PHẠM TUẤN VŨ
Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, địa danh không chỉ xuất hiện với số lượng lớn, tần số cao, mật độ đồng đều mà còn đem lại nhiều giá trị thẩm mĩ quan trọng.
Địa danh Lục Tháp thành (thành Hoàng Đế ở Bình Định) được Nguyễn Du nhắc đến trong bài 'Ức gia huynh'
Đặc biệt hơn, đa số trong hệ thống địa danh đó không phải là các địa danh văn hóa - lịch sử như trong thơ của các tác giả khác ở thời trung đại. Chủ yếu trong ba tập thơ của Nguyễn Du là các địa danh gắn với những nơi mà nhà thơ đặt chân đến. Ngoài ra, bên cạnh địa danh Trung Quốc, trong thơ chữ Hán Nguyễn Du còn có một lượng lớn là địa danh Việt Nam. Đây là một điều đặc biệt, hiếm gặp trong thơ chữ Hán nói riêng, thơ Việt thời trung đại nói chung.
1. Kết quả thống kê và nhận xét
Khảo sát hệ thống địa danh trong 250 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du(1) trong ba tập Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục, có thể thấy, địa danh xuất hiện trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du mang các đặc điểm quan trọng, độc đáo như sau.
Thứ nhất, địa danh được Nguyễn Du nhắc đến trong thơ chữ Hán của mình với số lượng rất lớn và tần số xuất hiện cao: 198 địa danh với 350 lần xuất hiện, trung bình một bài thơ có 1,4 lượt địa danh. Đây là điều ít gặp trong thơ trung đại nước ta.
Thứ hai, về nguồn gốc, bên cạnh địa danh nước ngoài (chủ yếu có nguồn gốc Trung Hoa với 142 địa danh, chiếm 71,7%), trong thơ chữ Hán Nguyễn Du còn có địa danh Việt với một số lượng khá lớn (55 địa danh, 27,8%), chủ yếu là các địa danh gắn liền với những giai đoạn quan trọng của nhà thơ: quê nhà và tuổi thơ gắn với Hà Tĩnh, Thăng Long (Quỳnh Hải, Lam giang, Hồng lĩnh, Tản lĩnh, Tây hồ, Dâm đàm, Trường An…), mười năm gió bụi (Vị Hoàng giang, Càn Hải từ, Tam Điệp sơn, Phú Nông giang…), làm quan tại Huế (Hương giang, Ngự Bình sơn, Hương Cần, Thiên Thai tự…), làm cai bạ tại Quảng Bình (Hành sơn, Linh giang, Trạm nguyên, Yến đảo, Lệ thủy…), đi nghênh sứ ở Lạng Sơn (Lạng thành, Nhị Thanh động, Quỷ Môn quan)… Trong thơ chữ Hán nước ta, địa danh Việt đã được nhắc đến nhưng xuất hiện với một số lượng lớn như trong thơ của Nguyễn Du là trường hợp đặc biệt.
Thứ ba, nếu như chủ yếu trong thơ chữ Hán nước ta là các địa danh lịch sử - văn hóa thì trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, bộ phận địa danh này chiếm tỉ lệ nhỏ (32 địa danh, 16,2%). Địa danh địa lí - thực địa gắn với bước chân của thi hào mới là bộ phận chủ đạo, chiếm vị trí áp đảo (166 địa danh, 83,8%). Đây là một trường hợp hiếm thấy trong văn học trung đại Việt Nam. Nếu như phần lớn các tác giả khác nhắc đến địa danh với tư cách là điển cố được dẫn dụng để nói thay một nội dung tư tưởng nào đó thì Nguyễn Du gần như ngược lại. Ông nói đến những địa danh nơi mà mình đã đi qua, miêu tả về chúng và những địa danh ấy là chất xúc tác để nhà thơ bộc lộ cảm xúc, tư tưởng của mình. Đây là một biểu hiện quan trọng của sự phá vỡ tính quy phạm trong thơ chữ Hán Tố Như.
