Diễn tấu đàn bầu trong dàn nhạc múa và tuồng cung đình Huế

07:54 17/07/2014

HOÀNG TRỌNG CƯƠNG 

Trong một số tài liệu về âm nhạc cung đình của những tác giả tiền bối, cây đàn bầu Việt Nam đã được dự đoán về niên đại ra đời của nó, về sự thăng trầm song hành cùng với chiều dài lịch sử dân tộc.

Và cũng như nhiều tác giả khác, nhà nghiên cứu Phạm Phúc Minh trong công trình nghiên cứu Cây đàn bu, nhng âm thanh k diu đã dày công nghiên cứu với những lập luận mang tính tương đối để có bằng chứng cụ thể khẳng định một cách đúng đắn sự có mặt hay không của cây đàn bầu trong dàn nhạc cung đình Huế vẫn là vấn đề đang nằm trong dự đoán. Tuy nhiên, dù có hay không việc cây dàn bầu được sử dụng trong dàn nhạc cung đình, thì việc trong gần 10 năm vừa qua Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế thử nghiệm đàn bầu diễn tấu trong dàn nhạc múa và tuồng cung đình Huế cũng đã đem đến một sắc thái mới đối với nghệ thuật truyền thống của một vùng đất Cố đô.

Sự ra đời và phát triển của đàn bầu

Cây đàn bầu là nhạc cụ một dây độc đáo, đặc trưng của Việt Nam; vẫn biết đàn bầu ra đời rất lâu nhưng chưa thấy tài liệu nào ghi rõ thời gian ra đời của nó. Từ những truyền thuyết “cây đàn bầu của Thị Phương”, “cây đàn một dây của ông Thiện”, “Cái trống đất trên đường tiến quân của Nguyễn Huệ” hay “Ông tổ của nghề hát Xẩm với cây đàn bầu”… Cho đến những nhận định của các nhà nghiên cứu âm nhạc thì sự ra đời của đàn bầu lại có những thời gian khác nhau:

- “Đàn bầu nguồn gốc ở Bắc Kỳ, mãi đến năm Thành Thái thứ 8 (1896) mới được đưa vào Kinh thành Huế do một gánh hát Xẩm” (Hoàng Yến: La musique à Huế. Bulletin des Amis du Vieux Huế, số 3, 1919).

- G. Cordier đã viết trong nghiên cứu về văn học Việt Nam: “Đàn bầu nguồn gốc từ Bắc Kỳ và rất có thể đã ra đời cùng với chiếc Khèn, một nhạc cụ cổ truyền đã có từ lâu đời ở Việt Nam” (G. Cordier: Étude sur la littérature annamite, Imprimerie Trung Bc, Hà Nội,1940)

- “Cây đàn bầu ra đời vào khoảng thế kỷ IX - X” (Phạm Phúc Minh: Cây đàn bu nhng âm thanh k diu)…

Cho dù khác nhau về thời gian ra đời nhưng điểm chung nhất là đàn bầu đã có từ xa xưa; trải qua bao thăng trầm và những biến động của lịch sử, đàn bầu từ những buổi sơ khai mới hình thành đã gắn bó với người hát xẩm, với người dân lao động, nay đàn bầu đã có vị trí trong các dàn nhạc truyền thống của nhiều đơn vị nghệ thuật trên toàn quốc; hơn thế nữa, đàn bầu đã vươn ra với với thế giới, có mặt trên những sân khấu lớn để khẳng định vị thế quan trọng của một nhạc cụ truyền thống Việt Nam.

Vì sao đàn bầu không có trong dàn Nhã nhạc cung đình, thử đi tìm một số nguyên nhân?

Nhà vua được sùng thượng ngang với trời đất, thánh thần, nên âm nhạc dùng trong lễ tế cũng có thể diễn tấu trong yến tiệc cung đình để vua giải trí. Do đó, triều đình đặt ra các tổ chức âm nhạc chủ yếu để phục vụ lễ nghi, cúng tế. Và những nhạc cụ lưu hành trong cung phải có âm thanh uy nghi, hùng dũng, trang trọng, tạo không khí linh thiêng, trang nghiêm trong buổi lễ. Có lẽ chính vì điều này nên đàn bầu - một nhạc cụ quốc hồn, quốc túy được chúng ta quý trọng, nhưng dưới triều Nguyễn nó bị xem là cây đàn có âm dung tục, ngâm ngợi, ẻo lả nên tuyệt đối không được đưa vào dàn nhạc cung đình. Bên cạnh đó, triều đình nhà Nguyễn bấy giờ không xem trọng các dân tộc thiểu số sống trên dải đất Việt Nam, nên nghệ thuật âm nhạc của họ cũng ít được triều đình chú ý đến. Các nhạc cụ độc đáo của các dân tộc Tây Nguyên, Tây Bắc, Trung du Bắc bộ… đều không được đưa vào dàn nhạc cung đình Nguyễn.

