Điểm tương đồng, giao hội giữa Hồ Chí Minh & Phan Đăng Lưu

10:06 28/04/2009
PHAN TÂMQuê hương Phan Đăng Lưu, xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, cách Kim Liên, Nam Đàn, quê hương Hồ Chí Minh khoảng 60 km.Hai nhân cách lớn của đất Nghệ An. Không hẹn mà gặp, xuất phát từ lương tri dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đến chủ nghĩa Mac - Lê nin, thành hai chiến sĩ cộng sản Việt Nam nổi tiếng.

Năm 1928, Phan Đăng Lưu đến Quảng Châu, Trung Quốc, thì Nguyễn Ái Quốc đã sang Liên Xô.
Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước thì Phan Đăng Lưu đã hy sinh.
Tuy chưa gặp lãnh tụ, nhưng Phan Đăng Lưu là người sớm có phong cách Hồ Chí Minh.

1, Tiếp thụ văn hoá Phương Đông:
Phương Đông, chủ yếu là Trung Hoa. Đối với nước ta, nói học văn hoá phương Đông là học chữ Hán, học đạo Nho, học Bách gia và Bắc sử. Hồ Chí Minh và Phan Đăng Lưu ra đời vào lúc chữ Hán còn thịnh, được học chữ Hán ít ra là 9, 10 năm rồi sau đó là tự học.
Chữ Hán của Hồ Chí Minh đạt đến nhuần nhị uyên bác, làm thơ bằng chữ Hán đạt đến phong vị thơ Đường, thơ Tống.
Phan Đăng Lưu học chữ Hán viết được hàng 8, từng lều chõng đi dự khoa thi hương cuối cùng năm 17 tuổi (1919).
Rồi, vốn Hán học cùng với tinh hoa văn hoá Phương Đông là cơ sở cho hai con người xứ Nghệ thành những người Phương Đông có bản lĩnh, đậm đà bản sắc dân tộc với tinh thần yêu nước Việt Nam sâu sắc nhất.

2, Học tập văn hoá Phương Tây:
Cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa tư bản phương Tây phát triển, đưa văn hoá cùng kỹ thuật công nghiệp và súng đạn ra toàn thế giới. Gió Tây ào ào mạnh mẽ, tưởng chừng thổi bạt cả gió Đông.
Các phạm trù kinh điển Nho giáo truyền từ đời này sang đời khác đã thành những cái khung cứng nhắc bó chặt lấy mọi tầm nhìn.
Phương Đông thích nghi không kịp.
Trung Quốc là nước đầu tiên chạm trán với chủ nghĩa tư bản Phương Tây và bị xâu xé.
Rồi đến Việt Nam. Vua chúa nhà Nguyễn như mê ngủ.
"Sự mê ngủ của một lực lượng được gọi là tiên tri tiên giác, bao giờ cũng là nhân tố hàng đầu của mọi bi kịch lịch sử". (Cao Xuân Huy, Chủ thuyết canh tân của Nguyễn Trường Tộ, tr 356).

Hậu quả là Việt Nam mất chủ quyền quốc gia, mất nước vào tay chủ nghĩa tư bản Pháp.
Hồ Chí Minh (bấy giờ là Nguyễn Tất Thành) chuyển sang học chữ quốc ngữ, học chữ Pháp, đến đầu thế kỉ 20 thì sang hẳn nước Pháp để học tập, tiếp thụ văn hoá Pháp, văn hoá phương Tây, mong hoàn thiện, nâng cao bản lĩnh văn hoá và tầm nhìn cho mình, quá trình đó cũng gọi là "đi tìm con đường cứu nước".
Rõ ràng là với tấm lòng yêu nước không thôi, không thể đương đầu với chủ nghĩa thực dân Pháp.

Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) "thà đui mà giữ đạo nhà", ghét Tây đến độ đường Tây làm không chịu đi, vải Tây bán không thèm mặc, nổi tiếng với tấm lòng trong sáng "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà", nhưng rồi cụ Đồ chỉ ca ngợi được người nông dân Cần Giuộc, hăng hái chiến đấu chống xâm lược không quản hy sinh tính mạng, "liều mình như chẳng có", còn "mấy thằng gian" là tập đoàn cướp nước Tây dương, thì bút cụ Đồ không đâm nổi, trước hết là vì cụ mù loà, không thấy được mặt mũi quân thù, thứ nữa, quan trọng hơn là cụ không đọc, không viết được chữ quốc ngữ và chữ Pháp.
Việc "đâm mấy thằng gian" ấy rồi sẽ phải nhờ đến Nguyễn Ái Quốc, đến "bút chẳng tà" của Nguyễn Ái Quốc với những bài viết bằng tiếng Pháp, sắc như dao, đăng trên báo Pháp, như "Lời than vãn của bà Trưng Trắc", "Vi hành", "Va - ren và Phan Bội Châu" đến tác phẩm tiêu biểu là "Bản án chế độ thực dân Pháp" xuất bản ngay trên đất Pháp.

Rõ ràng, có học văn hoá Phương Tây, đọc được luận văn của Lê - Nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc mới thấy ra "cái cần thiết cho chúng ta", mới nhìn ra "con đường giải phóng chúng ta",
Và càng rõ ràng, cách mạng là khoa học, nhà cách mạng phải không ngừng học tập, phải là người có kiến thức, có văn hoá.
Phan Đăng Lưu học chữ Hán đến 17 tuổi, chuyển sang tân học, sau hai năm đã đậu bằng tiểu học ở Vinh, rồi vào Huế học trung học, được mấy năm lại xin vào trường Canh nông Tuyên Quang học hai năm. Ra làm ở Sở thí nghiệm nuôi tằm Đông ba Vĩnh Phú, rồi xin đổi về Diễn Châu rồi vào Vinh.

Gặp phong trào yêu nước đòi thả Phan Bội Châu và truy điệu Phan Chu Trinh, Phan Đăng Lưu hăng hái tham gia, bị mật thám theo dõi, bị đổi từ Vinh đi Linh Cảm, Hà Tĩnh, rồi Phú Phong, Bình Định, đến Đà Lạt, Di Linh, Lâm Đồng, ở đâu Phan Đăng Lưu cũng tỏ thái độ chống Pháp, cuối cùng bị cách chức.
Phan Đăng Lưu về quê một thời gian, rồi vào Huế, bước vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Bấy giờ là vào năm 1927, Phan Đăng Lưu 25 tuổi, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa ra đời.

Nhờ giỏi tiếng Pháp, Phan Đăng Lưu đọc được các báo chí gửi từ nước ngoài về, đọc Bản án chế độ thực dân Pháp (bằng tiếng Pháp) của Nguyễn Ái Quốc, lại học theo lối gửi thư hàm thụ qua Pháp, nghiên cứu cả lịch sử, chính trị, kinh tế và từ một đảng viên Tân Việt chuyển hẳn sang lập trường đảng Cộng sản.
Không hẹn mà nên, quĩ đạo Phan Đăng Lưu đã trùng với quĩ đạo Nguyễn Ái Quốc. Phan Đăng Lưu còn đọc Tư bản của Mác bằng tiếng Pháp và là một trong những người cộng sản Việt Nam đầu tiên nghiên cứu kinh tế chính trị và học thuyết giá trị thặng dư của Mác.

3, Sự nghiệp báo chí :
Viết báo, làm báo là việc quan tâm của Bác Hồ. Ở Pháp, ở Thái Lan, ở Quảng Châu, ở Cao Bằng, ở đâu Hồ Chí Minh cũng làm báo, ra báo, là tác giả hàng ngàn bài báo, bằng tiếng Pháp, tiếng Hán, tiếng Việt, coi công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của Đảng cách mạng. Phan Đăng Lưu cũng thế.
Năm 1930, bị giam ở Buôn Ma thuột, Phan Đăng Lưu vừa viết nhật ký, vừa học tiếng Ê đê, ra tờ Doãn đê tù báo.(Doãn tiếng Êđê nghĩa là Việt) để tuyên truyền lính người Thượng.
Khi tù chính trị Buôn Ma Thuột đấu tranh tuyệt thực, địch định để cho chết không ai biết, Phan Đăng Lưu đã bí mật viết tin cho một tờ báo của người Pháp ở Sài Gòn, đưa vụ việc ra công luận, khiến kẻ địch phải nhượng bộ.