Thứ tư, theo lĩnh vực, hệ thống địa danh trong thơ của Nguyễn Du vô cùng phong phú với nhiều loại hình khác nhau. Thủy danh gồm các địa danh liên quan đến sông nước, gồm sông (giang, hà, nguyên, thủy, như La Phù giang, Hoàng hà, Trạm nguyên, Dịch thủy), đầm (đàm, như Dâm đàm, Đào Hoa đàm), hồ (như Động Đình hồ), bến (tân, như Mạnh tân), biển (hải, như Bắc hải), cửa sông (khẩu, như Giang Hán khẩu)... Sơn danh gồm những địa danh liên quan đến núi rừng, gồm núi (lĩnh, sơn, như Tản lĩnh, Ngự Bình sơn), rừng (lâm, như Sở lâm), động (như Nhị Thanh động)... Địa danh chỉ công trình xây dựng gồm có miếu (như Quan Âm miếu), chùa (tự, như Thiên Thai tự), đền (từ, như Mạnh Tử từ), cầu (kiều, như Hoàng Mai kiều), gác (các, như Văn Xương các), lầu (lâu, như Nhạc Dương lâu), cửa khẩu (quan, như Vũ Thắng quan), lăng (như Chiêu lăng), mộ (như Chu Lang mộ)… Địa danh hành chính gồm có thôn (như Nam Đài thôn), làng (lý, như Kinh Kha cố lý), châu (như Từ châu), huyện (như Hoạt, Tuấn [nhị huyện]), thành (như Ninh Công thành)… Trong đó, bên cạnh địa danh hành chính (xuất hiện nhiều vì Nguyễn Du từng đến nhiều nơi), địa danh tự nhiên mà chủ yếu là sơn danh và thủy danh có số lượng rất lớn (82 địa danh, 41,4%). Địa danh chỉ công trình xây dựng cũng xuất hiện khá nhiều (26 địa danh), chủ yếu là chùa, miếu, lăng, mộ… Hai bộ phận địa danh này chắc chắn có ảnh hưởng nhất định đến không gian nghệ thuật trong thơ chữ Hán Nguyễn Du.
Cuối cùng, về đặc điểm cấu tạo, địa danh trong thơ Nguyễn Du có cả hai bộ phận: Địa danh có cấu tạo đầy đủ theo mô hình phức thể địa danh (yếu tố riêng, tức tên riêng + yếu tố chung, tức loại hình địa danh, như Vị Hoàng giang, Thanh Thảo thôn) và địa danh có cấu tạo rút gọn (chỉ có yếu tố riêng, như Nghệ An, Lỗi Dương). Trong đó, bộ phận địa danh có cấu tạo đầy đủ chiếm tỉ lệ cao hơn (115 địa danh, 58,1%). Đặc điểm này cũng mang lại những giá trị thẩm mĩ nhất định cho sáng tác của Nguyễn Du mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.
2. Ý nghĩa thẩm mĩ của địa danh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
2.1. Cùng với các đối tượng được phản ánh khác, hệ thống địa danh góp phần gia tăng yếu tố hiện thực trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Ý nghĩa thẩm mĩ này chủ yếu thuộc về bộ phận địa danh địa lí - thực địa.
Những con số nói lên điều này. Với 166 địa danh, xuất hiện 306 lần (chiếm 87,4% trong tổng số 350 lượt địa danh) với mật độ 1,2 địa danh/bài, địa danh thực tại là bộ phận chủ đạo, thể hiện rõ vai trò tăng cường yếu tố hiện thực trong thơ chữ Hán của Tố Như.
