Điểm tựa trong lòng dân

15:10 18/02/2009
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Trong mỗi chiến công của an ninh huyện Phú Vang đều bắt nguồn từ sức mạnh lòng dân đối với cách mạng và trước thử thách trong khói lửa chiến trường đã có nhiều tấm gương cao đẹp về nghĩa tình đồng chí, đồng đội của cán bộ, chiến sĩ an ninh.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, từ 15 tuổi, đồng chí La Đình Mão đã tham gia làm cơ sở hoạt động hợp pháp. 17 tuổi thoát ly gia đình tham gia vào đội Trinh sát vũ trang huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Sau đợt tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, trong khi đang làm nhiệm vụ ở hai xã vùng biển Phú Hải và Phú Ngạn thì đồng chí Mão nhận được lệnh phải về ngay xã Phú Phong (nay là xã Vinh Hà) để nhận nhiệm vụ đặc biệt. Nhận được lệnh Mão vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì đã lâu chưa được về quê thăm người mẹ thân yêu của mình, một người mẹ lòng gang dạ sắt đã thắp sáng ngọn lửa cách mạng cho Mão từ thuở ấu thơ. Bà Lê Thị Hạnh (mẹ của Mão), một cán bộ phụ nữ cứu quốc trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là cơ sở cách mạng có nhiều công lao làm hầm bí mật, nuôi dưỡng và bảo vệ an toàn nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp qua các giai đoạn cách mạng gặp khó khăn, tổn thất và đen tối nhất.

Trải qua nhiều đợt tố cộng, diệt cộng, các chiến dịch bình định, gom dân lập ấp chiến lược của địch, bà Hạnh đã nổi lên là một đối tượng nguy hiểm có liên quan đến cán bộ “Việt Cộng” nằm vùng. Bọn ngụy quyền, cảnh sát đã nhiều lần thực hiện các thủ đoạn dụ dỗ, tra khảo, đánh đập, khủng bố tinh thần, tư tưởng, thúc ép từ bỏ người chồng là Phó Bí thư Đoàn Thanh niên huyện Phú Vang đã đi tập kết ra miền Bắc, vẫn không lung lạc được ý chí kiên định phục vụ cách mạng, giữ vững niềm tin chờ ngày chồng bà trở về dù đã hơn hai chục năm xa cách (1). Trong hai lần bà Hạnh có tên trong danh sách địch chuẩn bị bắt lên nhà tù “Chín Hầm” và đầy đi “Côn Đảo” nhưng nhờ được huyện có cơ sở nội tuyến báo cho biết, được bố trí cho chuyển vùng và trốn thoát. Năm 1971, phong trào cách mạng ở địa phương gặp khó khăn, hầu hết cán bộ phải rút lên căn cứ, bà làm giao liên bí mật dưới hình thức đi buôn rượu từ quê hương lên vùng căn cứ giáp ranh ở Truồi, giữ vững sự liên lạc chỉ đạo của trên với cán bộ bám trụ địa bàn. Cho đến năm 1972, bà không thoát khỏi sự theo dõi của bọn ngụy quyền,cảnh sát và bị địch bắt đầy ra nhà tù Côn Đảo. Tuy bị địch tra tấn cực hình, bà vẫn một mực giữ trọn lời thề thà hy sinh không chịu khuất phục trước kẻ thù, không khai báo cơ sở, cán bộ nằm vùng và hầm bí mật, bảo vệ an toàn cho cán bộ và phong trào cách mạng ở địa phương. Năm 1973, bà được tha, trở về quê hương, bà lại tiếp tục hoạt động. Công lao hoạt động cách mạng của bà Hạnh được Đảng và Nhà nước khen thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương giải phóng hạng nhì và là thương binh loại 4/4.

