Địa danh học và việc nghiên cứu địa danh các tỉnh Trung Trung Bộ

16:06 04/02/2010

HOÀNG TẤT THẮNG1. Khái quát về địa danh học.

1.1. Địa danh là tên gọi của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào đó. Do đó, địa danh là đối tượng quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học như lịch sử, địa lý, dân tộc học, văn hóa học, ngôn ngữ học...

Song, địa danh, xét về bản chất cấu tạo, là một đơn vị từ ngữ, có chức năng định danh sự vật, do đó, địa danh là một bộ phận của từ vựng và vì vậy, trước hết, là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học. Nếu xem xét địa danh trong mối quan hệ với các bộ môn của ngôn ngữ học, ta thấy, địa danh không chỉ là đối tượng của từ vựng học mà còn là tài liệu nghiên cứu của ngữ âm học. Bởi vì địa danh được cấu tạo bởi những đơn vị ngữ âm, chịu sự tác động của các quy luật ngữ âm. Nhiều địa danh tiếng Việt ngày nay là kết quả của quá trình biến đổi cách phát âm các địa danh trước đây như: xóm Chỉ (trước đây là xóm Trĩ), Bà Môn (trước đây là Bàu Môn) ở thành phố. Hồ Chí Minh; Nam Ô (trước đây là Năm Ổ) ở Đà Nẵng... Địa danh còn là tài liệu nghiên cứu của ngữ pháp học, vì địa danh là những danh từ, danh ngữ tuân theo những phương thức cấu tạo từ, ngữ của tiếng Việt... Chẳng hạn, những địa danh được cấu tạo theo các mô hình (động từ + tính từ: cầu Đúc Nho, danh từ + số từ: khu Ngã Bảy, Ngã Sáu, danh từ + tính từ: cầu Mũi Lớn, rạch Cầu Đen, danh từ + danh ngữ: cầu Giồng Ông Tố, rạch Tắt Mương Lớn, danh ngữ + tính từ: khu Cây Da Còm, rạch Cầu Chông Nhỏ...)

Địa danh cũng là đối tượng nghiên cứu của phương ngữ học. Bởi vì nó là sản phẩm do người bản địa tạo ra, gắn chặt với lời ăn tiếng nói của từng vùng, từng địa phương. Trong các địa danh tiếng Việt, ta có thể gặp các từ địa phương như: Cù Lao Chuông, hồ Ba Kiểng, động Sai, sông Chắt Chắt (ở Quảng Trị), rõng Nước Ngọt, ngoẹo Giằng Xay, Bùng binh Trường Tiền (ở Huế), đồng Cây Hợp, rậy Ông Cáp, rào Ba Đa, bàu Chẹp, rú Cấm, đồng Troọt, đồng Trữa (ở Đồng Hới)...

Đặc biệt, địa danh còn là tư liệu đáng quan tâm của ngôn ngữ học lịch sử. Bởi vì một địa danh ra đời trong một thời điểm lịch sử nhất định. Địa danh đã trở thành “ vật hóa thạch”, một “ đài kỷ niệm” và là “ tấm bia” bằng ngôn ngữ học độc đáo về thời đại mà nó ra đời. Chẳng hạn, tên gọi “ Chợ Lớn” ra đời vào đầu thế kỷ 19 gắn liền với sự phát triển về thương mại của một khu phố thị sầm uất nhất vùng Nam Bộ lúc bấy giờ, tên gọi “ Lũy Thầy” ở Đồng Hới (Quảng Bình) ra đời trong thời điểm lịch sử diễn ra cuộc chiến tranh Trịnh- Nguyễn, “ huynh đệ tương tàn” thế kỷ 17, 18 và gắn liền với tên tuổi của vị quan của Chúa Nguyễn là Đào Duy Từ, người đã thiết kế nên thành lũy này.

1.2. Vì lẽ đó, địa danh học thực sự là một ngành của ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu ý nghĩa, nguồn gốc, và những biến đổi của địa danh. Ngoài ra, địa danh học còn nghiên cứu cấu tạo của địa danh, đặc điểm của địa danh, các phương thức đặt địa danh. Địa danh học còn được phân loại thành các phần nhỏ như thủy danh học (chuyên nghiên cứu tên sông suối rạch...), sơn danh học (chuyên nghiên cứu các tên đồi, núi, đèo, dốc...), phương danh học (chuyên nghiên cứu các tên làng, vùng, xóm, bản...) phố danh học (chuyên nghiên cứu các tên đường, phố, quảng trường...)

Với đối tượng và nội dung nghiên cứu như trên, rõ ràng, địa danh học là một lĩnh vực nghiên cứu khá phức tạp, đòi hỏi người nghiên cứu địa danh cần phải xác định điểm xuất phát một cách nhất quán và những tri thức cần thiết của các lĩnh vực nghiên cứu khác phục vụ cho việc nghiên cứu địa danh.

