Đi về phía biển

15:14 16/10/2008
VÕ THỊ ÁNH HỒNGTôi vừa chạy vừa gọi chị trong tiếng sóng rì rào và tiếng lao xao của dãy phi lao. Như không nghe thấy tiếng tôi, chị vẫn thẫn thờ nhìn về xa xăm, chờ đợi...

Những người phụ nữ ở miền biển quê tôi vẫn có niềm tin là nếu họ ngồi dưới ánh trăng đêm và thề thốt về lòng thủy chung của mình rồi nguyện cầu thì người đàn ông xa khơi sẽ bình an trở về. Vậy mà bao mùa trăng qua đi, làn da, đôi mắt của chị đã đẫm màu trăng nhưng anh vẫn không về.
Tôi chạy lại gần, ngồi bệt xuống bên chị.
- O ra đây mần chi, khuya rồi đó.
- Chị... Anh... Anh Phong về rồi.
- Ừ, anh sẽ về, chị mong mãi thì anh cũng phải về chứ.
- Không, ý em bảo là anh về nhà rồi cơ.
- O nói...
- Thật không? O không lừa tui đấy chứ?...
Nước mắt chị lăn dài xuống khóe miệng từ bao giờ. Chị cầm lấy vai tôi lay lay hỏi dồn.
- Dạ, anh về thật rồi, nhưng...
Tôi chưa nói hết câu thì chị đã ù chạy. Dáng chị xiêu xiêu như một con còng gió trên bãi biển bao la. Tôi nhìn theo mà lòng se sắt, muốn chạy theo níu bước chân chị lại nhưng không đành.
Chị chạy một mạch và ập vào phòng như cơn gió.
- Mình ơi, có thật là mình đã về đó không? Mình... ơ...
Chị khựng lại nhìn anh trân trân. Anh vội vàng đẩy người đàn bà đang ngồi vắt vẻo trên đùi mình xuống, gỡ bàn tay đang nũng nịu bám riết lấy cổ anh một cách bối rối. Chị nhón chân định nhào về phía anh, chị chờ đợi bàn tay giang rộng đón mình vào lòng. Rồi hai tay chị tự nắm lấy nhau xoa xoa. Thấy anh vẫn đang ngồi yên còn người đàn bà bên cạnh vừa vuốt vuốt lên mái tóc anh nũng nịu vừa đánh mắt sang chị để khẳng định chủ quyền.
- À... ờ... ừm... ờ... mình về khi mô mà nỏ nói với em một tiếng em dọn lại nhà để đón khách.
Nói rồi chị đi lại bàn rót nước. Tay chị run run làm nước chảy cả ra ngoài, vương cả vào quần áo, chị bối rối.
- Ờ... hai người về đã lâu chưa? Về khuya chắc vất vả lắm nhỉ.
Anh đứng dậy cầm lấy ấm nước trên tay chị.
- Để tôi rót cho, nước ra ngoài chén cả rồi kìa.
- À... ờ... À... Tại lâu rồi... không rót nước chè nên... không quen. À... ừm... Hai người chắc mệt lắm rồi, để tôi đi kiếm cái gì cho hai người ăn tạm.

Không đợi câu trả lời, chị tất bật đi ra. Vừa khuất sau rèm cửa chị liền đưa tay lên bịt miệng, ù chạy về phía sau bếp. Đôi vai gầy guộc run lên từng hồi. Chị úp mặt vào vách đất, đấm thùm thụp vào vách đất, chị đập đầu liên tục vào vách đất... và bám vào vách đất ngồi thụp xuống. Chị đưa hai bàn tay bịt miệng mình lại, ư ử như một chú mèo con bị trận đòn oan. Một lát sau, sực nhớ ra là mình bảo đi kiếm cái gì ăn, chị gạt nước mắt đi về phía giếng rửa mặt, vỗ từng vốc nước lên mặt. Chị múc một chậu nước đầy, soi bóng mình vào đó và mỉm cười. Chưa hài lòng với nụ cười của mình, chị mỉm cười lần nữa, lần nữa rồi đi vào bếp. Gặp tôi, chị dành cho tôi một nụ cười:
- Gió thổi mạnh quá nên cát bay cả vào mắt chị.
- Dạ, lúc nãy có gió đổi chiều.
- À... ừ. O coi mắt tui có bị đỏ không? Anh Phong nhìn thấy tưởng tui bị đau mắt đỏ thì chết.
- Chỉ hơi hơi đỏ thôi, không can chi mô chị ạ.
- Ừ.
Nói rồi chị tất bật đun đun nấu nấu, khi mọi thứ đã tươm tất, chị quay sang hỏi tôi:
- O Vân này. O thấy người đàn bà đó có trẻ đẹp hơn tui nhiều lắm không? Tui già rồi phải không O?
- Mần chi có, chị dâu em vẫn đẹp lắm mà.
- O thương tui thì O nói rứa thôi, chứ tui... Thôi, đưa cơm lên kẻo họ đợi rồi đấy.

