Đi tìm hồn thơ Võ Quê qua những vần thơ lái

16:01 19/10/2011
TRẦN THỊ NGỌC LAN (Đọc tập thơ Ngược xuôi thế sự, Nxb Văn học, 2011)
[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

Thơ lái vốn là cái phần hiếm quý của trí tuệ dân gian phát tiết trong một vài người. Tiền nhân chỉ làm một vài câu thơ lái hoặc một vài bài trong hoàn cảnh đặc biệt, như bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, hay cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi trong nền văn hóa dân tộc đã để lại tác phẩm đặc sắc. Ở đây Võ Quê làm thơ lái cả tập, cả đời, thành một phong cách, bộc lộ trí tuệ và tấm lòng ông đối với nước non, nhân quần. Tập thơ lái Ngược xuôi thế sự của Võ Quê là một sáng tạo mới lạ, độc đáo. Bài thơ lái đầu tiên của ông là bài thơ về trận lụt thế kỷ ở Huế năm 1999, nơi bao thân phận con người nổi nênh trong cơn hồng thủy:

Trời lụt ca nhi cũng trụt lời
Trời đong mưa lũ xuống trong đời
Vái lạy lụt tan lành váy lại
Đời cho du khách dạo đò chơi.
           
(Lụt thế kỷ 1999 cảm tác)

Thơ lái Võ Quê rất lạ, lúc ứa nước mắt, lúc lạc quan, lúc lặng im, thư giãn, lúc bất ngờ thảm khốc nhưng cũng ngập tràn hy vọng tươi xanh. Những bài thơ rất ngắn như trên nhưng lại vẽ ra một cuộc đời rộng lớn với nhiều thăng trầm ẩn tích. Người ta không những thấy ông thương con người, mà thương cả bầy kiến đang nhập nhòa trong nước lụt. Nếu độc giả để ý một chút sẽ thấy ngay những cụm từ được nói lái rất chuẩn, trời lụt - trụt lời, trời đong - trong đời, vái lạy - váy lại, đời cho - đò chơi. Cái phần lái này rất sắc sảo, trí tuệ, trở thành tâm điểm sáng tạo của mỗi bài thơ, đã xuất hiện trong tập thơ một cách dày đặc. Làm được như vậy, tác giả phải công phu lựa chọn từ ngữ, chi tiết, ý nghĩa, bối cảnh xã hội và những ý tưởng nhân từ để gửi gắm. Những bài thơ biểu hiện đời sống nhiều bất trắc, oái ăm ấy tuy dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người, nhưng cũng đòi hỏi bạn đọc cùng tư duy và đồng sáng tạo.

Đọc hết tập thơ ta rất ngạc nhiên nhận ra nhiều bài toàn bích. Nó rất đời, vừa kể chuyện vừa gợi, nói rất thản nhiên về cuộc sống, và vượt trên nỗi đau nhân quần là một nỗi buồn thế sự. Cách lựa chọn hình ảnh, chi tiết khá đặc sắc. “Đất tổ thiên tai làm đổ tất” (Nỗi đau mùa lũ lụt) gây sốc vì cảm quan thời thế. Đời người giàu nghèo vật lộn miếng ăn miếng sống, chua xót, đắng cay, trồi trụt. Nỗi đau có lúc ngưng đọng trong sự tồn tại rồi lại tiếp tục vận động trong vòng quay của nó. Khi các chi tiết thơ gói ghém được bản chất của đời sống, đó mới là thơ đích thực. Ông thương nhân quần vất vả lặn ngụp với miếng cơm manh áo. Tất cả những biến cố nhỏ nhất của cuộc sống cũng làm tóc nhà thơ thêm bạc. “Thâu đêm nhức nhối nghĩ thêm đau”.