Ngoài ra, do hoàn cảnh lịch sử nước ta bị Bắc thuộc hơn một ngàn năm và bị những cuộc xâm lấn liên tục của phong kiến Trung Hoa nên văn hóa nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng ở nước ta chịu ảnh hưởng của Trung Hoa khá sâu đậm. Âm nhạc cung đình Huế chủ yếu dựa trên cơ chế tổ chức âm nhạc triều Lê. Dàn nhạc cung đình Lê lại phỏng theo dàn nhạc nhà Minh, Trung Quốc. Sách Kiến văn tiu lc của Lê Quý Đôn có ghi: “Sau đó Lương Đăng dâng nhã nhạc mới, sáng tác theo quy chế nhạc nhà Minh. Về nhạc dùng trên triều đường thì có tám âm: Trống lớn, bộ phận khánh và bộ phận chuông, đàn cầm và đàn sắt, sinh và dung, quản và thực, chúc và ngữ, huyên và tri; về nhạc dùng dưới triều đường thì có phương hưởng, không hầu, đàn tỳ bà, quản cổ và quản địch”. Sự sao chép một cách thụ động dàn nhạc nhà Minh, Trung Hoa đã làm giảm thiểu một cách đáng tiếc tính dân tộc trong dàn nhạc cung đình nhà Lê, và sự đáng tiếc này đã kéo dài đến triều Nguyễn. Cũng có thể cây đàn bầu Việt Nam không được đưa vào dàn nhạc cung đình Nguyễn ngoài lý do quan niệm phong kiến bấy giờ cho rằng đàn bầu có âm thanh dung tục còn có lý do vì dàn nhạc triều Minh không hề có đàn bầu.

Với hai quan niệm nêu trên, quan niệm nào có tính khoa học và thuyết phục nhất? Nếu theo quan niệm phong kiến: Cho rằng đàn bầu là đàn của người nghèo, đàn của tầng lớp hạ lưu, hay đàn của người hát Xẩm… Có lẽ do quan niệm xem thường những nhạc cụ xuất thân từ ngoài dân gian của các tầng lớp quý tộc; hơn nữa vào những buổi sơ khai khi đàn bầu mới ra đời còn đơn sơ, hình thức không được bắt mắt, làm bằng chất liệu đơn giản (tre và quả bầu khô), chưa có thể đứng cạnh với những nhạc cụ du nhập từ các nước lân cận; một mặt người chơi đàn bầu là những người dân nghèo, trình độ kỹ thuật sử dụng nhạc cụ mới này chưa phát triển, một mặt sử dụng đàn bầu như một nhạc cụ để kiếm sống nên các triều đại trước đây còn gọi tên là “đàn Xẩm” với ý miệt thị. Cũng có lẽ, do quan niệm của xã hội phong kiến thì những người làm nghề ca hát bị “coi như một tầng lớp thấp kém trong xã hội”.

Như vậy, những nhạc cụ sử dụng trong dàn cung đình thời bấy giờ là những nhạc cụ gì? Chúng ta hãy xem xét quan niệm thứ hai: Sau sự kiện Lương Đăng sao chép một cách thụ động dàn nhạc nhà Minh, Trung Hoa đã làm giảm thiểu một cách đáng tiếc tính dân tộc trong dàn nhạc cung đình nhà Lê. Và sự đáng tiếc này đã kéo dài đến triều Nguyễn. Đặt giả sử nếu Lương Đăng không sao chép dàn nhạc nhà Minh mà xem xét tính dân tộc là trên hết thì liệu đàn bầu có được diễn tấu cùng dàn nhạc cung đình không, bởi lẽ đàn bầu là nhạc cụ của chính dân tộc Việt Nam? Xét hai quan niệm, yếu tố ngoại lai vẫn còn đặt nặng trong định chế dàn nhạc cũng như trong việc xây dựng các trình thức lễ nghi và sáng tạo bài bản. Sự ảnh hưởng yếu tố nước ngoài đó đã kéo dài cho đến các triều đại nhà Nguyễn.