GS. Nguyễn Lộc cho rằng, thơ chữ Hán Nguyễn Du “có tính chất nhật ký, bút ký”(2). Thật vậy, có thể ba tập thơ xem là những tập nhật kí được Nguyễn Du ghi chép một cách đầy đủ, chân thực không chỉ tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ mà còn cả những “những điều trông thấy”, những nơi mà thi nhân từng đi qua. Hầu như đến với địa phương nào, Nguyễn Du đều ghi lại những nét chính về thiên nhiên và cuộc sống con người ở địa phương đó. Chẳng hạn, trong những ngày làm cai bạ tại Quảng Bình, Nguyễn Du có bài Tái thứ nguyên vận miêu tả một cách cụ thể, sinh động hai dòng sông lớn ở đây: Trạm nguyên lưu thủy phát sơn thôn/ Nhật Lệ triều đầu dũng hải môn (Sông Trạm nước chảy bắt nguồn từ các làng vùng núi/ Sóng Nhật Lệ vỗ mạnh ngoài cửa biển). Đến Lạng Sơn, ông viết về cái hoang sơ, dữ dội của thiên nhiên nơi ải Quỷ Môn: Quỷ môn thạch kính xuất vân căn (Đường đá ở Quỷ Môn từ chân mây đi ra, bài Quỷ Môn đạo trung). Hay như, trong hành trình đi sứ trên đất Trung Hoa, Nguyễn Du đã ghi lại một cách khá chân thực, đầy đủ tình cảnh bất ổn, loạn lạc của người dân tại những địa phương nơi có nạn binh đao, trộm cướp, mất mùa mà ông và phái đoàn sứ bộ chứng kiến hoặc nghe kể lại: Hoạt, Tuấn nhị huyện tề xung binh/ Tặc sát quan lại thập bát cửu/ Mãn thành tây phong xuy huyết tinh/ Cánh hữu Sơn Đông, Trực Lệ dao tương ứng… Kim nhật Vệ Châu trở đạo tặc… Chỉ hữu xuân tác vô thu thành/ Hồ Nam, Hà Nam cửu vô vũ (Hai huyện Hoạt, Tuấn cùng nổi binh/ Quan lại mười người giặc giết đến tám, chín./ Khắp thành gió tây thổi máu tanh/ Lại thêm Sơn Đông, Trực Lệ ở xa cùng hưởng ứng… Hôm nay Vệ Châu nổi giặc cướp… Mùa xuân có cấy cày nhưng mùa thu không gặt được / Hồ Nam, Hà Nam đã lâu không mưa, bài Trở binh hành). Rõ ràng, được phản ánh bằng một cảm quan hiện thực sâu sắc, địa danh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du phần lớn đều mang giá trị hiện thực đậm nét, góp phần quan trọng vào việc tăng cường chất hiện thực cho thơ của Tố Như.
Bên cạnh tính nhật kí, bút kí, thơ chữ Hán Nguyễn Du, đặc biệt là tập Bắc hành tạp lục, mang tính du kí rõ nét. Hầu như đi đến đâu nhà thơ đều ghi lại những nét chính của cảnh và người nơi đó cũng như cảm xúc của mình khi đặt chân đến. Đi qua các tỉnh Bắc Trung bộ, ông có các bài Phượng Hoàng lộ thượng tảo hành, Thủy Liên đạo trung tảo hành,... Vào Huế nhậm chức, có một số bài về Huế như Thu chí, Vọng Thiên Thai tự,… Làm quan tại Quảng Bình, có nhiều bài về nơi đây như Độ Linh giang, Nễ giang khẩu hương vọng, Tân thu ngẫu hứng… Làm quan tại Bắc Hà, có các bài La Phù giang thủy các độc tọa, Thanh Quyết giang vãn diểu,… Trên đường lên Lạng Sơn đi nghênh sứ và sau đó là đi sứ, có nhiều bài về xứ Lạng như Lạng Sơn đạo trung, Quỷ Môn đạo trung, Đề Nhị Thanh động, Nam Quan đạo trung,… Đặc biệt, trong hơn một năm ròng rã trên đất Bắc, Nguyễn Du đã vết rất nhiều bài về những nơi mình đã đi qua: Minh giang chu phát, Ninh Minh giang chu hành, Tam Giang khẩu đường dạ bạc, Thái Bình thành hạ văn xuy địch, Sơn Đường dạ bạc, Thương Ngô mộ vũ, Quế Lâm công quán, Tương Âm dạ, Nhiếp Khẩu đạo trung, Vũ Thắng quan, Hoàng Hà trở lạo, Tây Hà dịch,… Điều này lí giải tại sao địa danh địa lí - thực địa xuất hiện với một số lượng rất lớn trong thơ của Nguyễn Du. Có thể nói, qua hệ thống địa danh trong thơ chữ Hán, có thể hình dung phần lớn những hành trình quan trọng trong cuộc đời của Nguyễn Du. Bởi các địa danh ấy đã phản ánh gần như đầy đủ, chính xác những nơi mà bước chân của thi hào đặt tới.
2.2. Cùng với giá trị hiện thực, địa danh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du còn phản ánh gần như trọn vẹn tâm trạng, cảm xúc cũng như nhiều quan niệm triết lí nhân sinh của tác giả. Giá trị thẩm mĩ này thuộc về cả hai bộ phận địa danh lịch sử - văn hóa và địa danh địa lí - thực địa.
