Địa danh học và việc nghiên cứu địa danh các tỉnh Trung Trung Bộ

16:06 04/02/2010

HOÀNG TẤT THẮNG1. Khái quát về địa danh học.

1.1. Địa danh là tên gọi của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào đó. Do đó, địa danh là đối tượng quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học như lịch sử, địa lý, dân tộc học, văn hóa học, ngôn ngữ học...

Song, địa danh, xét về bản chất cấu tạo, là một đơn vị từ ngữ, có chức năng định danh sự vật, do đó, địa danh là một bộ phận của từ vựng và vì vậy, trước hết, là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học. Nếu xem xét địa danh trong mối quan hệ với các bộ môn của ngôn ngữ học, ta thấy, địa danh không chỉ là đối tượng của từ vựng học mà còn là tài liệu nghiên cứu của ngữ âm học. Bởi vì địa danh được cấu tạo bởi những đơn vị ngữ âm, chịu sự tác động của các quy luật ngữ âm. Nhiều địa danh tiếng Việt ngày nay là kết quả của quá trình biến đổi cách phát âm các địa danh trước đây như: xóm Chỉ (trước đây là xóm Trĩ), Bà Môn (trước đây là Bàu Môn) ở thành phố. Hồ Chí Minh; Nam Ô (trước đây là Năm Ổ) ở Đà Nẵng... Địa danh còn là tài liệu nghiên cứu của ngữ pháp học, vì địa danh là những danh từ, danh ngữ tuân theo những phương thức cấu tạo từ, ngữ của tiếng Việt... Chẳng hạn, những địa danh được cấu tạo theo các mô hình (động từ + tính từ: cầu Đúc Nho, danh từ + số từ: khu Ngã Bảy, Ngã Sáu, danh từ + tính từ: cầu Mũi Lớn, rạch Cầu Đen, danh từ + danh ngữ: cầu Giồng Ông Tố, rạch Tắt Mương Lớn, danh ngữ + tính từ: khu Cây Da Còm, rạch Cầu Chông Nhỏ...)

Địa danh cũng là đối tượng nghiên cứu của phương ngữ học. Bởi vì nó là sản phẩm do người bản địa tạo ra, gắn chặt với lời ăn tiếng nói của từng vùng, từng địa phương. Trong các địa danh tiếng Việt, ta có thể gặp các từ địa phương như: Cù Lao Chuông, hồ Ba Kiểng, động Sai, sông Chắt Chắt (ở Quảng Trị), rõng Nước Ngọt, ngoẹo Giằng Xay, Bùng binh Trường Tiền (ở Huế), đồng Cây Hợp, rậy Ông Cáp, rào Ba Đa, bàu Chẹp, rú Cấm, đồng Troọt, đồng Trữa (ở Đồng Hới)...

Đặc biệt, địa danh còn là tư liệu đáng quan tâm của ngôn ngữ học lịch sử. Bởi vì một địa danh ra đời trong một thời điểm lịch sử nhất định. Địa danh đã trở thành “ vật hóa thạch”, một “ đài kỷ niệm” và là “ tấm bia” bằng ngôn ngữ học độc đáo về thời đại mà nó ra đời. Chẳng hạn, tên gọi “ Chợ Lớn” ra đời vào đầu thế kỷ 19 gắn liền với sự phát triển về thương mại của một khu phố thị sầm uất nhất vùng Nam Bộ lúc bấy giờ, tên gọi “ Lũy Thầy” ở Đồng Hới (Quảng Bình) ra đời trong thời điểm lịch sử diễn ra cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn, “ huynh đệ tương tàn” thế kỷ 17, 18 và gắn liền với tên tuổi của vị quan của Chúa Nguyễn là Đào Duy Từ, người đã thiết kế nên thành lũy này.

1.2. Vì lẽ đó, địa danh học thực sự là một ngành của ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu ý nghĩa, nguồn gốc, và những biến đổi của địa danh. Ngoài ra, địa danh học còn nghiên cứu cấu tạo của địa danh, đặc điểm của địa danh, các phương thức đặt địa danh. Địa danh học còn được phân loại thành các phần nhỏ như thủy danh học (chuyên nghiên cứu tên sông suối rạch...), sơn danh học (chuyên nghiên cứu các tên đồi, núi, đèo, dốc...), phương danh học (chuyên nghiên cứu các tên làng, vùng, xóm, bản...) phố danh học (chuyên nghiên cứu các tên đường, phố, quảng trường...)

