Đi xe đò ngày xưa

14:52 19/02/2013

BÙI KIM CHI

Tôi đang đứng ở đây. Bến xe đò Đông Ba của thế kỷ trước. Bùi ngùi. Xúc động. Bến xe đã không còn. Thật buồn khi nơi này đã vắng bóng những chiếc xe đò dân dã, thân thương thuở ấy cùng những tà áo trắng học trò dung dị với giọng Huế trong trẻo ơi ới gọi nhau lên xe kẻo trễ giờ học.

Đã có một thời như thế. Nữ sinh Đồng Khánh đi học bằng xe đò. Tôi cũng là một trong những học sinh Đồng Khánh đi học bằng xe đò và cả qua đò Thừa Phủ. Những chiếc xe đò màu xanh dương đậm, trần xe có sơn một chút màu trắng, số xe nằm ở bên hông. Số 1 chạy tuyến đường An Cựu, số 2 Địa Linh, Bến Ngự số 3, Chợ Dinh số 4, số 5 Từ Đàm, số 6 Cầu Kho, Long Thọ số 7, Kim Long số 8, số 9 Thuận An, số 10 Văn Thánh, 11 Dạ Lê, 12 An Hòa, An Lăng 13, Tây Lộc 14. Mặt kính trước xe có bảng gỗ nhỏ ghi tuyến đường Bến Ngự, Từ Đàm, Long Thọ, An Cựu v.v. Dáng xe thô, rất giản đơn. Phía trước xe, hai bên có hai cửa dành cho tài xế và một khách. Tất cả khách còn lại đều lên xe bằng cửa sau ở cuối xe. Cửa sau của xe là hai cánh cửa sắt nửa vời, khoảng trên để trống. Khi xe quá đông khách, không còn chỗ để đứng thì “ét” xe ngồi trên cửa, tay vịn trần xe. Trừ hai cửa phía trước, phần trên hai bên hông xe là những khoảng trống thay cho cửa sổ của xe. Trời mưa thì có bạt che. Xe đò chở học trò đi học chỉ đơn giản thế thôi. Tội nghiệp. Đã không đẹp mà trên trần xe bên ngoài còn mang thêm bộ khung sắt cũ kỹ quanh thành xe dành để triêng gióng cồng kềnh của bạn hàng. Đa số xe đò đều đã cũ, có mới một chút chăng là do chủ xe sơn lại nhưng kỹ thuật không cao. Một số xe “démareur” bị trục trặc nên khi xe chuẩn bị khởi hành anh “ét” phải dùng “manivel” để quây. Quây vài lần, xe nổ máy, ống khói ở cuối xe “xịch” lên là xe chạy. Khổ thay nếu quây mà xe không nổ máy là anh “ét” và bạn hàng trên xe phải xuống đẩy. Học trò Đồng Khánh cũng phải xuống xe nhưng anh “ét” cho khỏi đẩy vì là con gái và mặc áo dài. Lạy trời! Anh “ét” mà không thương bắt đẩy chắc nữ sinh Đồng Khánh có nước “độn thổ”. Rong ruổi khắp thành phố Huế nội ô và ngoại ô, xe đò chở đám học trò Đồng Khánh, Quốc Học (đa phần là Đồng Khánh, Quốc Học đi xe đạp nhiều hơn) và bạn hàng buôn bán qua các chợ. Khởi hành từ bến xe Đông Ba (chợ Đông Ba) ở chân cầu Gia Hội, xe đò chở chúng tôi đi học. Học trò Đồng Khánh ở khắp nơi trong thành phố đều có thể đến trường bằng xe đò. Ngang qua trường Đồng Khánh, Quốc Học có xe đò số 3, số 5 và số 7. Học sinh đến bến xe Đông Ba có thể chọn xe có số hiệu trên để đến trường. Xe đò thuở ấy không đẹp nhưng trông hiền lành, an phận (không như các xe hàng có dáng vẻ đẹp ở bến xe Nguyễn Hoàng). Xe đò Đông Ba đã chia sẻ được với chúng tôi - học trò và tiền xe thì rất rẻ so với khách và bạn hàng buôn bán. Dưới con mắt học trò của tôi ngày ấy - cô bé 15 tuổi không có chiếc xe đò nào chở học sinh Đồng Khánh đi học mà đẹp và mới cả. Tôi mỉm cười nhìn dòng người xuôi ngược trên bến xe cũ và nhớ về thuở ấy… thuở chúng tôi đi học bằng xe đò.