Như vậy, nếu so sánh hai quan niệm thì quan niệm thứ nhất đã có trong quan niệm thứ hai; có nghĩa là yếu tố ngoại lai không phải là thứ yếu của những triều đại trước đây.

Người đàn ông mù chơi đàn bầu (sơn dầu trên carton 100 x 110 cm) – Bửu Chỉ, 1995.- Ảnh: sangtao.org


Diễn tấu đàn bầu trong dàn nhạc múa và tuồng cung đình Huế - một sắc thái mới của những giá trị âm nhạc

Trong tài liệu (Hoàng Yến (đã dn) số 3, 1919): “Đàn bầu nguồn gốc ở Bắc Kỳ, mãi đến năm Thành Thái thứ 8 (1896) thì mới được đưa vào Kinh thành Huế do một gánh hát Xẩm…” và vào “khoảng đầu thế kỷ XX, người ta mới thấy một số nhạc sĩ Tài tử dùng đàn bầu để hòa tấu trong dàn nhạc ngũ tuyệt ở Huế”. Tài liệu (GS. Tô V điển hình là cây đàn bầu trước là đàn của những người hát rong, sau được nâng cao về hình thức và tính năng trở thành một nhạc khí đệm cho Ca Huế, sánh ngang với tranh, nhị, tỳ bà…”.

Như vậy, sau một thời gian dài thăng trầm và lớn lên, cây đàn bầu đã được tích tụ sinh khí của người Việt, vóc dáng của người Việt và vẻ đẹp thuần khiết của người Việt; để từ đó vua quan nhà nguyễn đã không còn những cái nhìn miệt thị nữa, đã hiểu cây đàn bầu như hiểu con người Việt, và dĩ nhiên với cái nhìn thiện cảm đó, đàn bầu đã được đưa vào cùng sánh ngang với các nhạc cụ cung đình đệm cho thể loại ca nhạc thính phòng đó là Ca Huế.

Như các bài bản múa cung đình, Ca Huế ngoài những bài bản do các vua quan sáng tác như: Tứ Đại Cảnh do vua Tự Đức sáng tác, Long Ngâm do quan Trịnh Trọng Tử sáng tác… phần lớn các bài bản được dựa trên các bản tiểu nhạc, đại nhạc, sáng tác thêm lời để ca ngợi hoặc chúc tụng như Tiểu nhạc: Thập Thủ Liên Hoàn (Mười bản ngự), Năm bài ngũ đối (Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc); Đại nhạc: Đăng đàn cung, Mã vũ…

Khi đàn bầu đã sánh ngang cùng với các nhạc cụ cung đình, đã tham gia đệm cho thể loại ca nhạc thính phòng cũng đồng nghĩa với sự đảm đương được các bài bản mà các nhạc cụ trong dàn tiểu nhạc từng diễn tấu. Do đó, với cái nhìn tổng quan, chắt lọc và phân tích các nghiên cứu của những vị tiền bối, chúng tôi đã mạnh dạn đưa đàn bầu vào thử nghiệm diễn tấu cùng dàn nhạc trong múa và tuồng cung đình Huế đến nay đã được 10 năm kể từ khi Nhã nhạc được UNESCO vinh danh là “Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện của nhân loại”.

Múa và tuồng cung đình có lịch sử lâu đời, đã theo chân chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635) vào định cư tại Thuận Hóa, là tiền đề cho sự phát triển của các loại hình nghệ thuật cung đình dưới các triều đại nhà Nguyễn về sau. Đào Duy Từ là người đầu tiên tạo tiền đề cho múa hát cung đình Huế sau khi quyết tâm vào Nam phò giúp chúa Nguyễn.

Do định kiến xã hội của các thời vua chúa trước đây xem thường âm nhạc dân gian mà đặc biệt là các nhạc cụ ngoài dân gian trong đó có đàn Bầu; một mặt nước ta đã trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, các yếu tố ngoại lai ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa nghệ thuật của nước ta, đặc biệt là ảnh hưởng về các lễ nghi cung đình nhà Thanh, nhà Minh - Trung Hoa đến các triều đại từ nhà Lý kéo dài cho đến triều đại các vua Nguyễn.