Dạo quanh một vòng ta thấy, những đề tài thơ của Võ Quê được chọn lọc khá kỹ lưỡng và sâu sắc. Nghĩa là điều gì đáng nói ông mới viết ra. Cuộc sống nhân quần quanh ta thì muôn màu muôn vẻ, nhưng ông đã ôm chụp được những khoảnh khắc bản chất nhất. Từ sự giả dối hám lợi của thói đời, đến những hoạt cảnh vinh nhục của tha nhân, những quy luật giản đơn sâu cay, những ẩn dụ về cuộc sống… (Tự trào, Hoạt cảnh vùng đầm phá) hết thảy những nghịch cảnh chướng tai gai mắt đã được ông đề cập. Mỗi sự vật, sự việc và con người đều có sự vận động bên trong, đẩy đến những kết cục cười ra nước mắt. Ta thấy cuộc đời sao mà cực nhọc gian khổ thế. Đọc những cảnh này tôi thoáng nghĩ đến Đỗ Phủ lênh đênh trên dòng sông Tương Giang.

Một mảng quan trọng của thơ Võ Quê là bám sát những vấn đề thời sự xã hội. Ông không né tránh các tệ nạn xã hội, như quan chức tham nhũng, đục khoét nhân dân, phỉnh lừa, vơ vét, cơ hội. Đôi khi tác giả chỉ làm nhiệm vụ nêu ra, khơi gợi lên một hiện tượng xã hội để mọi người cảm nhận. Trách nhiệm của nhà thơ là gợi lên tứ thơ để độc giả cảm nhận, làm sao bài thơ cô đọng súc tích, ngắn gọn và độc đáo là tác giả đã thành công (Đầy tớ vét tiền bao tờ đấy/ Giành nhau tham nhũng chúng giàu nhanh). Ở một mức độ nào đó những bài thơ ấy giữ vai trò khai sáng. Những bài thơ chống tệ nạn xã hội rất đanh thép, bênh vực người nghèo, ghét cay ghét đắng cái xấu cái ác. Nhưng hình như đó chưa phải là âm hưởng chủ đạo của hồn thơ Võ Quê. Mà âm hưởng chủ đạo trong thơ ông vẫn là hồn quê chất phác đậm đà giản dị, yêu cái đẹp làng quê, nỗi đau đời, sự đồng cảm thương yêu dân nghèo. “Vật giá leo thang gạo lỏng nồi/ Nỗi lòng xa xót bạn nghèo ơi” (Vật giá leo thang). Nếu không có cái tâm đau đời, thương đời thì không làm được những câu thơ thấm thía đó. Thơ Võ Quê cũng không phải là món thơ trào phúng chống thói hư tật xấu. Thiết nghĩ thơ ông là món đặc sản cần thiết cho ai muốn nhấm nháp vị đời đắng cay nhưng mặn mà đầy mồ hôi và muối mặn.

Trong thơ ông cũng có một số chính kiến này khác, nhưng ta không thấy xuất hiện con người cá nhân, trái lại, nhà thơ rất khiêm nhường ẩn mình trong câu chữ. Cũng viết về tình yêu, gia đình bè bạn, song ta không thấy một chút gì ông kể về mình. Đọc thơ ông, ta nhận ra một tấm lòng nhân ái, bao dung với con người, luôn tin tưởng vào tương lai sự sống (Quệt má vì yêu nên quá mệt/ Bầu lên hạnh phúc được bền lâu). Đọc mấy bài thơ về cô dâu Việt, thấy nỗi đau tha hương và thân phận con người trong đó. Thơ lái Võ Quê là một sáng tạo mới mẻ và ý nghĩa đối với đời sống. Thực ra thơ Võ Quê là thơ có tư tưởng và cá tính. Bất cứ một đề tài nào dưới ngòi bút Võ Quê cũng trở thành bổ ích, thú vị. Ta thấy hiện lên một đời sống với nhiều phong vị đời thường thân thuộc, tuy cũng có lúc lóe lên những phê phán nảy lửa. Nhưng Võ Quê không phải làm thơ để kể xấu con người, mà trong sự giễu cợt chua xót của ông vẫn có sự ấm áp nồng say của một tấm lòng nhân hậu.

Ông viết về người vợ yêu quý của mình: Số phận an bài ai bàn nữa! Câu thơ thản nhiên mà có nhiều nước mắt. Con người ai không giữ gìn và trân quý hạnh phúc, sao câu thơ nghe có giọt nước mắt ngậm ngùi của hạnh phúc lứa đôi trước những nẻo đường rủi may số phận. Hay như bài Thơ tặng Khoa thận nhân tạo bệnh viện TW Huế lại thể hiện sâu đậm tình cảm yêu thương của nhà thơ đối với người vợ, tình trìu mến cảm kích đối với những người thầy thuốc nhân đức, lòng cảm tạ chân thành sự sống mà họ mang lại cho gia đình và người thân của nhà thơ.