Với đối tượng và nội dung nghiên cứu như trên, rõ ràng, địa danh học là một lĩnh vực nghiên cứu khá phức tạp, đòi hỏi người nghiên cứu địa danh cần phải xác định điểm xuất phát một cách nhất quán và những tri thức cần thiết của các lĩnh vực nghiên cứu khác phục vụ cho việc nghiên cứu địa danh.

2. Sơ lược tình hình nghiên cứu địa danh ở các tỉnh Trung Trung Bộ:

2.1. Nếu kể cả những công trình nghiên cứu văn hóa, địa lý, lịch sử có đề cập đến các địa danh ở các tỉnh Trung Trung Bộ thì xưa nhất phải kể đến “ Ô Châu cận lục” của Dương Văn An đời Mạc chép về sông núi, thành trì, phong tục của xứ Thuận Quảng, từ Quảng Bình đến Quảng Nam. Kế đến là “ Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn tập hợp những tài liệu về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa trong thời gian làm đô đốc xứ Thuận Hóa cuối thế kỷ 18.

Ngoài ra, các công trình về địa lý, lịch sử như “ Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, “ Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên... cũng rải rác có đề cập đến các địa danh ở Trung Trung Bộ.

Đầu thế kỷ 20, đặc biệt từ sau 1945 đến nay, đã có nhiều công trình, bài báo liên quan đến các địa danh Trung Trung Bộ. Các công trình “ Quảng Nam, địa lý, nhân vật, lịch sử” của Lâm Quang Thự, “ Quảng Nam, đất nước và nhân vật”, “ Biến đổi địa danh ở vùng Quảng Nam- Đà Nẵng” của Võ Hoàng... có đề cập đến các địa danh ở Quảng Nam- Đà Nẳng. Các bài báo “ Tìm hiểu về tên đất thành phố Huế” của Thanh Tâm, “ Việc đặt tên đường ở Huế” của Trương Thị Cúc và Nguyễn Xuân Hoa, “ Địa danh thành phố Huế” của Trần Thanh Tâm... đã đề cập đến các địa danh ở Thừa Thiên- Huế. Các công trình “ Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tỉnh Quảng Trị”, “ Địa chí Quảng Trị”, “ Ngày xuân đi tìm gốc tích những ngôi làng” của Anh Thi... đã đề cập đến các địa danh ở Quảng Trị. Các công trình, bài báo “ Đồng Hới những sự kiện lịch sử” của Nguyễn Tú, “ Non nước Quảng Bình”, “ Tản mạn qua thị xã Đồng Hới” của Lại Văn Ly và Phan Xuân Thiết... đã đề cập đến một số địa danh ở Quảng Bình.

Đặc biệt, các chuyên khảo “ Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh, “ Đi thăm đất nước” của Hoàng Đạo Thúy, “ Đất nước ta”... cũng đã rải rác có đề cập đến một số địa danh thuộc các tỉnh Trung Trung bộ. Gần đây nhất, công trình “ Sổ tay địa danh du lịch các tỉnh Trung bộ” do tập thể các tác giả ở Huế biên soạn để giới thiệu trên 70 địa danh từ Quảng Bình đến Quảng .

2.2. Nếu xem xét nội dung trình bày các địa danh trong các tài liệu nêu trên, ta có thể thấy (ngoại trừ những trường hợp chỉ nhắc đến địa danh) có hai hướng nghiên cứu trình bày các địa danh.

- Hướng thứ nhất: Thiên về lịch sử, trình bày lịch sử hình thành, biến đổi của một vùng đất (địa danh hành chính chẳng hạn), những biến cố lịch sử diễn ra tại một vùng đất.

- Hướng thứ hai: thiên về giá trị lịch sử, văn hóa, du lịch, chỉ chọn lựa, giới thiệu một sự kiện lịch sử điển hình, một nét địa hình đặc trưng, hoặc một chi tiết có giá trị văn hóa của địa danh.

Hướng thứ nhất ta thường thấy trong khi trình bày các địa danh hành chính. Hướng thứ hai ta thường gặp đối với các loại địa danh chỉ địa hình thiên nhiên hoặc địa danh chỉ công trình xây dựng.

Rõ ràng việc giới thiệu địa danh trong các tài liệu từ trước đến nay chưa xuất phát từ mục đích địa danh học. Các địa danh được nêu ra chỉ là phương tiện cho việc nghiên cứu địa lý, lịch sử, văn hóa của một vùng đất.