Bộ phận địa danh lịch sử - văn hóa, tức những điển cố địa danh chủ yếu lấy trong kho tàng lịch sử, văn hóa của Trung Hoa thời cổ trung đại, đã giúp nhà thơ nói thay nhiều tâm sự. Để nói về lòng cô trung, nhà thơ mượn hai địa danh Bình Chương và Cô Trúc(3): Bình Chương di hận hà thời liễu/ Cô Trúc cao phong bất khả tầm (Nỗi hận Bình Chương để lại biết khi nào nguôi/ Phong cách cao thượng của người Cô Trúc không thể tìm, bài My trung cảm hứng). Hay như, để nói thay hoàn cảnh ở ẩn nghèo túng và thái độ không muốn ra làm quan, tác giả mượn hai điển có chứa địa danh là Nam Sơn đậu và Bắc Hải tôn(4): Điền gia bất trị Nam Sơn đậu/ Bần hộ thường không Bắc Hải tôn (Là nhà nông nhưng không trồng đậu Nam Sơn/ Nhà nghèo nên vò rượu Bắc Hải luôn trống, bài Ký Huyền Hư tử). Để nói lên thái độ bất bình trước những thế lực đen tối đã gây ra bi kịch cho Khuất Nguyên, Nguyễn Du dẫn địa danh Mịch La, tức con sông nơi tác giả Ly tao trầm mình: Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan/ Địa địa xứ xứ giai Mịch La (Đời sau ai ai cũng là Thượng Quan/ Đâu đâu cũng là dòng Mịch La, bài Phản Chiêu hồn)…
Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du hiện lên là con người suốt đời phải làm kiếp tha hương, tấm thân nổi trôi, phiêu dạt (Tha hương thân thế thác phù vân), bao giờ cũng ngậm ngùi, đau đáu một tấc lòng quê (Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ). Hệ thống địa danh trong thơ ông đã góp phần nói thay tâm sự này. Cho nên, không ngẫu nhiên mà những địa danh gắn với quê nhà xuất hiện với tần số rất cao trong ba tập thơ: Hồng lĩnh và Hồng sơn (23 lần), Lam giang (11 lần), Quỳnh Hải (5 lần), Quế giang (3 lần). Và những câu thơ có nhắc đến các địa danh này bao giờ cũng là những vần thơ cảm động mà Tố Như viết về quê hương, gia đình, bạn cũ: Hồng lĩnh vô gia, huynh đệ tán (Nơi núi Hồng không còn nhà, anh em tan tác, bài Quỳnh Hải nguyên tiêu), Lam thủy Hồng sơn vô hạn thắng (sông Lam, núi Hồng đẹp vô cùng, bài Phúc Thực Đình), Hồng lĩnh thân bằng nhật tiệm dao (Người thân, bạn bè chốn núi Hồng ngày một xa, bài Lạng thành đạo trung),…
Nguyễn Du tự nhận mình là con người của nỗi trường ưu (Thiên tuế trường ưu vị tử tiền) với những nỗi u buồn không thể nói ra được. Những tâm sự sâu kín ấy nhà thơ ví như nước con sông Quế quê mình: Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ/ Hồng sơn sơn hạ Quế giang thâm (Ta có tấc lòng không biết nói cùng ai/ [Tấc lòng ấy] sâu như nước sông Quế dưới chân núi Hồng).
Trong các sáng tác của mình, Tố Như từng nêu ra nhiều quan niệm tiến bộ về người phụ nữ. Trong thơ chữ Hán, Vọng Phu thạch là một địa danh quan trọng, được nhà thơ kí thác vào đó một quan niệm đi trước thời đại. Trên đường qua Lạng Sơn, bắt gặp hình ảnh hòn Vọng Phu đứng trơ trọi ngàn năm và câu chuyện nàng Tô thị ôm con chờ chồng hóa đá, bằng cảm hứng phản biện, trong bài thơ cùng tên, Nguyễn Du nêu ra quan điểm đi ngược với tất cả mọi người. Nếu người đời cho đó là biểu tượng của tiết hạnh trung trinh, của lòng thủy chung sắt đá thì Tố Như lại tỏ ra bất bình, xót xa khi nhận ra hòn Vọng Phu chẳng khác nào hiện thân của nỗi bi kịch ngàn năm mà người phụ nữ trong xã hội phong kiến phải chịu đựng. Đó là bi kịch phải đánh đổi hạnh phúc, kể cả hạnh phúc bản năng, để giữ gìn một chữ trinh cứng nhắc: Vạn kiếp diểu vô vân vũ mộng/ Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân (Muôn kiếp không biết mộng mây mưa nữa/ [Chỉ vì] một chữ trinh mà tấm thân phải lưu giữ đời đời).