Võ Quê làm thơ rất có nghề. Giỏi nắm bắt cảnh huống, cái thần và lựa chọn ngôn từ biểu đạt. Ông ý thức sử dụng câu chữ là để diễn tả ý tưởng, nên ông tuyệt đối không dính liền bản thân với chữ nghĩa để thổn thức can tràng! Ông là người tỉnh táo, biết rõ giá trị biểu đạt của ngôn ngữ và vần điệu nghệ thuật. Ngay khi tác giả viết về nhà thơ và thơ có cái gì đó ngậm ngùi, nhưng ông tỉnh táo chấp nhận thơ luôn đồng hành cùng cuộc sống. Thơ là một công cụ của nhà thơ, chứ không bao giờ nhà thơ bị ám ảnh phụ thuộc vào ngôn từ. Cũng có nhà thơ vấn vương ám ảnh song trùng. Nhưng có những nhà thơ biết thoát ra làm chủ ngôn ngữ. Khi đó người ta có thể nhảy múa với tư tưởng mà không bị tổn thương vì những hệ lụy của thơ và trò đời. Có những câu thơ gợi được chiều sâu mênh mang: “Hoài mang thương nhớ đóa hoàng mai”.

Võ Quê có những câu thơ quả là tài tình. Cách chọn đề tài, khu biệt phạm vi sáng tác, và dùng một thể loại thơ tứ tuyệt đã là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ. Nó phát huy trí tuệ dân gian, dễ nhớ dễ thuộc đi vào lòng người và bền vững tươi xanh như đời sống. Chính vì thế tôi tin tưởng ở sức sống của thơ Võ Quê.

Tôi quyết định viết về thơ ông cũng vì hai lý do: cái lạc quan và thương đời trong thơ ông. Ông quan tâm sâu sắc đến cái nhân quần và nỗi đau tê tái nhưng không hề bông phèng của một nhà thơ có nghề và từng trải.

Đôi khi thơ Võ Quê tỉnh khô, thản nhiên, nhưng sự đả phá và phê phán thì không hề giảm đi. Đã đấu tranh là một mất một còn, không khoan nhượng. Ở thơ Võ Quê cũng xuất hiện một vài câu thơ đay nghiến, những tính từ thân phận, nhưng tôi không đánh giá cao những câu thơ này - Dù biết đó là lòng mong muốn tất yếu và thiết thực của nhân dân, rau nào sâu ấy, gieo gì gặt nấy, trong dân gian là vậy - Cũng bởi vì một lẽ rằng Võ Quê là một hồn thơ nhân ái và mạnh mẽ.

Tôi băn khoăn nếu Võ Quê cứ làm mãi thơ lái thì sao. Không sao cả, nếu ông tiếp tục phát hiện thêm nhiều tứ thơ lạ, nhiều nút thắt oái ăm, nhiều từ ngữ lái độc đáo, thì thơ lái của ông sẽ không bao giờ cũ. Mà đề tài thì cuộc sống sẽ cung cấp cho ông tràn ngập thỏa sức vẫy vùng. Đôi khi cuộc sống quá mệt mỏi và lo âu, đọc thơ lái Võ Quê ta cũng thấy vui lên một chút.

- Viết câu chi đó?

- Có viết chi đâu!

Trống rỗng tim, đầu
Tìm đâu chữ nghĩa...

Một bài thơ diễn tả sự sáng tạo, nỗi đau nghệ thuật, ưu thời mẫn thế, mà ta thấy cuộc đời vẫn trưng bày ra chấp chới và nỗi lo lơ lửng vô hình. Có phải đó là trạng thái mất niềm tin và vô phương hướng của con người thời đại. Là một cuộc đối thoại, độc thoại đau thương và trống rỗng, là tâm trạng con người trong bối cảnh hỗn mang của xã hội?