Với tư cách là một lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học, địa danh học phải nghiên cứu địa danh theo quan điểm của ngôn ngữ học, nghĩa là phải nghiên cứu cả đặc điểm cấu tạo của địa danh, các phương thức đặt địa danh lẫn ý nghĩa, nguồn gốc của địa danh. Có nghiên cứu một cách toàn diện như thế, địa danh học mới thực sự là một lĩnh vực nghiên cứu đầy hấp dẫn, thú vị, đem lại nhiều lợi ích thiết thực đối với nhiều ngành khoa học khác

2.3. Để việc nghiên cứu địa danh đạt kết quả chính xác, tránh được những nhầm lẫn, chủ quan, khi nghiên cứu nguồn gốc, ý nghĩa của địa danh, cần quan tâm đến các điều kiện sau:

a) Các biến cố lịch sử- nhất là các biến cố quan trọng- đã để lại dấu ấn khá rõ trong địa danh. Chẳng hạn, sau 1975, ở các thành phố, thị xã thuộc các tỉnh phía Nam, nhiều tên đường phố, tên các địa danh hành chính được thay đổi, như tên đường 30-4, đường Giải phóng, đường Lê Duẩn... Do vậy người nghiên cứu địa danh phải am hiểu lịch sử của địa bàn nghiên cứu. Popov đã lưu ý các nhà nghiên cứu địa danh rằng bất cứ sự giải thích theo định kiến nào, không căn cứ vào các sự kiện thường rơi vào sai lầm.

b) Nhà nghiên cứu Murzaev đã nói rằng trong những điều kiện như nhau hoặc gần giống nhau về địa hình, thường lặp lại những địa danh như nhau, kiểu như Xóm Đá, Cầu Dài, Cồn Mồ... ta thường thấy ở nhiều vùng đất khác nhau. Do đó khi nghiên cứu địa danh cũng cần phải nắm vững địa bàn nơi mình nghiên cứu để có thể giải thích tại sao ở chỗ này có nhiều địa danh mang các từ chỉ địa hình này, chỗ kia có nhiều địa danh mang các từ chỉ địa hình kia. Chẳng hạn, ở Đồng Hới thường có các địa danh: đồng Bàu Ốc, đồng Bàu Đĩa, đồng Bàu Đưng, đồng Bàu Nậy, đồng Bàu Rèng... Ở Đông Hà ta cũng gặp các địa danh: đồng Bàu Son, đồng Bàu họ Lê, đồng Bàu Kẻng... và các địa danh xóm Bàu Đưng, xóm Bàu Bưng, xóm Bàu Đôi...

c) Nghiên cứu các địa danh, ta thấy nhiều địa danh được tạo ra từ chất liệu các phương ngữ. Do vậy cần nắm hiểu các đặc điểm về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của phương ngữ tại địa bàn. Chẳng hạn, địa bàn Đồng Hới có các yếu tố địa phương: bàu, hói, rào, chẹp, nậy... Địa danh ở Đồng Hà có các yếu tố địa phương như: léc, lộng, rớ, truông, sại, rạc, trẹc...

d) Để nghiên cứu, giải thích ý nghĩa của địa danh, cũng không nên chỉ căn cứ vào hình thức ngữ âm và chính tả hiện hành mà cần phải cố gắng để tìm hiểu các hình thức cổ của địa danh. Bởi vì, địa danh cũng là một từ ngữ như các từ ngữ khác cũng chịu sự tác động của các quy luật ngữ âm. Do đó một số địa danh ra đời từ xa xưa, đã biến đổi qua nhiều hình thức ngữ âm khác nhau.

Chẳng hạn, địa danh “ Đồng Hới” được giải thích bắt nguồn từ cách phát âm cổ là “ Động Hải” hoặc “ Đồng Hời”, địa danh “ Đà Nẵng” bắt nguồn từ “ YaNan”, địa danh “ Lăng Cô” bắt nguồn từ “ Lăn Co” hoặc “ An Cư”...

Tóm lại, việc nghiên cứu, giải thích nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh cần phải được khảo sát một cách toàn diện và thận trọng. Đây là công việc tuy hấp dẫn, thú vị nhưng vô cùng phức tạp, vì địa danh học tuy là một bộ phận của ngôn ngữ học nhưng lại gắn chặt với những tri thức về lịch sử và văn hóa học, vì địa danh là “ tấm bia” bằng ngôn ngữ độc đáo về thời đại mà nó chào đời.