Một buổi sáng, thay vì đi học bằng đò Thừa Phủ, Ngọc Thạch đã rủ Bích Hà và tôi đi xe đò. Nhà chúng tôi ở trong Thành Nội, gần cửa Thượng Tứ, đi đò Thừa Phủ là hợp lý nhưng khoảng hai, ba ngày chúng tôi lại rủ nhau đi xe đò một lần. Hai chữ xe đò nghe chân chất, hiền lành đã thu hút ba đứa chúng tôi. Đi xe đò phải trả tiền, tiền ít vẫn cứ phải trả trong khi qua đò Thừa Phủ học trò khỏi trả tiền. Chúng tôi hẹn nhau ở cửa Đông Ba. Tôi ở đường Âm Hồn ra, Bích Hà ở Đinh Bộ Lĩnh xuống, Ngọc Thạch từ Đặng Dung đến. Chúng tôi rảo bước ra ngã giữa đường Phan Bội Châu (nay là Phan Đăng Lưu) đến bến xe Đông Ba. Ngang qua nhà Hoàng (Hoàng nước hoa). Chúng tôi gọi như thế vì nhà của Hoàng bán nước hoa. Hoàng có nước da trắng, mắt đen, miệng cười rất duyên. Hoàng có một biệt danh nữa là “Hoàng Đức Mẹ” vì Hoàng rất giống Đức Mẹ. Nói chung là Hoàng đẹp, duyên dáng và hiền hành. Chúng tôi nhìn vào cửa hàng nhưng không có Hoàng. Gọi là tìm ngắm người đẹp. Mới 6 giờ 30 sáng mà xe đò đã đông. Học trò và bạn hàng tranh nhau lên xe. Học trò tranh xe để kịp giờ vào học và có chỗ ngồi, bạn hàng tranh nhau cho kịp buổi chợ sớm. Khó khăn lắm, ba đứa tôi mới được lên xe Từ Đàm vì xe Bến Ngự và Long Thọ đã đầy khách và sắp chạy. Chúng tôi bước lên xe trên một tấm gỗ khá chắc chắn ở cửa sau. Kẻ trước, người sau. Trời đất, Thu Nguyệt ở lớp Đệ Tứ B2 lên trước, vô ý không vén vạt áo sau. Một bạn gái lên sau đã đạp vào vạt áo lụa của Nguyệt làm “toẹt” một đường ngang eo. Nguyệt khóc vì mắc cỡ. Ngọc Thạch đã nhanh trí lấy trong “cartable” ra hai chiếc kim băng “găm” chỗ rách cho Nguyệt (Thuở ấy, con gái Đồng Khánh đi học, trong cartable bao giờ cũng có năm, ba cái kim băng và hộp kim chỉ. Hộp đựng kim chỉ thường là hộp fromage “La vache quit rit” (Con bò cười). Bên trong xe đã đông người không còn chỗ ngồi. Ba đứa tôi phải đứng cùng một số bạn học và bạn hàng. Tôi ngẩng đầu, nhón chân đưa tay lên níu vào thanh sắt ở trần xe. Mọi người đứng trên xe đều phải làm như thế kẻo “bổ”. “Bà con cho tiền nè…”. Anh “ét” nhỏ con, đầu đội mũ phớt. Gọi mũ phớt cho le chứ mũ may bằng vải thường, nhái theo kiểu mũ phớt bằng nỉ của Pháp. Xe đông khách, kẻ đứng người ngồi chật ních thế mà anh “ét” đã tài tình len lỏi từ cuối xe lên đầu xe để thu đủ tiền. Bích Hà tinh nghịch cười khen thầm anh “ét”. Xe chạy. Trời mùa thu mát mẻ thế mà tôi lại nóng và như nghẹt thở vì xe quá đông. Mùi thơm của con gái, mùi cay cay của rau màu, mùi tanh tanh của cá quyện lẫn vào nhau tạo thành một mùi rất riêng “mùi xe đò”. Mùi xe đò chỉ xuất hiện trên xe vào buổi sáng sớm khi đón hai loại khách đặc biệt lên xe - học trò Đồng Khánh và bạn hàng. Xe qua cầu Trường Tiền. Gió sông Hương đã làm “mát lòng mát dạ” chúng tôi. Thình lình “bựt, bựt, bựt”. Tôi quay nón nhìn sang bên cạnh. Hàng nút áo dài của một cô bạn bung ra. Thấp người, cố gắng đưa tay lên níu chặt thanh sắt trên trần xe cho khỏi “bổ” nên áo bị bung nút. May thay bên trong còn có chiếc áo lót (con gái ngày xưa mặc áo dài phải có áo lót mặc bên trong). Tôi vội vàng đứng ép sát vào người của bạn, thả cartable xuống sàn xe; một tay giữ chặt thanh sắt trên đầu cho khỏi “bổ”, một tay lần nút áo gài cho bạn. Bạn “dị” còn tôi mỉm cười cảm thông. May mà không có ai thấy vì xe quá chật mà tôi thì cố thao tác cho lẹ. Tôi cũng nhỏ con, trên đầu còn đội thêm chiếc nón lá nên chẳng thấy ai chung quanh chỉ lo sợ “bổ”. Xe chạy đến đâu cũng không biết. Chỉ đến khi anh “ét” gọi to: “Tới Đồng Khánh rồi!” và tay anh đập mạnh vào thùng xe “Bùm - Bùm - Bùm” để ra hiệu cho tài xế ngừng xe thì khi ấy tôi mới yên tâm “không bổ”. Xe ngừng. Học trò Đồng Khánh lách qua bạn hàng, kẻ trước, người sau đùn đẩy nhau xuống xe… Trên xe chỉ còn lại bạn hàng. Họ nhìn chúng tôi ra phần chia sẻ - con của mình cũng như thế. Xuống đường, cảnh đùn đẩy nhau không còn. Bây giờ là những nường Đồng Khánh yểu điệu, nón nghiêng che từ từ băng đường Lê Lợi qua “Đường anh đường em” (Nguyễn Trường Tộ) để vào trường. Bên lề đường Lê Lợi những anh Quốc Học đi học sớm đứng ở công viên chiêm ngưỡng các em (giai đoạn này học sinh Quốc Học vào học sau Đồng Khánh 15 phút). Để tránh tình trạng anh “ngẩn ngơ” nhìn em làm trôi mất chữ đã thuộc lòng đêm qua nên sau này học sinh Quốc Học phải vào học trước Đồng Khánh 15 phút). Trên đường Lê Lợi, buổi sáng xe đò Bến Ngự ngừng cho học trò Đồng Khánh xuống ở cổng bên trái của trường (sát Tòa Tỉnh); xe Từ Đàm, Long Thọ thì ngừng ở cổng bên phải của trường. Một anh bạn thời sinh viên của tôi thú nhận: Hồi đó tôi học Luật Khoa. Không hiểu sao tôi rất thích đến đứng ở công viên trước trường Đồng Khánh để nhìn cảnh học sinh Đồng Khánh bước xuống xe đò. Rất đẹp. Thanh thoát lạ kỳ. Tôi đứng ngắm. Tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng bởi những tà áo trắng, chiếc nón lá, cái cartable trên tay. Vừa dễ thương, thùy mị, nết na và hiền lành. Từng người một bước xuống xe đò rồi làm thành từng nhóm hai ba người thong thả vào trường. Hình ảnh đó cứ loanh quanh trong hồn tôi và những lúc bắt gặp lại tôi có cảm giác như mình đang trẻ lại và… tôi vui (tâm tình của một thanh niên lớn tuổi. Tuổi xuân gần 70)…
 