Trong thơ Võ Quê, ta cũng thấy thấp thoáng một dòng Hương, những phận người và cái đẹp nổi nênh giữa dòng trường giang. Câu thơ cũng nổi nênh, chênh chao vậy thôi. Kéo theo tâm trạng nao nao của con người và bạn đọc. Đôi lúc ta giật mình, sửng sốt vì cái sâu xa dữ dội của một câu thơ: “Đường trần thế lắm người thề trấn lột/ Kẻo mai sau là một cõi đi về”. Cuộc đời thật là kinh khủng khôn lường. “Phu tướng vô minh dân kinh hãi/ Ngô đồng lá rớt Thái Hòa ghê!” Câu thơ làm ta giật thót mình khi dùng điển tích quá trúng và đắc địa. Chỉ một hình ảnh súc tích mà nói được vấn đề lớn của cục diện xã hội. Đôi khi những nghịch cảnh được phát hiện khá thú vị: “Bây chừ thế sự khác xưa/ Món cùng đinh lại làm vua cung đình”. Câu thơ hay, thiết tha, phát hiện một thực tế, một nghịch lý là các món ăn dân dã đã lên ngôi (làm vua) cho thực khách thưởng thức.

Để khảo sát sự tài tình của thơ lái Võ Quê ta hãy tiếp tục thưởng thức bài thơ sau:

Vì môi trường để mương trồi
Khỏa thân khẩn thiết xin mời bóp, thoa
Núi rừng thịt nướng rồi cha!
Trương mồi này nạc, xương, da, môi, trường…
           
(Khỏa thân vì môi trường)

Bài thơ quả thực là hay và độc đáo. Cặp lái môi trường - mương trồi, rồi khỏa thân khẩn thoa, núi rừng nướng rồi, và chẻ đôi từ môi - trường làm ta ngạc nhiên cười vỡ bụng. Chả là gần đây có cô ca sĩ khẩn thiết khỏa thân vì môi trường nên đã chạm nọc Võ Quê. Ông không hề nói cái đúng sai nhưng người đọc đã lĩnh hội trọn vẹn tâm tình gửi gắm của ông về hiện tượng trên.

Rồi đến cả chuyện báo lá cải cũng làm nhà thơ ngứa mắt. Lá cải - lái cả, thật đơn giản, ông cho vào giữa ba chữ “do đồng tiền” thế là xong, lột trần bản chất vấn đề. Rồi chuyện đá bóng, chuyện sân gôn của đại gia ăn chơi phè phỡn dồn đuổi dân nghèo cũng bị ông phanh phui không thương tiếc. Các vấn đề thời sự, dân sinh, xã hội nóng bỏng đều được đề cập. Thật ra, làm được chừng ấy việc đối với thơ lái Võ Quê cũng đã là đáng kể. Trong bài viết này, tôi không tập trung vào kỹ xảo lái thơ mà chú trọng đến tâm huyết của nhà thơ trong sự nghiệp. Để trực tiếp khảo sát những vần thơ lái đặc sắc, xin mời bạn đọc chỉ việc mở tập thơ ra.

T.T.N.L
(272/10-11)






Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • ĐOÀN TRỌNG HUY*

    Tố Hữu là nhà cách mạng - nhà thơ.
    Cách mạng và thơ ca thống nhất hài hòa trong một con người. Một đời, Tố Hữu đồng thời đi trên Đường Cách MạngĐường Thơ. Với Tố Hữu, Đường Thơ và Đường Cách Mạng đồng hành như nhập làm một trong Đại lộ Đất nước, Nhân dân, Dân tộc vĩ đại trên hành trình lịch sử cách mạng.
    Đường đời Tố Hữu cùng là sự hòa nhập hai con đường này.

  • PHẠM PHÚ PHONG - HOÀNG DŨNG

    Trang viết đầu tay có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc đời của người cầm bút. Đó là điểm mốc, là bước chân đầu tiên đặt lên con đường hun hút xa, đầy lo ngại nhưng cũng hết sức hấp dẫn.

  • NGÔ MINH

    Tôi gọi là “thầy” vì thầy Lương Duy Cán (Hà Nhật) dạy văn tôi hồi nhỏ học cấp 3 ở trường huyện. Tôi viết Chuyện thầy Hà Nhật làm thơ vì thầy vừa ra mắt tập thơ đầu tay Đá sỏi trên đường(*) khi thầy đã U80.