2. Sơ lược tình hình nghiên cứu địa danh ở các tỉnh Trung Trung Bộ:

2.1. Nếu kể cả những công trình nghiên cứu văn hóa, địa lý, lịch sử có đề cập đến các địa danh ở các tỉnh Trung Trung Bộ thì xưa nhất phải kể đến “ Ô Châu cận lục” của Dương Văn An đời Mạc chép về sông núi, thành trì, phong tục của xứ Thuận Quảng, từ Quảng Bình đến Quảng Nam. Kế đến là “ Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn tập hợp những tài liệu về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa trong thời gian làm đô đốc xứ Thuận Hóa cuối thế kỷ 18.

Ngoài ra, các công trình về địa lý, lịch sử như “ Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, “ Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên... cũng rải rác có đề cập đến các địa danh ở Trung Trung Bộ.

Đầu thế kỷ 20, đặc biệt từ sau 1945 đến nay, đã có nhiều công trình, bài báo liên quan đến các địa danh Trung Trung Bộ. Các công trình “ Quảng Nam, địa lý, nhân vật, lịch sử” của Lâm Quang Thự, “ Quảng Nam, đất nước và nhân vật”, “ Biến đổi địa danh ở vùng Quảng Nam- Đà Nẵng” của Võ Hoàng... có đề cập đến các địa danh ở Quảng Nam- Đà Nẳng. Các bài báo “ Tìm hiểu về tên đất thành phố Huế” của Thanh Tâm, “ Việc đặt tên đường ở Huế” của Trương Thị Cúc và Nguyễn Xuân Hoa, “ Địa danh thành phố Huế” của Trần Thanh Tâm... đã đề cập đến các địa danh ở Thừa Thiên- Huế. Các công trình “ Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tỉnh Quảng Trị”, “ Địa chí Quảng Trị”, “ Ngày xuân đi tìm gốc tích những ngôi làng” của Anh Thi... đã đề cập đến các địa danh ở Quảng Trị. Các công trình, bài báo “ Đồng Hới những sự kiện lịch sử” của Nguyễn Tú, “ Non nước Quảng Bình”, “ Tản mạn qua thị xã Đồng Hới” của Lại Văn Ly và Phan Xuân Thiết... đã đề cập đến một số địa danh ở Quảng Bình.

Đặc biệt, các chuyên khảo “ Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh, “ Đi thăm đất nước” của Hoàng Đạo Thúy, “ Đất nước ta”... cũng đã rải rác có đề cập đến một số địa danh thuộc các tỉnh Trung Trung bộ. Gần đây nhất, công trình “ Sổ tay địa danh du lịch các tỉnh Trung bộ” do tập thể các tác giả ở Huế biên soạn để giới thiệu trên 70 địa danh từ Quảng Bình đến Quảng .

2.2. Nếu xem xét nội dung trình bày các địa danh trong các tài liệu nêu trên, ta có thể thấy (ngoại trừ những trường hợp chỉ nhắc đến địa danh) có hai hướng nghiên cứu trình bày các địa danh.

- Hướng thứ nhất: Thiên về lịch sử, trình bày lịch sử hình thành, biến đổi của một vùng đất (địa danh hành chính chẳng hạn), những biến cố lịch sử diễn ra tại một vùng đất.

- Hướng thứ hai: thiên về giá trị lịch sử, văn hóa, du lịch, chỉ chọn lựa, giới thiệu một sự kiện lịch sử điển hình, một nét địa hình đặc trưng, hoặc một chi tiết có giá trị văn hóa của địa danh.

Hướng thứ nhất ta thường thấy trong khi trình bày các địa danh hành chính. Hướng thứ hai ta thường gặp đối với các loại địa danh chỉ địa hình thiên nhiên hoặc địa danh chỉ công trình xây dựng.

Rõ ràng việc giới thiệu địa danh trong các tài liệu từ trước đến nay chưa xuất phát từ mục đích địa danh học. Các địa danh được nêu ra chỉ là phương tiện cho việc nghiên cứu địa lý, lịch sử, văn hóa của một vùng đất.

Với tư cách là một lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học, địa danh học phải nghiên cứu địa danh theo quan điểm của ngôn ngữ học, nghĩa là phải nghiên cứu cả đặc điểm cấu tạo của địa danh, các phương thức đặt địa danh lẫn ý nghĩa, nguồn gốc của địa danh. Có nghiên cứu một cách toàn diện như thế, địa danh học mới thực sự là một lĩnh vực nghiên cứu đầy hấp dẫn, thú vị, đem lại nhiều lợi ích thiết thực đối với nhiều ngành khoa học khác