Trên đường trở về đơn vị nhận nhiệm vụ đặc biệt, đồng chí La Đình Mão (2) cứ mung lung suy đoán không biết nhiệm vụ sẽ được giao là việc gì? Liệu sẽ hoàn thành ra sao? Rồi từ xã Phú Ngạn chiếc thuyền chở Mão về đến thôn Mộc Trụ, xã Phú Gia (nay là xã Vinh phú) gặp đồng chí Hồ Sỹ Ba (3), đội trưởng đội Trinh sát vũ trang huyện. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, đồng chí Mão là người được đồng chí Ba tuyển chọn vào lực lượng trinh sát vũ trang nên đồng chí Ba rất tin cậy và giao nhiệm vụ: “Theo lệnh của đồng chí Trưởng ban An ninh huyện, giao đồng chí phải về ngay gia đình bố trí cơ sở bảo vệ cán bộ lãnh đạo an ninh khu đang bị kẹt ở dưới đó”. Tình hình chiến sự lúc này đã vào giữa tháng 6/1968, hầu hết các xã trong huyện địch mở chiến dịch phản kích, càn quét, đánh phá ác liệt và chiếm lại hầu hết vùng ta đã giải phóng, chỉ còn một mảng cuối huyện thuộc xã Phú Phong địch chưa càn tới, lực lượng vũ trang và cán bộ, đảng viên đại bộ phận phải đưa lên căn cứ để bảo toàn lực lượng. Về tới gia đình vào mùng 4 tháng 5 (âm lịch), mẹ đồng chí Mão vui mừng khôn xiết gặp được con, nước mắt rưng rưng thương nhớ con, trong lòng bà muốn lưu giữ con để hỏi han thêm về công tác và sức khoẻ, nhưng vì nhiệm vụ cách mạng, bà nói ngay với Mão: “Con phải đến ngay nhà o Giáng, có các chú ở trên về đó”. Đồng chí Mão vội vã đến ngay nhà o Giáng lại gặp được đồng chí Mai Xuân Tranh là Chủ tịch uỷ ban nhân dân cách mạng xã cũng đang ở đó, đồng chí Tranh giới thiệu và trao đổi luôn: “Chú Khiêm và chú Thi ở trên huyện đưa về giao cho xã có trách nhiệm bảo vệ các chú, từ hôm nay Mão cùng đi và bố trí hầm bảo vệ chú Thi, còn tui sẽ cùng đi và bố trí hầm bảo vệ chú Khiêm” (4). Cuộc gặp mặt ban đầu thật đậm đà tình đồng chí, đồng đội, không còn sự ngăn cách giữa người chiến sĩ với thủ trưởng, Mão nhào đến ôm hôn chúng tôi với tình cảm thật thân thương, làm cho chúng tôi rất xúc động và gợi lên một niềm tin yêu, quý mến người chiến sĩ của mình.

Từ trước đó một tuần, anh Khiêm và tôi đã được an ninh huyện đưa đến ở nhà bà La Thị Giáng (o Giáng) để chăm nuôi và bảo vệ, Bà Giáng là một cơ sở cách mạng kiên trung, đã được thử thách trong khói lửa của cuộc chiến tranh cách mạng, có nhiều công lao đào hầm bí mật, nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ, tài liệu cơ quan Tỉnh, Huyện trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong kháng chiến chống Pháp, bà làm Trưởng ban cán sự phụ nữ thôn Nhì và là Uỷ viên Ban Chấp hành phụ nữ xã Phú phong. Chồng bà là liệt sĩ Đặng Phố, đã hy sinh năm 1953 và con gái bà là liệt sĩ Đặng Thị Bay, hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Mối thù nhà, nợ nước đã khắc sâu trong trái tim, khối óc của bà, dù phải chịu nhiều cực hình trong các đợt tố cộng, diệt cộng, các chiến dịch bình định, Phượng hoàng, gom dân lập ấp chiến lược và hai lần bị địch bắt tù giam ở lao Thừa Phủ, lao Thẩm vấn của cảnh sát ngụy, rồi một lần bị địch bắt đi đầy ở nhà tù Côn Đảo, song kẻ thù không thể nào khuất phục nổi ý chí cách mạng kiên cường của bà, cứ mỗi lần đi tù địch tha về, bà lại tìm bắt liên lạc với cán bộ để hoạt động.