Nói rồi chị bê mâm cơm ra khỏi bếp nhanh như thể nếu chị chậm chân cơm sẽ bốc hơi hết mất. Tôi đứng lặng nhìn theo cho đến lúc dáng chị khuất sau tấm rèm nhà trên.

Đã mười hai năm rồi kể từ ngày chị về làm dâu nhà tôi và cũng tròn mười năm kể từ ngày tàu anh gặp bão ngoài biển khơi. Ai cũng bảo anh mất rồi, chỉ có mình chị tin anh sẽ trở về. “Nếu mất thì anh phải về báo mộng cho chị chứ anh yêu chị lắm mà”. Mang niềm tin đó chị ngồi nguyện cầu trước biển từ mùa trăng này sang mùa trăng khác, mãi mà chẳng thấy anh về.
Chẳng biết do chị nguyện cầu hay sao mà anh tôi may mắn gặp được chiếc tàu buôn của người đàn bà này, chị ta cứu anh rồi từ đấy hai người sống theo kiểu “già nhân ngãi”. Cũng từ đấy anh mải miết theo những chuyến buôn bên cô nhân tình cho đến khi chuyện làm ăn đổ vỡ, cả hai trắng tay nên phải kéo về đây ở qua ngày. Bảo là ở qua ngày chứ đến bao giờ thì anh tôi cũng không biết.

Chị bê mâm cơm lên nhà được một lúc thì tôi lên theo. Căn phòng lặng im, tôi nhè nhẹ bước vào, thấy chị đang ngồi lặng bên mâm cơm, đôi mắt thẫn thờ nhìn anh không chớp. Còn anh thì đang cuộn chặt lấy người đàn bà trong giấc ngủ ngon lành. Chị đưa tay định vuốt mái tóc anh nhưng rồi rụt rè co lại, lơ lửng trên mái đầu anh, lúc hạ xuống, lúc đưa lên, rồi chị đưa lên miệng ngăn tiếng thở dài.

Căn phòng của tôi giờ được trang trí lại cho người đàn bà đó ở. Còn tôi thì chuyển sang căn phòng bên cạnh và cạnh luôn phòng chị dâu tôi. Hằng đêm, khi bên này vang lên tiếng cười khúc khích nũng nịu thì bên kia là tiếng trở mình rồi im lặng. Tôi biết chị lại đi ra biển, lại nhìn trăng như ngày xưa. Cũng có những đêm anh sang với chị nhưng chưa được bao lâu thì bên kia, người đàn bà ấy, lúc thì kêu đau bụng, lúc van đau đầu và hầu như chẳng bao giờ anh chị được yên. Những lúc đấy, chị lại đi ra biển, ngồi một mình cho tới sáng. Có hôm, tôi bước theo và đến ngồi bên chị. Chị ngước đôi mắt trũng sâu hỏi tôi: “Chị đợi anh răng anh mãi không về?”.
Biển bắt đầu nhuộm những con sóng bạc lên mái đầu của chị, trăng nhuộm ánh vàng lên làn da chị. Biển được hòa bởi biết bao nước mắt của chị...