2.3. Đối với việc kiến tạo ngôn ngữ thơ chữ Hán Nguyễn Du, hệ thống địa danh có vai trò nhất định. So với những danh từ chung, địa danh là những danh từ riêng, thường mang tính khái quát, trừu tượng hơn. Việc huy động sử dụng một lượng rất lớn địa danh đã giúp cho ngôn ngữ thơ của Nguyễn Du thêm phần hàm súc, khái quát, trang trọng, phù hợp với đặc điểm phong cách ngôn ngữ của thơ chữ Hán truyền thống.
Mặt khác, địa danh với tính chính xác, cụ thể của nó đã thể hiện vai trò quan trọng vào việc kiến tạo nên lớp ngôn ngữ thơ mang tính chính xác, chân thực, giàu sức gợi tả và biểu cảm. Đặc biệt, phần lớn trong thơ chữ Hán Nguyễn Du là bộ phận địa danh có cấu tạo đầy đủ (gồm yếu tố riêng + yếu tố chung, như Tương Sơn tự, Tô Tần đình, Lưu Linh mộ, Dự Nhượng kiều, Việt Tây sơn, Đào Hoa đàm,… với 115 địa danh, 58,1%), mang tính xác định cao đã thể hiện rõ vai trò trên.
Hơn nữa, hệ thống địa danh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du mang tính đa dạng, phong phú trên nhiều phương diện (nguồn gốc, cấu tạo, tính chất, loại hình…). Nhiều địa danh cùng một loại hình nhưng được gọi tên bằng nhiều yếu tố chung khác nhau. Ví dụ, cùng là núi nhưng trong thơ Nguyễn Du có lĩnh (Hồng lĩnh, Tản lĩnh), sơn (Hồng sơn, Hoành sơn, Thiên Nhẫn sơn, Ni sơn, Đông A sơn), có khi chỉ có tên riêng (Bình Chương, Côn Lôn); cùng là sông nhưng có giang (Cẩm La giang, Đồng Lung giang), hà (Hoài hà, Hoàng hà), thủy (Dịch thủy, Lệ thủy, Tiêu thủy), nguyên (Trạm nguyên), có lúc chỉ gọi bằng tên riêng (Tang Càng, Mịch La, Vị, Kinh). Ở nhiều trường hợp, cùng một đối tượng địa lí nhưng Nguyễn Du thường gọi bằng những tên khác nhau, chẳng hạn, cùng là núi Hồng nhưng nhà thơ có khi gọi là Hồng lĩnh, có lúc gọi Hồng sơn; cùng là xứ Lạng nhưng có khi là Lạng Sơn, lúc là Lạng thành; cùng là sông Luộc nhưng lúc được gọi là Phú Nông giang, lúc thì gọi là Nông thủy... Ngoài ra, cách định danh của Nguyễn Du trong nhiều bài cũng khá độc đáo, chẳng hạn, ông không gọi “làng” mà gọi là “làng cũ” khi đến thăm quê nhà của một số danh nhân Trung Hoa như ở các địa danh Lạn Tương Như cố lý, Kinh Kha cố lý, Nhị sơ cố lý,… Những điều này góp phần làm cho ngôn ngữ thơ chữ Hán Tố Như thêm phong phú, sinh động và nhiều sắc thái.
Có thể nói, 250 bài thơ của Nguyễn Du là đỉnh cao của thơ chữ Hán nước ta. Thơ chữ Hán Nguyễn Du vừa đạt trình độ mẫu mực của thi pháp thơ luật Đường vừa có những bứt phá cách tân quan trọng trên nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức thể hiện. Hệ thống địa danh được nhắc đến với số lượng lớn, tần suất xuất hiện cao; đa dạng về nguồn gốc (đặc biệt với sự gia tăng đáng kể địa danh Việt), tính chất, cấu tạo, lĩnh vực; mang lại nhiều giá trị thẩm mĩ quan trọng, đặc sắc cho thơ chữ Hán của Tố Như là một biểu hiện tiêu biểu.
P.T.V
(SHSDB28/03-2018)
--------------
1. Văn bản được sử dụng để khảo sát là Nguyễn Du toàn tập, tập 2, Mai Quốc Liên và Vũ Tuân Sán dịch nghĩa, chú giải, Nxb. Văn học, H., 2015.
