; kẻo thiếp chịu mồ côi đèn hạnh?".

Một vấn đề nữa, thiết nghĩ, cũng nên đặt ra ở đây, là những bài ca dao có dùng hình ảnh "đèn hạnh", hầu hết thuộc Nghệ Tĩnh - Bình Trị Thiên; còn số những bài ca dao dùng "buồm hạnh", "buồng hạnh", "phòng hạnh"... vừa dẫn, lại có xuất xứ từ Bình Trị Thiên đến Nam Bộ. Điều này cho phép nhận xét: 1. Sự nhân rộng định ngữ "hạnh" trong các kiểu kết hợp cho thấy sự nhạy cảm về vấn đề, ở các địa bàn là chủ nhân của chúng; và 2. Sự hình thành một ẩn dụ mang tính biểu trưng (biểu tượng), đòi hỏi hình ảnh làm nền (cái biểu đạt) phải có những thuộc tính bền vững và tạo được các liên tưởng tương ứng, điều này ca dao có lúc phải tốn cả thế kỉ mới tạo dựng xong, mà "đèn hạnh", xét về mặt chất lượng, không gian và thời gian sáng tác, lưu truyền và diễn xướng, tỏ ra đáp ứng được.

Nếu xem "hạnh" là chất lửa thì sự phát sáng của nó chỉ "bền bỉ" hơn, "kín đáo" hơn, "được quý trọng" hơn và cả "trí tuệ" hơn, khi nó đến được với "đèn" và trở thành "đèn hạnh". Tập hợp những cái "hơn" này là nội hàm của "đèn hạnh". Đó chính là cái phẩm tiết của người phụ nữ đã nói.

T.N
(128/10-99)


-------------------------------------------------
(1) Trong ca dao, đã có một sự liên tưởng tương tự, là hình ảnh "lập bồn" (xem Triều Nguyên 1995. "Lập bồn, lập vườn với nghĩa ẩn dụ mang tính ước lệ trong ca dao xứ Huế" - Tập nghiên cứu Văn hóa dân gian Thừa Thiên Huế 12-95, tr. 55-58); và cũng có một sự liên tưởng gần gũi khác, là hình ảnh "bánh trôi nước" của Hồ Xuân Hương (Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non; Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, Mà em vẫn giữ tấm lòng son.)



 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN DƯ

    Mấy tuần nay ngày nào cũng nghe người lớn bàn đại sự. Cứu nền kinh tế. Tạo công ăn việc làm. Nhiều giải pháp được đưa ra. Cái nào cũng hay, cũng được kèm theo… nếu, miễn là… Nghe mãi đâm ra bực mình, khó chịu. May quá! Được Ngô Quý Sơn kéo đi xem trẻ con chơi đùa(1).

  • NGUYỄN DƯ

    Nhân lúc rảnh rỗi, mời các bạn cùng đọc truyện Trầu cau. Bàn chơi cho vui.

  • TRỊNH SÂM

    Trải qua biết bao thời đại, mèo đã trở thành con vật quen thuộc trong mỗi gia đình Việt Nam.

  • NGUYỄN ĐỨC DƯƠNG

    Làm thế nào để biết một biểu thức ngôn từ [BTNT] do dân gian sáng tác ra là một đơn vị tục ngữ? Chứ không phải là thành ngữ hay ca dao? Mục đích chính của bài này là đi tìm một câu trả lời thỏa đáng cho mấy câu hỏi vừa nêu.

  • NGUYỄN ĐỨC DÂN Có một giai thoại về Nguyễn Khuyến như sau: Làng Cổ Ngựa có ngôi đền thờ thánh mẫu thu hút khá nhiều người đến lễ bái. Nhằm kiếm chác đám người mê tín, hào lý trong làng xuất quỹ xây lại đền to hơn, đẹp hơn.

  • Mai Văn Tấn tên thật là Mai Văn Kế. Sinh ngày 12-9-1931 tại Lệ Ninh Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

  • THANH TRẮC NGUYỄN VĂN1. Tiểu Hổ gặp họa

  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONGTừ trước đến nay, không có lễ tục nào được nhắc đến nhiều trong truyện cổ của người Pacô bằng tục Pộôc xu (Đi sim), đây là một nét văn hóa truyền thống từ xưa của người Pacô. Mặc dầu đến nay do lối sống hiện đại nên nhiều nét văn hóa truyền thống mất đi, song không vì thế mà chúng ta quên nó. Đâu đó trong cuộc sống cộng đồng của người Pacô ngày nay vẫn còn nhiều câu chuyện kể về tục này. Nhân dịp xuân về xin được nêu ra đây nét đẹp trong lễ tục quan trọng đó.