Năm 1933, Phan Đăng Lưu viết báo nhờ gửi sang Pháp, việc bại lộ, bị tăng thêm 5 năm tù.
Năm 1936, Chính phủ Bình dân lên cầm quyền bên Pháp, ra lệnh ân xá, Phan Đăng Lưu được thả, đưa về quản thúc ở Huế.
Thời kỳ 1936 -  39, lịch sử cách mạng gọi là thời kỳ Đông Dương đại hội, báo chí công khai của Đảng tuyên truyền đòi dân sinh dân chủ, huy động nhân dân đưa yêu sách đến Gô - Đa, phái viên của Chính phủ Bình dân Pháp.
Đây là thời kì hoạt động báo chí sôi nổi nhất của Phan Đăng Lưu với hàng trăm bài báo, đăng trên các báo Dân, Dân tiến, Dân muốn, Sông Hương tục bản... với các bút danh Đông Tùng, Phi Bằng, Bằng Phi, Sông Hương... (xem Nguyễn Thành, Phan Đăng Lưu, tiểu sử, tác phẩm, NXB Thuận hoá 1998).

Kiến thức rộng, ngòi bút sắc sảo, Phan Đăng Lưu xứng đáng với câu "Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà" Nguyễn Đình Chiểu viết năm 1860, thành một nhà báo cánh tả tiên phong của Cách mạng Việt Nam.
Chẳng hẹn mà nên, quĩ đạo Phan Đăng Lưu lại một lần nữa trùng với quĩ đạo Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

4, Bút pháp:
Về bút pháp Hồ Chí Minh thì đã có rất nhiều tác giả, uyên bác và đủ thẩm quyền, với hàng trăm bài viết, tham luận này không nói lại, chỉ xin tóm tắt: Bác Hồ viết ngắn gọn và hài hước.
Hài là sức mạnh của văn học, nhờ bút pháp hài, những bài báo như: Vi hành, Va - ren và Phan Bội Châu đã thành tác phẩm văn học.
Trong sáng tác của mình (xem sách đã dẫn) Phan Đăng Lưu đã sử dụng nhiều thủ pháp hài, trong đó có cách "chiếu radio", ngày nay ta gọi là chiếu điện, chiếu X quang để vạch trần tâm địa đối phương.
Phạm X. lăm le tranh chức Viện trưởng Dân biểu Trung kỳ với Huỳnh Thúc Kháng, là một người nghiện, mồm nói thì hay ho, mà "chiếu radio", trong bụng lại thấy toàn bàn đen và thuốc phiện.

Ông Nghị Y., nhà cầm quyền giới thiệu ra tranh cử, chiếu điện, thấy trong đầu chỉ cái khoang đếm tiền là còn sáng, còn các khoang khác thì chứa toàn bã đậu v.v...
Thủ pháp này về sau Tự lực văn đoàn cũng thường vận dụng trên các báo Ngày nay, Phong hoá.

5, Học và sử dụng tiếng Pháp:
Tiếng Pháp, ngôn ngữ sang trọng nhất Tây phương thế kỷ 19, nhiều người cho là khó.
Thời còn thuộc Pháp, ở ta, là ngôn ngữ chính thức, học sinh học tiếng Pháp từ lớp 2, ở một tỉnh ham học như Nghệ An, số người giỏi tiếng Pháp cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Ai cũng biết thấm nhuần được một ngoại ngữ không đơn giản, đó là chuyện "học đổi mạng" (chữ của Phan Ngọc).

Nguyễn Ái Quốc sống giữa lòng nước Pháp, tự mình học tập, nhờ bền gan bền chí, đến chỗ làm chủ được ngôn ngữ Pháp, để dùng nó như một công cụ, một phương tiện hoạt động cách mạng.
Phan Đăng Lưu ở trong nước, miệt mài tự học là chính.
Huỳnh Thúc Kháng viết : Ông Lưu là người rất chăm học.
Ngay ở trong tù, thấy mẩu giấy, tờ báo, đều nhặt lên, có chữ thì đọc, không có chữ thì cất làm giấy viết.
Ông học thuộc cả từ điển Pháp.
Căn cứ vào các bài viết còn để lại, có thể nói Hồ Chí Minh và Phan Đăng Lưu là hai nhà cách mạng giỏi tiếng Pháp ở Việt Nam và đó cũng là điểm tương đồng, giao hội giữa Hồ Chí Minh và Phan Đăng Lưu.