Một chiếc xe đò chạy tuyến Huế - An Lỗ - Sịa


Trời mưa. Tháng 3 mà trời Huế vẫn còn mưa. Tôi đứng tránh mưa ở một chiếc dù lớn của một cô hàng bán thuốc lá và nhìn mưa… Mưa ướt đẫm cả bến xe đò Đông Ba thuở ấy… Hình ảnh chiếc xe đò màu xanh dương đậm cũ kỹ lại xuất hiện dưới mưa. Buồn và tội nghiệp. Con bé học trò Đồng Khánh lại lên xe đò đi học vào một ngày mưa. Bến xe lầy bùn vì mưa. Học trò Đồng Khánh mặc áo dài đi học thương quá. Lên xe mọi người đều mặc áo mưa. Có lẽ để đỡ lạnh và tránh dơ. Mùa mưa đồng phục của học sinh Đồng Khánh là áo dài màu bleu-marine và quần trắng. Quần trắng mà gặp bùn mưa nữa thì than ôi! May mà anh “ét” đã thu xếp triêng, gióng, thúng, mủng của bạn hàng lên trần xe để học trò có chỗ ngồi và được sạch sẽ. Chỗ ngồi của tôi ở phía sau. Đó là hai băng ghế dài bằng gỗ đã cũ xếp đối diện nhau. Hôm nay nhằm ngày ăn chay nên bạn hàng có ít hơn. Tôi được ngồi cùng các bạn, được nhìn mặt nhau, quan sát nhau, đứa đẹp, đứa dễ thương thấy hết. Ríu ra ríu rít cùng nhau. Trời ạ, chuyến xe đò hôm nay có cô giáo. Cô giáo đi dạy sớm nên được ngồi ở dãy ghế trên, mặt ghế có một lớp nệm mỏng bọc ni lông. Tiếng lao xao của học trò chấm dứt. Đó là một trong hai cô giáo Đồng Khánh là hai chị em nhà ở bên kia cầu Gia Hội. Gương mặt cô hiền nhưng cô rất nghiêm. Một cô bạn ngồi bên cạnh nói nhỏ vào tai tôi: “Chị ơi! Cô mặc hai quần”. “Tầm bậy”. “Thiệt”. Tôi nhíu mày hỏi nhỏ: “Răng cô lại mặc hai quần”. “Chị không biết à, trời mưa cô sợ bị ướt và bùn dính vào quần trắng. Đứng trên bục, trước tụi mình mà cô chịu được à! Rứa là cô mặc hai quần”. “Cái con này”. Cô bạn lại nói tiếp vẻ bí mật: “Mà, chị ơi! quần “xa tanh” trắng ở trong, quần “xa tanh” đen ở ngoài. Tới trường, cô vào phòng riêng của giáo sư, cởi bỏ quần đen ở bên ngoài. Lên lớp, cô của mình vẫn đẹp và sạch sẽ như trời nắng”. “Răng em biết?”. “Thì chị cứ để ý mà coi”. Tôi cười và phục lăng sáng kiến của cô - chỉ có cô giáo Đồng Khánh mới cẩn thận và chu đáo như thế. Đưa mắt lén nhìn cô, nhìn dưới chân cô. Ghế thấp. Cô cao. Có lẽ ngồi mỏi, cô co duỗi chân. Thế là quần trắng lấp ló bên trong quần đen. Nhìn cô, tôi vừa thương vừa nể phục cô…