  • L.T.S: Dân tộc Kơ-tu là một trong bốn dân tộc sống ở tỉnh Bình Trị Thiên, tập trung ở vùng Nam Đông, huyện Phú Lộc. Trước đây dân tộc Kơ-tu đã sát cánh cùng các lực lượng giải phóng tiến hành cuộc đấu tranh anh dũng chống lại bè lũ Mỹ ngụy. Ngày nay, dân tộc Kơ-tu đang vững bước đi lên trong công cuộc lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Cũng như các dân tộc khác, người Kơ-tu không chỉ anh dũng trong chiến đấu, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất mà còn có một nền văn nghệ dân gian rất phong phú và độc đáo. Bài viết sau đây là một nét phác họa trong chương trình giới thiệu nền văn học dân gian các dân tộc ít người ở tỉnh Bình Trị Thiên của chúng tôi.

  • VĨNH QUYỀNTừ lâu điều kiện thiên nhiên cũng như điều kiện xã hội đều thuận lợi cho mối quan hệ giữa hai dòng thơ ca dân gian Bình Trị Thiên và Quảng Nam.

  • NGUYỄN TIẾN VĂNMột trong những câu ca dao rất thông dụng phổ biến nhưng không phải là đơn giản và dễ nắm bắt nội dung: “Không chồng mà chửa mới ngoan/ Có chồng mà chửa thế gian sự thường”. Ở đây mắt của câu này là chữ ngoan. Vậy ngoan là gì?

  • VĨNH QUYỀNMười hai con giáp, chuột đứng hàng đầu. Kể cũng lạ?Hình dạng bé nhỏ xấu xí, phẩm cách hèn hạ đáng khinh, thế mà chuột được người xưa xếp trước cả những con vật uy mãnh như hổ, linh hiển như rồng. Đã thế, năm Tý – với biểu tượng con chuột, còn là năm đầu của một kỷ, chu kỳ 60 năm.

  • LƯƠNG ANCũng như nhiều vùng khác trên đất nước Việt Nam, ở Bình Trị Thiên chúng ta, các danh lam hoặc các ngọn núi cao, các dòng sông lớn thường có một truyền thuyết dân gian dính với nguồn gốc của nó. Sông Thạch Hãn, con sông lớn nhất vùng Quảng Trị cũ, cũng vậy.

  • TRIỀU NGUYÊN1. Khái quátSở dĩ người nghe (đọc) truyện cười phát ra được tiếng cười, bởi vì lí trí, tình cảm của họ gặp phải điều không bình thường: thay vì họ tưởng cuối cùng nhân vật sẽ nói, sẽ làm điều “A”, thì hoá ra nhân vật đã nói, làm điều “B”, thậm chí “không A”. Tức trí tuệ, cảm xúc đã không lường trước, đã bị đánh lạc hướng trước đối tượng đang quan tâm. Và thông thường, càng lạ lẫm, bất ngờ, tiếng cười càng sảng khoái, thú vị.

  • VĂN NHĨĐường Trường Sơn huyền thoại đã đi vào sử thi như một bản anh hùng ca của thời đại Hồ Chí Minh. Nhiều bài thơ, bài hát viết về Trường Sơn đã vượt qua biên độ của thời gian mãi mãi rung động lòng người.

  • LAN PHƯƠNGKho tàng âm nhạc dân gian của dân tộc Thái vùng Tây Bắc rất phong phú và đa dạng. Bất cứ nơi đâu trong bản làng của người Thái đều có thể thấy có các làn điệu dân ca thể hiện rõ phong cách riêng của mỗi vùng mà nguyên nhân do sự truyền lại cho các thế hệ theo cách cảm thụ và rung động riêng của mỗi nghệ nhân. Trong đó không thể thiếu tiếng cây đàn tính tẩu.

  • TRIỀU NGUYÊN1. Một bộ phận truyện cổ tích sinh hoạt có yếu tố tạo ra tiếng cười đã bị nhầm lẫn là truyện cười. Sự nhầm lẫn này đã xảy ra ngay cả với những sách sưu tập được cho là nghiêm túc.

  • TRIỀU NGUYÊN Trong những dịp cúng lễ, lễ lạt, hiếu hỉ, và đặc biệt là vào dịp Tết, rượu thường được nhắc đến, và có khi trở thành quan trọng hàng đầu: "Vô tửu bất thành lễ".

  • PHAN XUÂN QUANGĐồng Tranh là một làng nổi tiếng trù phú một thời ở Quảng Nam. Làng này hiện còn lưu truyền một câu đối cổ có liên quan đến làng Gia Hội, Huế:Văn Đồng Tranh, võ Đồng Tranh, văn võ Đồng Tranh long hổ bảngQuân Gia Hội, thần Gia Hội, quân thần Gia Hội phụng hoàng trì.Câu đối này còn một số dị Bản, có khác một đôi chữ nhưng câu trên đây theo nhiều người là chính nhất và phổ biến hơn cả.