Cũng như vậy, đàn bầu ra đời và trải qua nhiều thăng trầm theo sự biến động của chiều dài lịch sử Việt Nam, tích tụ tinh hoa, vẻ đẹp tâm hồn người Việt,… và đã trở thành một nhạc cụ quốc hồn quốc túy của con người Việt Nam.

Sau mười năm thử nghiệm đưa đàn bầu vào diễn tấu cùng dàn nhạc múa và tuồng cung đình Huế, đàn bầu đã chứng tỏ được khả năng vượt trội của mình so với một số nhạc cụ cung đình; đã thể hiện vai trò là một phương tiện dẫn giai điệu, là phương tiện biểu cảm mà nhiều nhạc cụ cung đình không thể sánh kịp; đặc biệt là sự độc đáo về hình thức lẫn âm sắc, tô điểm thêm cho những bức tranh về âm thanh trong các điệu múa cung đình và trong các làn điệu tuồng cung đình. Đàn bầu không còn bị miệt thị, xem thường như nhận định của các tác giả tiền bối, mà ngược lại, đàn bầu đã chiếm một vị trí thượng phong và không thể thiếu trong dàn nhạc múa và tuồng cung đình Huế.

H.T.C  
(SDB13/06-14)






 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • VIỆT ĐỨCCâu trả lời đầu tiên vẫn thuộc về môi trường sinh hoạt âm nhạc. Hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh mỗi đêm có đến 50 tụ điểm ca nhạc hoạt động với cơn sốt ca sỹ leo thang đến chóng mặt.

  • Dương Bích HàCũng như các loại hình nghệ thuật khác, nền âm nhạc cổ truyền luôn tồn tại hai dòng: âm nhạc bác học và âm nhạc dân gian.Ở Huế, trên một thế kỷ là kinh đô của triều đại phong kiến Việt Nam, nên đặc biệt, tính chất này được bộc lộ rất rõ và triệt để, là nơi phân chia rạch ròi nhất các giai tầng trong xã hội, trong văn hóa nghệ thuật.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNNgày xưa, xã hội Việt Nam thực hiện nguyên tắc “phụ truyền tử kế” (cha truyền con nối), cho nên ông nội tôi - cụ Nguyễn Đắc Tiếu (sinh 1879), người làng Dã Lê chánh, xã Thủy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, lúc mới lên mười tuổi, đã được cố tôi (lính trong đội Nhã nhạc Nam triều) đem vào Đại nội học Nhạc cung đình (Musique de Cour).

  • PHAN THUẬN THẢONhã nhạc là loại hình âm nhạc chính thống được sử dụng trong các cuộc tế, lễ của các triều đình quân chủ ở Việt Nam và một số nước khu vực Đông Á. Trong các cuộc triều hội, cúng tế, âm nhạc luôn theo suốt quy trình của buổi lễ, từ lúc mở đầu cho đến hồi kết thúc. Nó tham gia vào từng tiết lễ, là một thành tố không thể thiếu của cuộc lễ, đồng thời, là phương tiện giúp con người giao tiếp với thế giới thần linh. Loại hình âm nhạc này được các triều đại quân chủ hết sức coi trọng, được phát triển thành một thứ quốc nhạc và là một trong những biểu tượng cho sức mạnh của vương quyền và sự vững bền của triều đại.

  • THÂN VĂN1. Phương thức liên kết về bài bản.Đặc điểm chung nhất của hệ thống bài bản hòa tấu nhạc cung đình thường là ngắn gọn, gắn liền và phù hợp với các ca chương trong mỗi nghi thức tế lễ. Những nghi thức này được tiến hành theo một trật tự trang trọng và nghiêm ngặt, nên mỗi bài bản ca chương và âm nhạc buộc phải trình tấu đúng với thời gian cho phép của từng nghi thức. Những bài bản này đương nhiên hoàn toàn độc lập về nội dung, nhưng do nằm trong một trật tự trình tấu nối tiếp liên tục, nên ngẫu nhiên đã hình thành các thể loại liên hoàn khúc khác nhau. Trong đó, độ dài, ngắn của mỗi liên hoàn khúc, tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của cuộc lễ, tuỳ thuộc vào số lượt nghi thức và số ca chương mà cuộc lễ quy định.