2.3. Để việc nghiên cứu địa danh đạt kết quả chính xác, tránh được những nhầm lẫn, chủ quan, khi nghiên cứu nguồn gốc, ý nghĩa của địa danh, cần quan tâm đến các điều kiện sau:

a) Các biến cố lịch sử- nhất là các biến cố quan trọng- đã để lại dấu ấn khá rõ trong địa danh. Chẳng hạn, sau 1975, ở các thành phố, thị xã thuộc các tỉnh phía Nam, nhiều tên đường phố, tên các địa danh hành chính được thay đổi, như tên đường 30-4, đường Giải phóng, đường Lê Duẩn... Do vậy người nghiên cứu địa danh phải am hiểu lịch sử của địa bàn nghiên cứu. Popov đã lưu ý các nhà nghiên cứu địa danh rằng bất cứ sự giải thích theo định kiến nào, không căn cứ vào các sự kiện thường rơi vào sai lầm.

b) Nhà nghiên cứu Murzaev đã nói rằng trong những điều kiện như nhau hoặc gần giống nhau về địa hình, thường lặp lại những địa danh như nhau, kiểu như Xóm Đá, Cầu Dài, Cồn Mồ... ta thường thấy ở nhiều vùng đất khác nhau. Do đó khi nghiên cứu địa danh cũng cần phải nắm vững địa bàn nơi mình nghiên cứu để có thể giải thích tại sao ở chỗ này có nhiều địa danh mang các từ chỉ địa hình này, chỗ kia có nhiều địa danh mang các từ chỉ địa hình kia. Chẳng hạn, ở Đồng Hới thường có các địa danh: đồng Bàu Ốc, đồng Bàu Đĩa, đồng Bàu Đưng, đồng Bàu Nậy, đồng Bàu Rèng... Ở Đông Hà ta cũng gặp các địa danh: đồng Bàu Son, đồng Bàu họ Lê, đồng Bàu Kẻng... và các địa danh xóm Bàu Đưng, xóm Bàu Bưng, xóm Bàu Đôi...

c) Nghiên cứu các địa danh, ta thấy nhiều địa danh được tạo ra từ chất liệu các phương ngữ. Do vậy cần nắm hiểu các đặc điểm về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của phương ngữ tại địa bàn. Chẳng hạn, địa bàn Đồng Hới có các yếu tố địa phương: bàu, hói, rào, chẹp, nậy... Địa danh ở Đồng Hà có các yếu tố địa phương như: léc, lộng, rớ, truông, sại, rạc, trẹc...

d) Để nghiên cứu, giải thích ý nghĩa của địa danh, cũng không nên chỉ căn cứ vào hình thức ngữ âm và chính tả hiện hành mà cần phải cố gắng để tìm hiểu các hình thức cổ của địa danh. Bởi vì, địa danh cũng là một từ ngữ như các từ ngữ khác cũng chịu sự tác động của các quy luật ngữ âm. Do đó một số địa danh ra đời từ xa xưa, đã biến đổi qua nhiều hình thức ngữ âm khác nhau.

Chẳng hạn, địa danh “ Đồng Hới” được giải thích bắt nguồn từ cách phát âm cổ là “ Động Hải” hoặc “ Đồng Hời”, địa danh “ Đà Nẵng” bắt nguồn từ “ YaNan”, địa danh “ Lăng Cô” bắt nguồn từ “ Lăn Co” hoặc “ An Cư”...

Tóm lại, việc nghiên cứu, giải thích nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh cần phải được khảo sát một cách toàn diện và thận trọng. Đây là công việc tuy hấp dẫn, thú vị nhưng vô cùng phức tạp, vì địa danh học tuy là một bộ phận của ngôn ngữ học nhưng lại gắn chặt với những tri thức về lịch sử và văn hóa học, vì địa danh là “ tấm bia” bằng ngôn ngữ độc đáo về thời đại mà nó chào đời.

H.T.T
(121/03-99)


------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Đào Duy Anh - “ Đất nước Việt qua các đời” Nxb.KHXH Hà Nội.1964.
2. Lê Trung Hoa - “ Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh” Nxb. KHXH Hà Nội. 1991.
3. Thái Nhân Hòa - “ Quảng Đà Nẵng, xưa và nay” Nxb Đà Nẵng 1996.
4. Nhiều tác giả “ Sổ tay địa danh du lịch các tỉnh Trung Trung bộ” Nxb Giáo dục 1997.
5. Thanh Tâm - “ Tìm hiểu địa danh thành phố Huế”. Sông Hương, 6-1996.
6. Dương Thị The, Phạm Thị Thoa (dịch và biên soạn) - “ Tên làng xã Việt đầu thế kỷ XIX” Nxb KHXH, Hà Nội 1981.
7. Lâm Quang Thự - “ Quảng Nam- địa lý, nhân vật, lịch sử” Nxb Thuận Hóa 1995.
8. Nguyễn Tú - “ Non nước Quảng Bình”. Nhật Lệ, 6-1991.



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...

  • TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".

  • MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.

  • HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.

  • TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H

  • TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.

  • TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...

  • BẢO CHI                 (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...

  • ĐỖ LAI THÚY                Văn là người                                  (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.

  • ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.

  • TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.

  • TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?

  • HOÀNG NGỌC HIẾN           ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...

  • THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.

  • TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.

  • ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.

  • ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…

  • HỒ THẾ HÀ          Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.

  • JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.