Lớn lên, tôi cũng là một cô giáo. Cô giáo học trò đã học theo cách làm của cô giáo mình ngày xưa “mặc hai quần để đi dạy vào những ngày mưa”. “Trời mưa cô của mình lên lớp cũng đẹp và tươm tất như trời nắng”. Học trò của tôi lại kháo nhau như thế. Tôi vui và thầm cám ơn cô giáo của tôi (không hiểu học trò của tôi có phát hiện ra được tôi mặc hai quần???)…

Bến xe Đông Ba. Xe đò Đông Ba. Học trò Đồng Khánh. Học trò Quốc Học ngày xưa. Tất cả đã dìu nhau đi vào quá khứ. Có còn chăng chỉ là hình ảnh dễ thương của những người xưa năm cũ bâng khuâng, ngậm ngùi mở cửa thời gian để tìm “hoa” trong quá khứ. Rộn ràng đầy sắc màu của Huế ngày xưa.

B.K.C
(SH288/02-13)


--------------------------------------
Ghi chú: Xe đò: hiểu như xe buýt nhưng không đẹp và tiện nghi như xe buýt; - Ét: Lơ xe (tiếng Pháp: aider); - Démareur (tiếng Pháp): Bộ phận khởi động xe; - Manavel (tiếng Pháp): Cây sắt dùng để quây khởi động xe; - Bổ: té, ngã; - Cartable (tiếng Pháp): Cặp để sách vở.
 

 









 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Thực tế lịch sử gần 70 năm qua đã khẳng định rằng Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ và là kết quả tất yếu từ công lao to lớn của Bác chuẩn bị cho việc tiến hành cuộc cách mạng giải phóng kể từ ngày Bác về nước.

  • Tháng Bảy âm. Tháng cô hồn. Mồng một âm đã rả rích mưa báo hiệu cho một tháng âm u của Tiết Ngâu. Sắp rằm, tâm trí chợt như hửng ấm khi tiếp được cái giấy Hà Nội mời dự lễ khánh thành nhà bia và Khu tưởng niệm đồng bào ta bị chết đói năm 1945. Chợt nhớ, công việc này đã manh nha từ hơn mười năm trước…

  • LTS: Nguyễn Hưu, bút danh Thanh Minh, sinh năm 1914, quê huyện Can Lộc, hoạt động báo chí và văn học từ những năm 1934 - 1935. Ông là nhà báo, nhà thơ, dịch giả Hán - Nôm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà quản lý văn hóa văn nghệ có nhiều thành tựu và cống hiến. Ông là Hội trưởng Hội văn nghệ Hà Tĩnh đầu tiên. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông [21.8], VHNA sẽ lần lượt đăng một số bài viết về ông.

  • Vùng quê nghèo chúng tôi nằm sát chân núi Hồng Lĩnh có Hàm Anh (nay là xóm 1 xã Tân Lộc) từng sản sinh ra một Tiến sĩ xuất thân Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) (1499) đời Lê Hiến tông tên là Phan Đình Tá (1468-?)

  • HỒ DZẾNH
             Hồi ký

    Mai sau dù có bao giờ
    Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

                                 NGUYỄN DU

  • LÝ HOÀI THU

    Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.

  • PHẠM THỊ CÚC

    (Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)

  • Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.

  • CAO THỊ QUẾ HƯƠNG

    Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.

  • THÁI KIM LAN

    Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.

  • Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?

  • Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.

  • Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập  thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.

  • NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN

    (Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)

  • BÙI KIM CHI

    Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…

  • LÊ MINH
    Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)

    … Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LAN

    Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.

  • (SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.

  • NGUYỄN CƯƠNG

    Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.