6, Phong cách:
Tố Hữu viết: Anh Lưu tập nhu thuật, ăn uống đạm bạc mà vẫn mạnh khoẻ, nằm xuống là ngủ được.
Phan Đăng Tài viết: Phan Đăng Lưu sống lạc quan, giản dị, ăn uống đạm bạc, quần áo sơ sài, không nhằm lợi ích riêng mà hướng về một mục tiêu duy nhất: phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Lê Duẩn viết: Phan Đăng Lưu là một trí thức cách mạng tiêu biểu, là tấm gương về phẩm chất, đạo đức cách mạng.

7, Bức thư cuối cùng:
Khi bác Lưu còn ở nhà, tôi chưa ra đời. Nay vào nhà lưu niệm, xem ảnh, thấy thật giống anh Tề, con trai bác.
Đến khi đọc đến Bức thư cuối cùng thì thật ngỡ ngàng.
Thư viết trong khám tử hình, gần một tháng trước ngày hy sinh, vừa biện hộ cho mình, vừa tố cáo chế độ, vừa an ủi gia đình, nghĩa lớn, tình riêng, được diễn đạt bằng một thứ Pháp văn điêu luyện, xao xuyến lòng người.
Xem thư, tôi như "thấy" được bác Lưu rõ hơn là xem ảnh: một trí thức cách mạng, một chiến sĩ anh hùng chịu hy sinh vì độc lập dân tộc ở tuổi đời 39.

Bức thư chỉ hơn 400 chữ, hiện được lưu giữ ở Bảo tàng cách mạng ở Hà Nội, là tư liệu có giá trị như một tác phẩm văn học, là anh linh còn lại của Phan Đăng Lưu.
Hiện đã có bản dịch ra tiếng Việt mà xem ra chưa xứng với nguyên tác.
Như một sự trùng hợp:
Trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Hồ Chí Minh viết Ngục trung nhật kí bằng chữ Hán. Trong khám tử hình Sài Gòn, Phan Đăng Lưu viết bức thư cuối cùng bằng Pháp văn. Hai nhân vật, một cách làm, bác học mà không ai cho là phi dân tộc.

8, Kết luận:
Tôi là kẻ hậu sinh, hậu học, đến với đề tài Phan Đăng Lưu, không chừng bị đàm tiếu: Thấy người sang bắt quàng làm họ.
Thật ra, Phan Đăng Lưu họ Mạc, dòng dõi Mạc Đĩnh Chi, chi họ này mới đến Hoa Thành từ thế kỷ 17.
Còn họ chúng tôi, dòng dõi tiến sĩ Phan Tất Thông đã ở Nghệ An hơn 600 năm nay.
Tuy vậy, cũng có liên quan: Cụ Phán, thân sinh ông Lưu, với cha tôi là con o con cậu, nhà ở liền xóm. Cụ Phán là người "giao chỉ" (hai ngón chân cái khuỳnh ra, giao vào nhau), người thông minh khoáng đạt, đến quan huyện quan phủ cụ cũng xem thường. Cụ bà là người cực kỳ hiền lành, cả đời không làm hại ai. Có vậy mới sinh được ông Lưu, ông Tài.