H.T.T
(121/03-99)


------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Đào Duy Anh - “ Đất nước Việt qua các đời” Nxb.KHXH Hà Nội.1964.
2. Lê Trung Hoa - “ Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh” Nxb. KHXH Hà Nội. 1991.
3. Thái Nhân Hòa - “ Quảng Đà Nẵng, xưa và nay” Nxb Đà Nẵng 1996.
4. Nhiều tác giả “ Sổ tay địa danh du lịch các tỉnh Trung Trung bộ” Nxb Giáo dục 1997.
5. Thanh Tâm - “ Tìm hiểu địa danh thành phố Huế”. Sông Hương, 6-1996.
6. Dương Thị The, Phạm Thị Thoa (dịch và biên soạn) - “ Tên làng xã Việt đầu thế kỷ XIX” Nxb KHXH, Hà Nội 1981.
7. Lâm Quang Thự - “ Quảng Nam- địa lý, nhân vật, lịch sử” Nxb Thuận Hóa 1995.
8. Nguyễn Tú - “ Non nước Quảng Bình”. Nhật Lệ, 6-1991.



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN THANH HÀTrong giới học thuật, Trương Đăng Dung được biết đến như một người làm lý luận thuần tuý. Bằng lao động âm thầm, cần mẫn Trương Đăng Dung đã đóng góp cho nền lý luận văn học hiện đại Việt đổi mới và bắt kịp nền lý luận văn học trên thế giới.

  • PHẠM XUÂN PHỤNG Chu Dịch có 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào. Riêng hai quẻ Bát Thuần Càn và Bát Thuần Khôn, mỗi quẻ có thêm một hào.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNPhan Đăng Dư, thân phụ nhà cách mạng Phan Đăng Lưu là người họ Mạc, gốc Hải Dương. Đời Mạc Mậu Giang, con vua Mạc Phúc Nguyên lánh nạn vào Tràng Thành (nay là Hoa Thành, Yên Thành, Nghệ An) sinh cơ lập nghiệp ở đó, Phan Đăng Dư là hậu duệ đời thứ 14.

  • HỒ THẾ HÀLTS: Văn học Việt về đề tài chiến tranh là chủ đề của cuộc Toạ đàm văn học do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức ngày 20 tháng 12 năm 2005. Tuy tự giới hạn ở tính chất và phạm vi hẹp, nhưng Toạ đàm đã thu hút đông đảo giới văn nghệ sĩ, nhà giáo, trí thức ở Huế tham gia, đặc biệt là những nhà văn từng mặc áo lính ở chiến trường. Gần 20 tham luận gửi đến và hơn 10 ý kiến thảo luận, phát biểu trực tiếp ở Toạ đàm đã làm cho không khí học thuật và những vấn đề thực tiễn của sáng tạo văn học về đề tài chiến tranh trở nên cấp thiết và có ý nghĩa. Sông Hương trân trọng giới thiệu bài Tổng lược và 02 bài Tham luận đã trình bày ở cuộc Toạ đàm.

  • TRẦN HUYỀN SÂM1. Tại diễn đàn Nobel năm 2005, Harold Pinter đã dành gần trọn bài viết của mình cho vấn đề chiến tranh. Ông cho rằng, nghĩa vụ hàng đầu của một nghệ sĩ chân chính là góp phần làm rõ sự thật về chiến tranh: “Cái nghĩa vụ công dân cốt yếu nhất mà tất cả chúng ta đều phải thi hành là... quyết tâm dũng mãnh để xác định cho được sự thật thực tại...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG"HỘI CHỨNG VIỆT NAM"Trong lịch sử chiến tranh Mỹ, thì chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh mà người Mỹ bị sa lầy lâu nhất (1954-1975), và đã để lại những hậu quả nặng nề cho nước Mỹ. Hậu quả đó không chỉ là sự thất bại trong cuộc chiến, mà còn ở những di chứng kéo dài làm ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống Mỹ, mà người Mỹ gọi đó là "Hội chứng Việt Nam".

  • BÍCH THUNăm 2005, GS. Phong Lê vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học với cụm công trình: Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu (Nxb ĐHQG, H, 2001, 540 trang); Một số gương mặt văn chương - học thuật Việt hiện đại (Nxb GD, H, 2001, 450 trang); Văn học Việt hiện đại - lịch sử và lý luận (Nxb KHXH. H, 2003, 780 trang). Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học say mê, tâm huyết và cũng đầy khổ công, vất vả của một người sống tận tụy với nghề.

  • THÁI DOÃN HIỂU Trong hôn nhân, đàn bà lấy chồng là để vào đời, còn đàn ông cưới vợ là để thoát ra khỏi cuộc đời. Hôn nhân tốt đẹp tạo nên hạnh phúc thiên đường, còn hôn nhân trắc trở, đổ vỡ, gia đình thành bãi chiến trường. Tình yêu chân chính thanh hóa những tâm hồn hư hỏng và tình yêu xấu làm hư hỏng những linh hồn trinh trắng.