2. Nhiều tác giả, Từ điển văn học, bộ mới, Nxb. Thế giới, H., 2004, tr. 1122.
3. Núi Bình Chương. Trương Thế Kiệt phò Tống Đế Bính chống quân Nguyên nhằm khôi phục nhà Tống. Về sau, khởi nghĩa thất bại, bèn lên thuyền chạy về núi Bình Chương. Trên đường về, gặp bão, thuyền đắm, Trương Thế Kiệt chết, cơ nghiệp kháng Nguyên phục Tống cũng mất theo.
Cô Trúc là một nước nhỏ lập vào đời Ân. Vua nước này là Á Vi có hai người con là Bá Di và Thúc Tề. Khi nhà Chu chiếm nhà Ân, Di và Tề bỏ lên núi Thú Dương ở ẩn, nhịn đói mà chết, quyết không ăn rau thóc nhà Chu. Cả hai điển Bình Chương và Cô Trúc trong văn học đều chỉ cho lòng cô trung.
4. Nam Sơn đậu, tức đậu trên núi Nam Sơn. Đời Hán Tuyên Đế, Dương Vận mất chức, về nhà làm bài thơ ví mình như cây đậu trên núi Nam Sơn vì núi rậm rạp mà cây xơ xác nhằm trách vua Hán để triều đình nhiễu nhương khiến người hết lòng phò tá như ông bị bỏ rơi. Nguyễn Du viết “không trồng đậu Nam Sơn”, ý nói mình không muốn ra làm quan.
Bắc Hải tôn là chén rượu ở Bắc Hải. Đời Hán, Khồng Dung làm thái thú Bắc Hải, nhà lúc nào cũng đông khách, rượu không bao giờ thiếu. Nguyễn Du viết “vò rượu Bắc Hải luôn trống” ý muốn nói gia cảnh mình nghèo.
Tải mã QRCode
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP...Nguyễn Huy Thiệp không phải là người duy nhất đổi mới phương thức trần thuật. Trước ông đã có Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng... tích cực mở đường. Nhưng phải đến Nguyễn Huy Thiệp thì sự khai phóng về tư tưởng nghệ thuật mới được thể hiện một cách đậm nét. Tất cả được Nguyễn Huy Thiệp kiến tạo qua một trò chơi đầy tính bất ngờ. Giống như người nghệ sĩ ba lê tài năng, Nguyễn Huy Thiệp trình diễn một thế giới đa sắc trên đầu những đầu mũi ngón chân. Những ngón chân ấy bám trụ vào hiện thực một cách tinh diệu, xoay chuyển một cách nhịp nhàng với những vòng quay, những vũ điệu ngôn từ...
PHAN NGỌC THUTrong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, Xuân Diệu (1916-1985) là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất, đồng thời cũng là nhà phê bình văn học kiệt xuất. Từ những bài tranh luận văn học sôi nổi thời Thơ Mới (1932-1945) đến Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958); từ Phê bình giới thiệu thơ (1960) đến Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập I (1981), tập II (1982) và Công việc làm thơ (1984)... "chỉ tính riêng các tác phẩm lý luận phê bình, đã có thể gọi Xuân Diệu là một đại gia"(1)
BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v..v...
HÀ KHÁNH CHINgày 20 - 3 - 2003, siêu cường lớn nhất mọi thời đại là đế quốc Hoa Kỳ đã mở đầu cuộc chiến tranh kỳ quái nhất trong lịch sử bằng cách tấn công Iraq sau khi đã bắt quốc gia này phải tự phá huỷ vũ khí tự vệ của chính họ. Đó là bài học chưa hề thấy về chút hy vọng cuối cùng mà lương tri nhân loại có thể đòi hỏi. Để có thể hiểu rõ hơn những gì đang xảy ra hôm nay - có lẽ cũng rất cần ôn lại một trong những vấn đề lớn nhất mà loài người có thể nghĩ tới: cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây gần 30 năm.
HOÀNG ĐĂNG KHOA Văn học Việt từ sau 1975, nhất là từ thời kỳ đổi mới, là một quá trình văn học rất phong phú, đa dạng và không ít phức tạp, lại còn đang tiếp diễn. Cuốn sách Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy ra đời đáp ứng nhu cầu mang tính thời sự: nhu cầu nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện về tiến trình văn học ba mươi năm qua, chuẩn bị cho sự ra đời của những công trình văn học sử và những chuyên khảo về giai đoạn văn học này.