Cha tôi kể: Khi còn ở nhà, bác Lưu hay sang nhà tôi chơi, ngồi chõng tre, ăn khoai luộc, uống nước chè xanh. Bác đậm người, rất hiền, hay cười, đọc sách cả ngày.
Cha tôi kể: Trên chuyến xe lửa Hà Nội - Sài Gòn năm ấy, bác mặc áo dài tàu, đội mũ tàu, nói tiếng Quảng Đông.
Mật thám tưởng người Hoa, đã bỏ đi, sau vì có chỉ điểm nó mới quay lại và bắt bác.
Đó là ngày 22 - 11 - 1940.
Hôm sau thì nổ ra khởi nghĩa Nam Kỳ.
Khởi nghĩa không thành, bị đàn áp, máu xương tràn vào tận Ngọc Hiển, Cà Mau.
Phan Đăng Lưu bị chính phủ Pê - tanh xử tử hình tại Hóc Môn ngày 25 - 5 -1941 tức là ngày 29 tháng tư năm Kỉ Dậu.
Gia đình lấy ngày 29 tháng tư năm âm lịch hàng năm làm ngày giỗ.

Bằng phẩm chất con người xứ Nghệ và ý chí cách mạng, Phan Đăng Lưu đã tự đi vào con đường Hồ Chí Minh, như cành cây vươn về phía ánh sáng và đã có những cống hiến nhất định, nêu tấm gương toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, chịu sự hy sinh cao nhất, thành một liệt sĩ cách mạng tiền bối, một tia sáng đẹp bên cạnh hào quang Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh (1890 - 1969) hơn Phan Đăng Lưu (1902 - 1941) một giáp.
Trong lịch sử, từng xuất hiện một cặp Nghệ - Tĩnh cũng hơn kém nhau một giáp: Nguyễn Huệ (1753 - 1792) và Nguyễn Du (1765 - 1820), dẫu bất tương đồng mà đều đạt đến những giá trị vĩnh cửu, đỉnh cao dân tộc.

P.T
(
168/02-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • ĐỖ ĐỨC HIỂU

    “Đọc văn chương” là một khoa học. Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta cần có nhiều cách ứng xử trước tác phẩm văn chương.

  • ĐỖ LAI THÚY

    "Thế hệ nhà văn sau 75” thường được dùng như một (cụm) từ - chìa khóa để mở vào nghiên cứu các nhà văn, rộng ra cả văn học, từ sau 1975 đến.

  • VĂN THÀNH LÊ

    Tôi đến với văn chương vô cùng hồn nhiên. Như mọi đứa trẻ quê quen leo đồi lội ruộng, chơi đủ trò trên đồng dưới bãi, tôi còn bày đặt ngẩn ngơ chế những câu có vần có vè cho lũ bạn mục đồng cùng đọc lên chọc lỗ nhĩ chơi.

  • HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

    Mở đầu bài viết này, chúng tôi xin nói đến hai sự kiện văn học diễn ra gần đây.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

    Chúng ta có thể nghĩ, hiểu và làm văn học theo cách riêng mà mỗi cá nhân có thể tạo lập và mục đích cuối cùng là phụng hiến cho nền văn học với những giá trị phổ quát.

  • NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ

    Cho đến năm 2013, tôi mới bắt đầu chính thức cầm bút. Tôi miệt mài viết trong 3 năm liền, giống như một cuộc chơi càng viết càng đam mê, có lúc cảm chừng như không đủ thời gian còn lại để viết tất cả những gì mình muốn, song hành cả thơ và truyện ngắn với lối sử dụng bút pháp đa dạng, khi tả thực, khi tượng trưng, lúc huyền ảo, thơ cũng như truyện.

  • TRU SA  

    Tôi chưa từng nghĩ rằng sẽ theo văn chương. Trước đây là thế và bây giờ vẫn vậy, những gì tôi làm chỉ là viết xuống giấy những thứ sinh sôi trong cơ thể mình.

  • TRẦN BĂNG KHUÊ

    Với văn chương, tôi không biết phải nói về nó như thế nào, về việc bén duyên, hay hoàn cảnh thôi thúc tôi đến với nó. Những ý niệm này, có đôi lần tôi đã lẩn thẩn nghĩ đến, thỉnh thoảng băn khoăn một chút, rồi thì mọi sự dường như diễn tiến theo một cách nào đó tôi cũng không nắm bắt được nữa. Tự nhiên nhi nhiên vậy.