  • NGUYỄN THỊ MỸ LỘCLà người biết yêu và có chút văn hóa không ai không biết Romeo and Juliet của Shakespeare, vở kịch được sáng tác cách ngày nay vừa tròn 410 năm (1595 - 2005). Ngót bốn thế kỷ nay Romeo and Juliet được coi là biểu tượng của tình yêu. Ý nghĩa xã hội của tác phẩm đã được thừa nhận, giá trị thẩm mĩ đã được khám phá, hiệu ứng bi kịch đã được nghiền ngẫm... Liệu còn có gì để khám phá?

  • NGUYỄN VĂN HẠNH1. Từ nhiều năm nay, và bây giờ cũng vậy, chúng ta chủ trương xây dựng một nền văn nghệ mới ngang tầm thời đại, xứng đáng với tài năng của dân tộc, của đất nước.

  • HỒ THẾ HÀ(Tham luận đọc tại Hội thảo Tạp chí văn nghệ 6 tỉnh Bắc miền Trung)

  • LÊ GIA NINHNgày 10 tháng 10 năm 1955, Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bừng lên niềm vui, ngập trong cờ, hoa và nắng thu. Những chàng trai ngày “ra đi đầu không ngoảnh lại”, trải qua cuộc trường chinh ba ngàn ngày trở về trong niềm vui hân hoan và những dòng “nước mắt dành khi gặp mặt” (Nam Hà).

  • THANH TÙNGChống tham nhũng, đục khoét dân lành không chỉ là công việc của nhà chức trách mà còn ở tất cả mọi người dù ở chế độ xã hội nào. Các thi sĩ không chỉ làm thơ ca ngợi cuộc sống tình yêu, đất nước con người mà còn dùng ngọn bút thông qua nước thi phẩm của mình để lên án, vạch mặt bọn quan tham này.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNTrong lịch sử các nhà khoa bảng ở Việt , ít có gia đình nào cả ba ông cháu, cha con đều đỗ Trạng nguyên. Đó là gia đình Trạng nguyên Hồ Tông Thốc ở Kẻ Cuồi, Tam Công, Thọ Thành, Yên Thành, Nghệ An.

  • PHẠM XUÂN NGUYÊN1. Trước hết ta phải bàn với nhau về chữ hay, tức thế nào là một tác phẩm hay. Bởi cái hay không bất biến trong không gian và thời gian, nó vận động và biến đổi tùy theo hoàn cảnh, với những tiêu chí cụ thể khác nhau.

  • TRẦN HUYỀN SÂMRuồng bỏ - Disgrace (1) là một cuốn tiểu thuyết mang phong cách giản dị. Nhưng đó là sự giản dị của một bậc thầy về thể loại roman. Giới lý luận văn học và các chính trị gia phương Tây (2) đã đặt ra những câu hỏi có tính hoài nghi. Điều gì ở cuốn sách có độ trang khiêm tốn này đã mang lại giải Nobel cho Coetzee: Vấn đề kỹ thuật tiểu thuyết, nỗi điếm nhục về nhân cách con người, hay là bi kịch lịch sử hậu Apartheid?

  • NGUYỄN THÀNHLịch sử phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX đánh dấu bởi nhiều khuynh hướng phê bình hiện đại: phê bình ấn tượng, phê bình phân tâm học, phê bình xã hội học, phê bình mác xít, phê bình thi pháp học...

  • TRẦN LỘC HÙNG“NỒI HƠI NGUYÊN TỬ” NGĂN NGỪA THẾ CHIẾN THỨ BAChuyện kể rằng sau cuộc thử nghiệm thành công của trái bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1949, cha đẻ của nó - Igor Vaxilevich Kurchatov - đã khóc nức nở.

  • HÀ VĂN THỊNHSố 7 là một con số huyền thoại. Nếu như tính xuất xứ xa nhất, công đầu về việc “tìm ra” số 7, thuộc về người Ai Cập, cách nay ít nhất 5.000 năm. Khi hiểu được rõ ràng việc con sông Nil chia làm 7 nhánh trước lúc đổ ra Địa Trung Hải, người Ai Cập vận “lý” để tin là nó nhất định phải hàm chứa nghĩa bí ẩn nào đó phản ánh cái “tư tưởng” triết lý của Đấng Tạo hóa.

  • TRẦN VIẾT THIỆNNăm 1987, người ta từ ngạc nhiên, ngỡ ngàng đến sững sờ trước sự trình làng của một cây bút đã vào độ tứ tuần. Tuổi bốn mươi lại là thời kỳ son sắt nhất của cây bút này, nói theo quan niệm của ông: “Đời viết văn cũng giống như đời người đàn bà”.