NGUYỄN QUANG HÀTrong đời có những bài thơ người ta quên, mà chỉ nhớ một câu nằm lòng. Bởi đó là những câu thơ thực sự, những câu thơ thi sĩ. Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về thơ: Thơ là tiếng hát của trái tim; Thơ là hạt muối kết tinh của tình cảm; Thơ là phút giây rung động của tâm hồn... Nói chung, những định nghĩa ấy cho ta hiểu rằng ở đâu có được sự rung động của trái tim thì ở đó có thơ.
ĐỖ LAI THUÝPhê bình văn học Việt Nam, sau sự khởi nguồn của Thiếu Sơn với Phê bình và Cảo luận (1933) chia thành hai ngả. Một xuất phát từ Phê bình để trở thành lối phê bình chủ quan ấn tượng với Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam (1942). Lối kia bắt nguồn từ Cảo luận tạo nên phê bình khách quan khoa học với Vũ Ngọc Phan của Nhà văn hiện đại (1942), Trần Thanh Mai của Hàn Mặc Tử (1941), Trương Tửu của Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1945). Sự phân chia này, dĩ nhiên, không phải là hành chính, mà là khoa học, tức sự phân giới dựa trên những yếu tố chủ đạo, nên không phải là không thể vượt biên. Bởi, mọi biên giới đều mơ hồ hơn ta tưởng, nhất là ở khoa học văn chương.
LTS: Marcel Reich-Ranicki, sinh năm 1920, người ở Đức được mệnh danh là "Giáo hoàng văn học", là nhà phê bình văn học đương đại quan trọng nhất của CHLB Đức. "Một lời biện hộ cho thơ" là bài thuyết trình đọc vào ngày 30.11.1980 nhân dịp ra mắt Tập 5 của "Tuyển thơ Frankfurt" trong khuôn khổ chuyên mục thơ của nhật báo "Frankfurter Allgemeine Zeitung" (FAZ) mà tác giả là chủ biên phần văn học từ 1973 đến 1988.Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài "Một lời biện hộ cho thơ" của ông sau đây do dịch giả Trương Hồng Quang thực hiện.
TRẦN HUYỀN SÂMGeorge Sand (1804-1876) là một gương mặt độc đáo trên văn đàn Pháp thế kỷ XIX. Cùng thời với những cây bút nổi tiếng như: A.Lamartine, V.Hugo, A.Vigny, A.Musset... nữ sĩ vẫn tạo cho mình một tầm vóc riêng không chìm khuất. George Sand bước vào thế giới nghệ thuật bằng một thái độ tự tin và một khát vọng sáng tạo mãnh liệt. Với hơn hai mươi cuốn tiểu thuyết đồ sộ, G.Sand đã trở thành một tên tuổi lừng danh ngay từ đương thời. Dĩ nhiên, bà lừng danh còn bởi nhiều mối tình bất tử, trong đó có nhà thơ Pháp nổi tiếng A.Musset và nhạc sĩ thiên tài Chopin người Ba Lan.
PHẠM QUANG TRUNGCó lần, dăm ba người có thiên hướng lý luận chúng tôi gặp nhau, một câu hỏi có thể nói là quan thiết được nêu ra: trong quan niệm văn chương, e ngại nhất là thiên hướng nào? Rất mừng là ý kiến khá thống nhất, tuy phải trải qua tranh biện, không đến nỗi quyết liệt, cũng không phải hoàn toàn xuôi chiều hẳn. Có lẽ thế mới hay!
NGUYỄN HỮU HỒNG MINH1- "Thơ trẻ- Những giá trị mới" là một "mưu mô" của nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn và nhóm "Văn nghệ mới" (bao gồm Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Vĩnh Tiến, Dạ Thảo Phương... và một số người khác) dự tính tập hợp, tuyển chọn 1 tuyển thơ của 10 (hay nhiều hơn) tác giả trẻ từ 30 tuổi trở xuống, xuất hiện trong vòng 3 năm cuối cùng của thế kỉ để trình làng giới thiệu chân dung thế hệ mình.