Một hôm đi chợ về, chị mua thêm đôi chiếu cùng hai chiếc gối thêu hoa thật đẹp. Người đàn bà ấy thấy vậy vừa nhìn anh tôi vừa cười khẩy.
- Có người không quyến rũ bằng em nên nhờ chăn chiếu quyến rũ hộ kìa.
- Cô mua mấy thứ này làm gì cho tốn kém, chăn chiếu trong nhà đã rách đâu.
Chị dâu tôi mỉm cười rồi trao cả cho tôi.
- O lấy một chiếc trải vào giường O nhé. Con gái lớn rồi, giường chiếu tươm tất vẫn hơn em ạ. Còn bộ này O trải giường anh chị ấy hộ tui.
- Nói rồi chị đi xuống bếp để lại anh tôi đứng sững người, còn người đàn bà kia nhìn theo ngờ vực.

Trăng đêm ấy sáng thế, ánh sáng len lỏi qua từng khe cửa. Chị mở cửa bước ra. Cũng như bao lần, lần này chị cũng định ra biển và ngồi thẫn thờ chờ đợi như những ngày xưa. Qua phòng anh và người đàn bà đó, chị bước nhanh hơn nhưng khe cửa he hé đã níu chân chị trở lại. Chị nghe những âm thanh quen thuộc, nhìn thấy ánh trăng đang đồng lõa cháy trên cơ thể hai người. Chị nhìn trân trân rồi bật chạy. Chị chạy ra khỏi nhà và ngồi bệt xuống khoảng sân phía trước. Chị khóc, chị vò mái tóc của mình và chị thở như một người kiệt sức. Chị lê bước chân đi đi lại lại trong vườn rồi dừng chân trước chuồng lợn. Chị chợt nhớ ra chiều nay chị có nhờ người đàn bà ấy đổ cám vào máng cho  lợn hộ chị khi chị còn đang đan lưới nhưng rồi cám vẫn còn đấy. Chị mở cửa chuồng lợn, đổ cám vào rồi đi ra. Tay chị mân mê nơi thanh chốt cửa chuồng. Chị cho vào rồi lại đẩy ra. Nghĩ sao chị lại cho vào nhưng một lần nữa chị lại đẩy ra. Đàn lợn sổng chuồng kêu inh ỏi. Chị hốt hoảng chạy theo lùa chúng vào rồi vào nhà đập cửa phòng anh tôi và người đàn bà.

- Lợn xổng chuồng rồi, mọi người bắt hộ tôi với.
- Lát sau, anh tôi mới cáu kỉnh bước ra. Người đàn bà trong bộ dạng ngái ngủ đứng ở cửa nhìn qua, còn tôi cũng nhanh chân lùa đàn lợn vào cho chị. Khi đàn lợn ngoan ngoã về chuồng rồi, anh tôi đóng khóa cẩn thận và nhìn chị dâu tôi dò hỏi:
- Cô cho chúng ra à?
- Tôi... tôi...
Sáng hôm sau khi mọi người đã tỉnh giấc, tôi vẫn chưa thấy phòng chị dâu có động tĩnh gì. Nghĩ là chị ra biển như mọi hôm, tôi chạy ù ra biển nhưng vẫn không thấy chị. Về đến nhà, anh trai tôi chỉ vào mảnh giấy và bảo không cần tìm nữa...
Một tuần, hai tuần... không có tin tức gì của chị. Tôi lên thành phố, đến các cơ sở sản xuất lưới dò hỏi nhưng đều vô vọng. Đêm khuya tôi mới về đến nhà, ánh trăng chênh chếch soi đường cho tôi đi về phía biển. Không biết biển có nhớ người đàn bà trông chồng mỗi đêm trăng như tôi hay không. Biển rì rào, những con sóng ì oạp vỗ bờ cuốn theo những viên cát dã tràng đã xe.
                          V.T.A.H

(nguồn: TCSH số 221 - 07 - 2007)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG TRỌNG ĐỊNHPhòng giam chật chội, tối tăm...  Gần trần có một lỗ thông hơi. Bên ngoài lỗ thông hơi là bức tường tôn xám xỉn. Khe hở dài chừng 10 mét, rộng chừng 3 tấc, nằm song song và gần sát với mặt đường bên ngoài. Đứng trong phòng giam, từ lỗ thông hơi nhìn qua khe hở của bức tường, chỉ có thể thấy những bước chân người đi.

  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.