Vừa qua, chúng tôi có dịp về thăm, bà đã trên 80 tuổi, lưng còng, sức yếu do bị địch tra tấn nhiều lần trong lao tù, nhưng vẫn minh mẫn với giọng nói sôi nổi kể lại từng chi tiết về các sự kiện đấu tranh với địch và nuôi dưỡng bảo vệ cán bộ. Bà tâm sự: “Không biết sao ngày đó tui lại thương anh em cán bộ, bộ đội, du kích đến thế! nhất là khi thấy anh em ta chiến đấu hy sinh tui lại càng căm thù thằng giặc, càng tưởng nhớ đến chồng, con tui đã hy sinh, càng nhớ đến công ơn của cách mạng, gia đình tui nghèo lắm, thế là tui lao vào hoạt động cách mạng chẳng sợ gì nguy hiểm, chẳng ngán gì đòn roi của kẻ thù. Từ sau lần ta đánh vào Huế năm 1968, địch quay lại trả thù, nhiều anh em ta hy sinh, số còn lại bạt hết lên rừng, tui phải tìm đường đóng vai đi buôn, từ Hà Thanh qua Lộc An lên vùng giáp ranh Phú Lộc bắt được liên lạc với người của mình, mừng quá, tui dụ luôn anh em mình về lại quê hương hoạt động phục hồi cơ sở”. Có những chuyện tưởng chừng đã bị lãng quên trong quá khứ, vậy mà bà vẫn nhớ rất kỹ và nhắc lại: “Hai chú còn nhớ không? Hôm đó mới ăn sáng xong, địch bắn pháo cấp tập, rồi đổ quân càn về đây, các chú đang phơi tập tài liệu và một xếp tiền ngụy bị ướt ở chỗ gốc chuối trước sân kia kìa, tui phải chạy vội ra gói lại cho các chú mới kịp đi với hai đứa Tranh và Mão”, rồi bà lại dắt chúng tôi ra vườn thăm lại chỗ hầm bí mật đã được bà nuôi giấu. Với công lao cống hiến cho cách mạng, bà La Thị Giáng đã được Đảng và Nhà nước khen thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng ba, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, thương binh loại 4/4.

Sáng mồng 5 tháng 5 (âm lịch), bà Hạnh mời chúng tôi đến gia đình hưởng tết Đoan Ngọ, với hương vị của một miền quê kháng chiến, chỉ có xôi, chè và nải chuối, song tình cảm thật ấm áp, chân quê và sâu nặng. Sáng hôm sau, chúng tôi vừa ăn sáng xong ở nhà bà Giáng, như mọi ngày, ba lô, tài liệu đã gọn gàng, bỗng pháo ở căn cứ Phú Bài bắn dữ dội về thôn Hà Trữ, xã phú Cường (nay là xã Vinh Thái), theo quy luật địch sẽ càn về vùng này, Tranh và Mão quyết định đưa chúng tôi đến hầm bí mật ở Rú Hà Thượng, xã Phú Cường, phải vượt qua một cánh đồng cát, vừa vào đến Rú thì gặp kỵ binh bay của Mỹ cùng nhiều phi đội máy bay HUIA chở lính đổ quân và bắn xối xả xuống vùng Rú, trúng đội hình chúng tôi đang đi, làm đồng chí Mão bị thương ở chân và tay do mảnh đạn M79. Vào đến địa điểm vùng hầm thì phát hiện không thấy anh Khiêm, do khi bị máy bay bắn cấp tập, lớn tuổi, anh đã không theo kịp, chúng tôi vô cùng lo lắng và dừng lại bàn bạc: “Phải bằng mọi giá tìm cho được anh Khiêm, đặt giả thuyết nếu anh bị thương, chúng ta phải cùng nhau đưa anh ra khỏi vòng vây của địch”.

Trong lúc đang bị thương, Mão xin được quay lại tìm và rất may đã gặp được anh Khiêm đang bị lạc trong Rú, mọi người hết sức mừng rỡ. Vết thương của Mão đã chảy nhiều máu, trong khi địch đã tiến đến gần, tôi xé áo băng lại vết thương cho Mão, nhờ Mão thông thạo địa hình và phán đoán chính xác hướng lên xã Phú Cường địch đang sơ hở, lại có vùng Rú nhiều cây cối che khuất, chúng tôi len lỏi vượt qua được vòng vây của địch về đến cơ sở ở thôn Dưỡng Mong B, xã Phú Cường. Vừa xuống hầm bí mật của gia đình ông Hoàng Sa, thì quân địch càn đến, suốt 5 ngày đêm nằm dưới hầm bí mật, được sự tiếp tế, che chở của gia đình ông Sa, chúng tôi vô cùng cảm phục tấm lòng yêu nước cao cả và khí tiết cách mạng kiên cường trước kẻ thù của người dân thật bình dị. Nằm dưới hầm, anh Khiêm và tôi đã nghe rành rọt tiếng kêu thóc thảm thiết của gia đình ông Sa do bị địch tra khảo, đánh đập dã man, hăm dọa đốt nhà nếu không chịu khai hầm bí mật nuôi giấu cán bộ “Việt Cộng”. Trước ngưỡng cửa của sự sống hay chết, nhà tan cửa nát phải lựa chọn! Vợ chồng, con cái ông Sa vẫn một mực chịu đựng cực hình, không hề nao núng và kiên quyết trả lời kẻ thù: “Gia đình tui không có hầm bí mật và không nuôi “Việt cộng” trong nhà!”.