NGUYỄN HOÀN Trịnh Công Sơn là một hiện tượng độc đáo của âm nhạc và văn hoá Việt Nam được ái mộ không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Vì thế mà từ khi ông qua đời đến nay đã có trên chục đầu sách viết về ông, một số lượng hiếm thấy đối với các nhạc sĩ khác. Gần đây có cuốn “Trịnh Công Sơn vết chân dã tràng” của Ban Mai do Nhà xuất bản Lao Động, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2008. Với niềm ngưỡng mộ tài hoa và nhân cách nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi đã hăm hở tìm đọc cuốn sách mới này nhưng tiếc thay, chưa kịp trọn nỗi mừng đã phải thất vọng về những trang viết đánh giá đầy sai lệch và thiếu sót, phiến diện về Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam.
HOÀNG QUỐC HẢIThơ Lý - Trần có mạch nguồn từ Đinh - Lê, nếu không muốn nói trước nữa. Rất tiếc, nguồn tư liệu còn lại cho chúng ta khảo cứu quá nghèo nàn.Nghèo nàn, nhưng cũng đủ tạm cho ta soi chiếu lại tư tưởng của tổ tiên ta từ cả ngàn năm trước.
NGUYỄN VĂN THUẤN (Nhóm nghiên cứu - lý luận phê bình trẻ)Thời gian gần đây, tại Việt , các tác phẩm của nhà văn Nhật Bản H.Murakami thường xuyên được dịch và xuất bản. Là một giọng nói hấp dẫn trên văn đàn thế giới, sáng tác của ông thu hút đông đảo công chúng và dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình. Một trong những tiểu thuyết làm nên danh tiếng của ông là Rừng Nauy.
PHAN TÂMQuê hương Phan Đăng Lưu, xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, cách Kim Liên, Nam Đàn, quê hương Hồ Chí Minh khoảng 60 km.Hai nhân cách lớn của đất Nghệ An. Không hẹn mà gặp, xuất phát từ lương tri dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đến chủ nghĩa Mac - Lê nin, thành hai chiến sĩ cộng sản Việt Nam nổi tiếng.
THÁI DOÃN HIỂUNhà thơ Võ Văn Trực thuộc loại tài thì vừa phải nhưng tình thì rất lớn. Chính cái chân tình đó đã giúp anh bù đắp được vào năng lực còn hạn chế và mong manh của mình, vươn lên đạt được những thành tựu mới đóng góp cho kho tàng thi ca hiện đại của dân tộc 4 bài thơ xuất sắc: “Chị, Vĩnh viễn từ nay, Thu về một nửa và Nghĩa địa làng, người ta sẽ còn đọc mãi.
HÀ ÁNH MINHBài thứ nhất, Một cuộc đời "Ngậm ngải tìm trầm" của Vương Trí Nhàn, đăng trên tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số Xuân Canh Thìn năm 2000, và bài thứ hai "Sư phụ Thanh Tịnh làm báo tết" của Ngô Vĩnh Bình, đăng trên báo Văn Nghệ, số Tết cũng năm Canh Thìn 2000. Bài đầu tiên viết dài, giọng văn trau chuốt điệu nghệ. Bài sau ngắn, mộc mạc.
LÊ THỊ HƯỜNGDẫu mượn hình thức của thể kí, dẫu tìm đến vần điệu của thơ, điểm nhất quán trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cái tôi say đắm thiên nhiên. Đằng sau những tài hoa câu chữ là một cái tôi đa cảm - quá chừng là đa cảm - luôn dành cho cỏ dại những tình cảm lớn lao.
BỬU NAM1. Nếu văn xuôi hư cấu (đặc biệt là tiểu thuyết) chiếm vị trí hàng đầu trong bức tranh thể loại của văn học Mỹ - La tinh nửa sau thế kỷ XX, thì thơ ca của lục địa này ở cùng thời gian cũng phát triển phong phú và rực rỡ không kém, nó tiếp tục đà cách tân và những tìm tòi đổi mới của những nhà thơ lớn ở những năm 30 - 40.
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP1. Khi chạm vào cơn lốc và những điệu rock thơ mang tên Vi Thuỳ Linh, bất chợt tôi nhớ đến câu thơ dịu dàng và sâu thẳm của Paul Eluard: Trái đất màu xanh như một quả cam. Với P. Eluard, tình yêu là một thế giới tinh khiết, rạng rỡ và ngọt ngào: Đến mức tưởng em khỏa thân trước mặt. Còn Vi Thuỳ Linh, nếu ai hỏi thế giới màu gì, tôi đồ rằng nàng Vi sẽ trả lời tắp lự: Màu yêu.