  • Như thường lệ, vào số báo đầu năm mới, Sông Hương giới thiệu đến quý bạn đọc những tiếng nói của các cây bút trẻ. Đó là những tiếng nói đầy nhiệt huyết trong khu vườn sáng tạo. Những tiếng nói ấy chứa đựng trong mình biết bao khát vọng cất tiếng, khát vọng cách tân để đưa nghệ thuật làm tròn bổn phận của nó: Làm ra cái mới.

  • TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT  

    Sau đổi mới, năm 1986, Việt Nam tăng tốc mở rộng kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa khiến cho môi trường bị biến đổi.

  • NGUYỄN QUANG HUY

    Truyện Nôm bác học đã và đang được quan tâm soi chiếu từ nhiều hướng, nhiều phương pháp. Trong quá trình quan sát và khảo tả, phân tích đối tượng này, chúng tôi thấy có sự lặp lại đáng chú ý hiện tượng thân phận con người.

  • LTS: Ngoài các công trình nghiên cứu, dịch thuật Phật học, khi còn trụ thế, Hòa thượng Thích Chơn Thiện còn viết nhiều sách, báo về văn hóa dân tộc, gần đây nhất là loạt bài biên khảo Tư tưởng Việt Nam: Nhân bản thực tại luận.
    Sông Hương xin trích đăng một số trong loạt bài ấy, như là tấm lòng ngưỡng vọng đến vị Đạo cao, Đức trọng vừa thu thần viên tịch.

  • VƯƠNG TRÍ NHÀN

    Từ sau 1945, có một kiểu người viết văn đã hình thành với chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Bài viết không có tham vọng trình bày vấn đề một cách toàn diện, mà chỉ đi vào một số khía cạnh:

  • NGUYỄN THỊ QUỲNH HƯƠNG

    Motif người hóa đá/ đá hóa người là một trong những motif phổ biến của biểu tượng đá trong truyền thuyết dân gian Việt Nam.

  • DANA GIOIA
    (Tiếp theo Sông Hương số tháng 10/2016)  

    V.
    Xem chừng thơ trong nhà trường lại nhiều hơn ở ngoài thế giới, trẻ em không được bảo cho biết tại sao lại như vậy. Hẳn các em phải ngạc nhiên.
                (Robert Frost)

  • PHẠM ĐĂNG TRÍ

    Tết năm ấy, tôi không về Huế ở lại Hà Nội, tôi nhận được một gói quà từ nhà gởi ra. Lúc mở, chỉ thấy mấy cái bánh gói giấy ngũ sắc. Ấn tượng rực rỡ này làm tôi liên tưởng đến phạm trù “ngũ sắc” của Á Đông, đã ra đời từ hàng nghìn năm nay.

  • DANA GIOIA

    Làm cho thực tại tầm thường trở thành mê hoặc.
                    [Guillaume Apollinaire]

  • TRẦN KHÁNH PHONG

    Chủ nghĩa hiện sinh khẳng định nguyên lí con người phải tự làm ra chính mình, chứ không trông chờ vào ai khác, cho dù tồn tại có bi đát, ngặt nghèo.

  • Nếu lấy mốc thời điểm năm 1919 để xét đoán Different from the others là bộ phim đầu tiên trực diện về đề tài đồng tính, thì đến nay, lịch sử khai thác đề tài “cấm kỵ” này đã có một hành trình dài gần như song song cùng với sự ra đời của nghệ thuật thứ 7. Với tính chính trị xã hội và đạo đức, cho đến nay, đây vẫn là một vấn đề hết sức đặc biệt trong mọi loại hình nghệ thuật. Lịch sử điện ảnh đã ghi nhận rất nhiều bộ phim với những diễn ngôn tư tưởng khác nhau, thậm chí đối lập. Yêu cầu cấp thiết đặt ra, đó là việc phải “nhận thức lại thực tại”, đặt ra/xác quyết lại quan điểm của công chúng về một tầng lớp người vốn bị xem như “bệnh hoạn”/“lạc loài”…

  • ĐỖ TRINH HUỆ

    Cadière đến Việt Nam cuối thế kỷ 19 và hoạt động văn hóa những năm đầu thế kỷ 20, vào thời điểm mà người Pháp còn mang tư tưởng nước lớn và mẫu gương của nhân loại trong nhiều lĩnh vực.