  • YAMAGUTI OSAMUTháng Giêng năm 1994, trong lúc đang còn ngất ngây hương vị Tết, thì đột nhiên điện thoại và fax từ Paris đến tới tấp. Đó là vì UNESCO đã nhận lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam để mở một Hội nghị Quốc tế thảo luận về vấn đề nên làm gì và cái gì có thể làm được để bảo tồn và phát huy tài sản văn hoá vô hình của Việt Nam, vì vậy họ muốn mời tôi tham gia hội nghị và đưa ra đề nghị cụ thể. Ông Tokumaru Yosihiko (giáo sư của Đại học Nữ Ochanomizu, lúc đó còn là Trưởng khoa của Khoa Văn hoá- Giáo dục) cũng nhận được lời mời như vậy, nên tôi đã liên lạc với ông và cả hai quyết định nhận lời mời này.

  • VIỆT HÙNGCuộc toạ đàm với chủ đề Sự cần thiết phải thành lập nhạc viện ở Huế vừa diễn ra vào ngày 10/3/2004. Đây là một trong những hoạt động nằm trong khuôn khổ của Trại sáng tác khí nhạc dân tộc và phê bình lý luận âm nhạc, do Chi hội Nhạc sĩ Việt Nam Thừa Thiên Huế phối hợp với Trường Đại học Nghệ thuật Huế tổ chức từ 9/3 đến 17/3/2004.

  • THÂN VĂNSau hơn 2 tháng phát động và 9 ngày chính thức dự trại (từ ngày 09 đến 17/3/2004), với 14 tác phẩm khí nhạc dân tộc và 5 tác phẩm lý luận phê bình âm nhạc của 17 nhạc sĩ có mặt tham dự trại. Lễ bế mạc chiều ngày 17/3/2004 Trại sáng tác khí nhạc dân tộc & lý luận phê bình âm nhạc tại Huế đã gây được ấn tượng tốt đẹp và những tín hiệu đáng mừng trong lòng nhân dân Cố Đô. Điều đáng nói là các nhạc sĩ của Hà Nội, Huế và TP.Hồ Chí Minh đã gặp nhau từ một ý tưởng sáng tạo chủ đạo là nhằm tôn vinh và phát huy các giá trị của di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu ở Huế, góp phần định hướng cho mô hình và mục tiêu đào tạo của Nhạc viện Huế trong tương lai.

  • TRẦN VĂN KHÊNhạc Cung đình là một bộ môn nhạc truyền thống Việt Nam dùng trong Cung đình. Nhưng người sáng tạo và biểu diễn Nhạc Cung đình hầu hết là những nhạc sĩ, nghệ sĩ từ trong dân gian, có tay nghề cao, được sung vào Cung để phụng sự cho Triều đình. Nhạc Cung đình Huế là một bộ môn âm nhạc truyền thống Việt Nam rất đặc biệt và có một giá trị lịch sử, nghệ thuật rất cao.

  • THÁI CÔNG NGUYÊNMột nhà văn nước ngoài khi đến thăm Huế đã nói: “Huế là một bảo tàng kỳ lạ chứa đựng trong lòng mình những kho tàng vô giá, những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần Việt Nam”. Đúng vậy, bên cạnh kho tàng di sản văn hóa kiến trúc đồ sộ có giá trị tầm vóc quốc tế, Huế còn là một tụ điểm di sản văn hóa tinh thần phong phú, một vùng văn hóa Phú Xuân đặc sắc “Huế đẹp và thơ” nổi tiếng.

  • PHÙNG PHUNgày 07 tháng 11 năm 2003, ông Koichiro Matsuura, Tổng Giám đốc UNESCO đã chính thức công bố trong một buổi lễ long trọng nhân kỳ họp toàn thể lần thứ 32 của Ðại hội đồng UNESCO tại Paris: UNESCO đã ghi tên 28 Kiệt tác vào Danh mục Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại.

  • LTS: Đại hội khoá II (nhiệm kỳ 2003 - 2008) của Chi hội Nhạc sỹ Việt Nam Thừa Thiên Huế vừa diễn ra vào trung tuần tháng 9. Nhạc sỹ Hồng Đăng, Phó Tổng thư ký Hội Nhạc sỹ Việt Nam, thay mặt cho BCH Hội Nhạc sỹ Việt Nam vào tham gia chỉ đạo Đại hội. Tại Đại hội, nhiều tham luận, ý kiến phát biểu của các nhạc sỹ đã thể hiện được sự trăn trở về thực trạng và hướng phát triển của nghệ thuật âm nhạc đương đại Huế. Sông Hương xin trích đăng một số ý kiến đã trình bày tại đại hội.