  • NGUYỄN QUANG HÀ

    Vợ một người bạn làm thơ của chúng tôi, trong bữa anh em tụ tập ở nhà chị "lai rai" với nhau, chị cũng góp chuyện, vui vẻ và rất thật thà.

  • BÙI VIỆT THẮNG

    (Đọc Hồng Nhu - Tuyển tập, Nxb Hội Nhà văn, 2011)

  • TRẦN THÙY MAI

    (Đọc Đi tìm ngọn núi thiêng của Nguyễn Văn Dũng, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2012)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ

    (Nhân đọc “Phạm Quỳnh, một góc nhìn” Tập 2. NXB Công an nhân dân, 2012)

  • LÊ HUỲNH LÂM

    Những buổi chiều tôi thường nhìn lá trước sân nhà cuốn bay theo gió. Chợt nghĩ, cái lẽ tự nhiên đó đã đẩy đưa một con người vào khúc quành của cuộc sống. Bởi tâm hồn ông quá nhạy cảm trước mọi sự, và ông có một lối diễn đạt chân thật, bình dị, gần gũi mà rất chua chát.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCH 

    Lâu nay, trên thi đàn bon chen vẫn thấp thoáng những bóng chữ u mê phóng chiếu cốt cách thiền. Người ta quen gọi đó là thơ thiền.

  • TRẦN HỮU LỤC

    Những trang văn đầu tiên của Trần Duy Phiên phản ánh cách nghĩ, cách sống và cách chọn lựa của một thanh niên trước thời cuộc và đất nước. Khi đang còn theo học tại trường đại học Sư phạm và đại học Văn khoa Huế, Trần Duy Phiên đã là một cây bút trẻ và còn là một sinh viên năng động.

  • NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI THƠ MỚI BÀN VỀ THƠ NGUYỄN ĐÌNH THƯ

    NGUYỄN HỮU SƠN

  • TRẦN THỊ VÂN DUNG

    Đứng trước mỗi cuộc đời, mỗi con người có những trải nghiệm khác nhau, cách chia sẻ khác nhau. Mỗi nhà thơ là một cái tôi nội cảm, hòa nhập vào thế giới xung quanh, phân thân thành những trạng thái khác nhau để thể hiện mọi cảm xúc.

  • LƯƠNG AN

    Như chúng ta biết, từ lâu rồi mối tình bạn giữa Miên Thẩm và Cao Bá Quát đã được xem như một quan hệ ít có, từ tri ngộ văn chương mà vượt lên sự cách biệt của hai tầng lớp xã hội, sự rẽ đôi của hai khuynh hướng tư tưởng và hai đường đời.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

    (Đọc tập thơ Mật ngôn của Lê Huỳnh Lâm, Nxb Văn học, 2012)

  • PHẠM PHÚ PHONG

    Nhất Lâm tuổi Bính Tý (1936), năm nay đã 76 tuổi, xếp vào hàng “xưa nay hiếm”, nhưng mãi đến nay anh mới đến được Suối tiên tắm (Nxb Văn học, 2012).

  • TRẦN VĂN KHÊ

    Tôi quen biết Thái Kim Lan cũng đã gần 40 năm nay, một thời gian dài thấm đẫm nhiều kỷ niệm ở đủ mọi phương diện: công việc, thưởng thức nghệ thuật và cả… chuyện đời.

  • VŨ NGỌC PHAN
              Trích hồi ký

    ... Tôi viết Nhà Văn Hiện Đại từ tháng 12-1938 đến cuối tháng giêng 1940 thì xong lượt đầu, tất cả 1650 trang trên giấy học trò.

  • HỒ THẾ HÀ

    “Người đẹp vẫn thường hay chết yểu
    Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai!”

                             J.Leiba

  • HỒNG NHU

    (Đọc Vùng sâu - tiểu thuyết của Tô Nhuận Vỹ - Nxb Hội Nhà văn 1-2012)

  • NGÔ MINH

    Sau gần một năm chuẩn bị, sưu tầm tài liệu, lo “chạy” kinh phí, đến giữa tháng 6-2012, Hải Kỳ tuyển tập(*) đã ra mắt độc giả. Tuyển tập dày 596 trang do nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo vẽ bìa rất bắt mắt.