Đã 37 năm trôi qua, nhớ lại những ngày sống và chiến đấu trong dân, chúng tôi càng thấy sâu sắc một chân lý là chỉ khi nào Đảng, cách mạng và cán bộ có trong lòng dân, thì dân sẽ vĩnh viễn tồn tại trong lòng Đảng, cách mạng và cán bộ. Đó là bài học điểm tựa trong lòng dân đã dạy chúng tôi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
vĩ đại của dân tộc.
PHAN VĂN LAI*

(nguồn: TCSH số 193 - 03 - 2005)

 


-------------------
* Thiếu tướng, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân.
(1) Chồng bà Lê Thị Hạnh là ông La Mạnh Hà (Hoàng Mạnh Lương). Năm 1972 vào lại chiến trường, nguyên Chánh văn phòng UBND cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế.
(2) Đồng chí La Đình Mão, hiện là Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế.
(3) Đồng chí Hồ Sỹ Ba, được Đảng và Nhà nước truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
(4) Đồng chí Nguyễn Thành Khiêm (Nguyễn Đình Bảy), nguyên Phó Ban An ninh khu và đồng chí Nguyễn Thi (Phan Văn Lai), nguyên Chánh Văn phòng Ban An ninh khu Trị Thiên Huế.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Có khi nào bạn lúng túng khó xử khi trong nhà có quá nhiều sách? Sách tự mua. Sách được tặng. Sách tự làm ra. Sách của ngày xưa. Sách mới bây giờ. Theo năm tháng, sách trong nhà cứ chất chồng lên mãi...

  • Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm vừa ban hành Quy chế về hoạt động giám định tác phẩm mỹ thuật - tác phẩm nhiếp ảnh. Quy chế này có hiệu lực từ ngày 1-10-2018 với yêu cầu 100% hội đồng tán thành mới đi đến kết luận cuối cùng về tác phẩm được giám định là thật hay giả…

  • Ngày 15/10, tại Hà Nội, Bộ VHTTDL đã tổ chức cuộc họp nhằm chuẩn bị cho phiên họp Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng các danh hiệu nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú (NSND, NSƯT) và danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú (NNND, NNƯT) năm 2018.

  • Nghệ thuật truyền thống dân tộc như: tuồng, chèo, cải lương, kịch hát dân tộc… đang kêu cứu, vì người xem ngày càng giảm, người theo nghề ngày càng hiếm. Hiện nghệ thuật truyền thống dân tộc đang thiếu hụt trầm trọng lực lượng thay thế trên tất cả các lĩnh vực, như diễn viên, nhạc công, biên kịch, đạo diễn…

  • Từ góc nhìn của nhà quy hoạch, Giám đốc SLAB, Đại học Nam California (Mỹ), GS. Annette Kim cho rằng, vỉa hè đa chức năng là một phần tạo nên thành phố sôi động, bền vững, đóng góp vào sinh hoạt cộng đồng.

  • Kết thúc loạt bài này, chúng tôi mong muốn, những nhận thức về văn hóa ngày càng hoàn thiện tiến gần đến giá trị cốt lõi nhất của văn hóa: Hình thành nhân cách con người và cốt cách của một dân tộc, trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng để đất nước phát triển bền vững.

  • Hiện nay, nguy cơ mai một giá trị truyền thống làng xã rất lớn, ở cả chiều rộng và chiều sâu. Việc bảo tồn các giá trị di sản trong quá trình quy hoạch không gian kiến trúc làng không thể chậm trễ và trì hoãn. Trong đó, bảo tồn thích ứng và phát triển tiếp nối là phương thức mà giá trị tinh thần của di sản được kế thừa, hoàn thiện.

  • Chỉ đạo nghệ thuật được ví như người giữ lửa, bảo đảm khuynh hướng nghệ thuật, phong cách sáng tạo của đơn vị. Tuy nhiên, nhiều nhà hát của Hà Nội đang thiếu đội ngũ chỉ đạo nghệ thuật tài năng, chuyên nghiệp, dẫn tới sáng tạo ít mang tính đương thời, chưa có nhiều tác phẩm đỉnh cao có thể cạnh tranh với các loại hình nghệ thuật khác.