  • LÂM TÔ LỘCĐại tá - nhạc sĩ Đức Tùng, sinh năm 1926 tại Huế đẹp và thơ, đã mãi mãi xa quê: Ông mất ngày 25/01/2003. Ông viết ca khúc từ trước Cách mạng tháng Tám như Kỷ niệm ngày hè, Bên trời xa, Dòng Dịch thủy, Dưới ánh trăng mơ. Ông đã từng biểu diễn ca nhạc tại nhà hát Accueil, là cây Accordéon cầm chịch của ban nhạc gia đình ở phố Hàng Bè.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ Năm nay (2003), nhạc sĩ Trần Hữu Pháp (NSTHP) “mới” tròn 70 tuổi, nhưng dễ đã mấy chục năm, sau khi nhạc sĩ Trần Hoàn rời Cố đô ra Hà Nội nhận các trọng trách, NSTHP nghiễm nhiên ngồi “chiếu trên”, là “già làng” của giới âm nhạc Thừa Thiên Huế. Kể cũng phải; từ bốn mươi năm trước, khi hàng triệu thiếu nhi miền Bắc đội mũ rơm dắt lá nguỵ trang đến trường, miệng líu lo ca bài hát ông vừa sáng tác “Tiếp đạn nào / Tiếp đạn chuyền tay trên chiến hào / Cho chú dân quân bắn nhào phản lực...” thì không ít các nhạc sĩ nổi danh bây giờ có lẽ còn... bú mẹ! Vậy mà trước mắt tôi (và chắc là với không ít người nữa) - nói ông anh đừng giận nhé - vị nhạc sĩ lão làng này lại rất...trẻ con!

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Người ta thường nhắc tới Thái Quý như nhắc tới một con người giàu tình cảm, dễ khóc, dễ cười, dễ nóng giận và cũng rất vị tha. Nói đến khuyết điểm của mình trong cuộc họp, anh khóc đã đành, nhưng khi chỉ trích khuyết điểm của đồng đội, anh cũng khóc...

  • NGUYỄN THANH TÚNăm ngoái, tôi tình cờ gặp nhạc sĩ Thái Quý khi ông đang bận rộn chỉ đạo "đoàn thành phố Huế" trước giờ ra sân khấu tham gia hội diễn ca múa nhạc công - nông - binh - trí thức do tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức tại nhà hát Trung tâm Văn hoá.

  • VĨNH PHÚCNếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền phát tán thành một dòng dân gian chuyên nghiệp là hát Ả đào và vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh, thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là Ca Huế (gồm cả ca và đàn). Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là một lối hát Ả đào của người Huế, một lối chơi của các ông hoàng bà chúa xét trên quan điểm tiếp biến trong tiến trình của một lối hát truyền thống và tiến trình lịch sử từ Thăng Long đến Phú Xuân-Huế.

  • VĂN THU BÍCHTừ bao đời nay, tình yêu Huế vẫn mãi chìm sâu trong lòng những người con xứ Huế, dù đang sống trên đất Huế hoặc đã biền biệt xa xứ và Huế mộng mơ cũng len nhẹ vào hồn du khách khi đến thăm vùng đất thần kinh này.

  • TRẦN NGỌC LINHBạn còn thương bạn biết gửi sầu về nơi mô?Trước khi tôi vào Huế, chị tôi dặn: “Vào muốn gặp bà Minh Mẫn cứ đến đường Nhật Lệ mà hỏi”. Theo cách nhớ đường của một người viễn khách từ xa đến thì đến phố đó cứ thấy đầu ngõ nào có một giàn hoa tử đằng với những dây hoa buông thõng chấm xuống nền đất vỉa hè thì đó chính là lối rẽ vào ngõ nhà danh ca Minh Mẫn.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀNGọi tên hoa súng: LỤC HÀGọi thôn LIỄU HẠ: quê nhà bên sôngGọi TRẦN KIÊM: họ sắc... khôngGọi HÀ THANH: tiếng hát dòng Hương Giang