  • Mặt nạ giấy bồi, đèn kéo quân, tàu thủy sắt tây... từng mang lại niềm vui cho biết bao đứa trẻ mỗi độ Tết Trung thu. Nhưng trước sự phát triển của xã hội, những món đồ chơi truyền thống này liệu có cần thay đổi để đáp ứng thị hiếu trẻ nhỏ “thời 4.0”?

  • Vài năm trở lại đây, thị trường sách thiếu nhi trong nước đã có những chuyển biến với nhiều tín hiệu khởi sắc, nhưng vẫn cần nhiều cú hích để thực sự ổn định.

  • Dù trẻ con ngày nay ít còn chơi đèn kéo quân nữa, nhưng mỗi mùa Trung thu đến, gần ngày rằm tháng 8, nghệ nhân Vũ Văn Sinh lại cặm cụi làm những chiếc đèn truyền thống để giữ nghề, hoài niệm tuổi thơ và tưởng nhớ tổ tông.

  • Năm 2018, cải lương đánh dấu sự xuất hiện đúng 100 năm trên mảnh đất Nam bộ. Ngoài vở diễn “Thầy Ba Đợi” tri ân người khai sáng bộ môn nghệ thuật này, bộ phim “Song Lang” cũng ra mắt công chúng để góp thêm tình yêu cho khán giả hôm nay đối với loại hình sân khấu độc đáo trong tâm thức cư dân mở đất. Con đường đã qua của cải lương rất nhiều thành tựu, nhưng con đường phía trước của cải lương cũng không ít thử thách!

  • Dù còn nhiều khó khăn nhưng giới bạn đọc đang dần tiếp cận và sử dụng những sản phẩm trong cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 để có thể thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận thông tin hữu ích. 

  • Vùng đất phía Tây Hà Nội còn nhiều ngôi đình làng là biểu tượng của vùng xứ Đoài, với những giá trị đặc sắc về kiến trúc và điêu khắc. Tuy nhiên, hiện nay, các ngôi đình này đối diện với nguy cơ xuống cấp và bị hủy hoại. Đã có rất nhiều công trình bị “trùng tu như phá”, gần đây nhất là tại đình Lương Xá, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa.

  • Mong muốn nghiên cứu, phục dựng, bảo tồn lại các nét đẹp trong văn hóa truyền thống của Việt Nam, ngày 8-8, Ỷ Vân Hiên với đội ngũ các bạn trẻ chuyên nghiệp, có kiến thức chuyên môn cùng với lòng nhiệt thành, sức sáng tạo mạnh mẽ đã ra mắt tại Hà Nội.

  • Trong 6 tháng đầu năm 2018, ngành xuất bản đã gây được tiếng vang trong xã hội với nhiều cuốn sách có nội dung tốt, mang tính thời sự... Số lượng xuất bản phẩm vi phạm về nội dung có giảm so với cùng kỳ năm 2017 nhưng vẫn chưa có giải pháp khắc phục triệt để.

  • Tiếp bước sự sáng tạo với sơn mài của các bậc thầy thời kỳ hội họa Đông Dương, ngày nay nghệ thuật sơn mài đương đại vẫn kế thừa và phát triển với nhiều lối biểu hiện và tìm tòi mới. Tuy nhiên, bên cạnh hiệu quả nghệ thuật, nhiều sáng tạo cũng gây tranh luận.

  • Tính đến thời điểm này, Việt Nam có 12 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh. Thế nhưng, bên cạnh niềm vinh dự thì những danh hiệu cũng đang tạo ra nhiều sức ép không nhỏ với các nhà quản lý văn hóa trong công tác quảng bá, bảo tồn và phát triển.

  • Tuồng là môn nghệ thuật sân khấu truyền thống độc đáo của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, cũng giống như những loại hình nghệ thuật truyền thống khác, tuồng đang đứng trước nguy cơ mai một. Ở đó việc bảo tồn để duy trì và phát triển nghệ thuật tuồng đang là “bài toán” không dễ gì tìm được câu trả lời thấu đáo.

  • “Ok (đồng ý) hay không thì mày nhớ confirm (xác nhận) cho người ta nha”; “giao đứa nào set up (sắp xếp) vụ này ngay và luôn đi chứ hứa rồi bỏ đó không hà”; “go now (đi ngay), mà free (miễn phí) thiệt hả?”; “nay được ở nhà full (cả) ngày”… Đó là vài trong số những câu Tây không ra Tây, ta chẳng ra ta mà giới trẻ Việt đang sử dụng trong cuộc sống hàng ngày.