ĐOÀN ÁNH DƯƠNG
Ảnh: internet
1. Phê bình kí hiệu học - đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ1 của Lã Nguyên [La Khắc Hòa] tập hợp các bài viết sử dụng tập trung phương pháp phê bình kí hiệu học vào nghiên cứu văn học Việt Nam2. Với 14 bài viết về các vấn đề lịch sử, tác giả, tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam, đây thực sự là một cuốn sách hấp dẫn, không chỉ ở phương diện sử dụng tương thích phương pháp nghiên cứu mới, mà qua đó, còn giúp bạn đọc có được những hiểu biết mới về những vấn đề văn học đã trở nên thân thuộc. “Hành trình tái thiết” ngôn ngữ văn học Việt Nam của Lã Nguyên, như vậy, hứa hẹn những hồi ứng tri thức trong bối cảnh nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay đang dần chuyển dịch sang hướng tiếp cận văn hóa học.
2. Ngoài phần Phụ lục dịch bài viết giới thiệu về trường phái kí hiệu học văn hóa Tartu-Moskva (là hướng nghiên cứu mà tác giả chịu ảnh hưởng) của Iu.M. Lotman: Kí hiệu học văn hóa ở trường phái kí hiệu học Tartu-Moskva; bài viết Kí hiệu học và phê bình văn học của chính tác giả để thay Lời nói đầu và bài viết Lã Nguyên và phê bình kí hiệu học của GS.TS. Trần Đình Sử thay cho Lời bạt, sách được bố cục làm hai phần: “Tiếng nói thời đại” tập hợp 6 bài viết về các vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam hiện đại; và “Ngôn ngữ tác giả” tập hợp 8 bài viết về một số tác giả, tác phẩm văn học như là các trường hợp đại diện của giai đoạn văn học này. Sợi chỉ gắn kết hai phần, thậm chí đan dệt thành bức khảm văn học Việt Nam hiện đại, là sự thống nhất đi tìm hình tượng kí hiệu - loại “kí hiệu siêu lời nói, siêu ngôn ngữ học” (tr.8) ẩn giấu trong các văn bản văn học. Khi nhà phê bình tìm thấy và hệ thống các hình tượng kí hiệu này trong một kí hiệu quyển - ở đây là không gian văn học nghệ thuật như là “nơi lưu giữ, truyền đạt và sáng tạo thông tin” (tr.6) qua trung gian ngôn ngữ - tiếng nói (thời đại) và điệu giọng (nhà văn) sẽ được tái hiện. Điều này làm phát lộ tư tưởng nghệ thuật trong sáng tác văn học qua các hình thức biểu hiện cụ thể - cảm tính của nó, cũng đồng thời cho thấy vị trí của sáng tác văn học trong mạng lưới cấu trúc các tiến trình văn học, các phong cách nghệ thuật, hay làm bật hiện bản chất thẩm mĩ của thời đại, tác giả, tác phẩm văn học.
3. Lã Nguyên trước hết là một nhà nghiên cứu có thế mạnh ở việc “tái thiết” các tiến trình văn học. Tiểu luận độc đáo được Lã Nguyên tiếp cận theo hướng kí hiệu học văn hóa - “Nhìn lại những bước đi. Lắng nghe những tiếng nói (Về văn học Việt Nam thời đổi mới 1975 - 1991)” - ngay ở lần đầu tiên công bố trong hội thảo “Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy” (Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức, 2005), đã được tán thưởng nhiệt liệt khi ông so sánh tiếng nói, giọng nói của văn học Việt Nam trước và sau 1975, trong cách ông chỉ ra “có một giọng nói rất to thống ngự trong văn học Việt Nam già nửa thế kỉ” (tr.98) nếu tính từ dấu mốc 1945: ở nền văn học sử thi trước 1975, tiếng nói ấy đại diện cho tư tưởng quốc gia, và vì mang âm hưởng lãng mạn cách mạng nên “giọng nói to” ấy tìm thấy phương thức thể hiện tương ứng là “tiếng hát hùng tráng”, theo đó mà thơ trữ tình trở thành thể loại chính trên sân khấu văn chương, nơi Tố Hữu trở thành “lá cờ đầu”; ở nền văn học thế sự sau 1975, tiếng nói ấy biểu hiện cho tâm trạng đại chúng, và vì mang khát vọng đổi mới xã hội đang trên đà phân hóa, khủng hoảng, đòi hỏi phải đổi thay, sự phong phú, đa dạng ấy khiến cho “giọng nói to” tìm thấy phương thức thể hiện tương ứng là “tiếng cười trào tiếu, giễu nhại”, khi văn học thế sự đề cập đến những mảng khuất tối mà văn học sử thi trước kia gác sang một bên, theo đó mà văn xuôi tự sự trở thành thể loại chiếm ưu thế, với hàng loạt các tác giả bút ký, phóng sự, tiểu thuyết tư liệu, đến các sáng tác hư cấu.
Song bên cạnh đó còn có “giọng nói nhỏ” mà Nguyễn Huy Thiệp là một đại diện quan trọng. Cái “giọng nói nhỏ” mà Nguyễn Huy Thiệp cất lên, theo đó mà tạo thành “bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975” (như tên một bài viết quan trọng khác trong cuốn sách, tr.286 - 318), là bởi nhà văn đã không đặt mình trong không gian rộng lớn của các “mặt trận” chiến đấu “giữ và dựng nước”, mà khiêm nhường đặt mình vào trong “không gian sinh hoạt thường ngày”. Chính việc lựa chọn không gian mới mẻ này đã khiến cho tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp mang dấu chỉ của “bước ngoặt hệ hình ngôn ngữ”, chuyển từ “hệ hình huyền thoại” của ngôn ngữ “nhà binh” trong văn học cách mạng trước kia sang “hệ hình truyện kể” của ngôn ngữ “tiểu thuyết” trong văn học thế sự đời tư sau này. Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, vì thế, mở ra hướng tiếp cận mô hình không gian khép kín, phân mảnh, xóa bỏ trật tự tôn ti, đề cập nhiều đến sự khuyết thiếu, tai ương, sự tha hóa, cái xấu, cái ác, dục vọng, tăm tối,… trong sáng tác của thế hệ nhà văn sau Đổi mới (1986).
Như vậy là, khi “lắng nghe những tiếng nói”, Lã Nguyên đã thấy được những bước đi của văn học Việt Nam sau 1975: ở đoạn khởi động mười năm đầu, 1975 - 1985, văn học chịu tác động của văn học dịch để thúc đẩy các quá trình chuyển đổi; ở đoạn cao trào, 1986 - 1991, văn học đổi mới trên tất cả các bình diện của lí luận phê bình, tự sự phi hư cấu và hư cấu nghệ thuật theo hai hướng, có thể ước lệ gọi là phản sử thi và hậu hiện đại; sau 1992, văn học tiếp tục chuyển mình bằng cách đổi mới lối viết, từng bước thu hẹp khoảng cách tư duy nghệ thuật với các nền văn học tiên tiến khác, khi nhà văn tái nhận thức về “vị thế của văn học trên sân chơi văn hóa” (tr.63), và ý thức sâu sắc hơn các vấn đề “quốc tế và bản địa, cách tân và truyền thống” (tr.115) trong sáng tạo văn học nghệ thuật.
Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của Lã Nguyên trong việc tái thiết các tiến trình văn học phải nằm ở các tiểu luận nhận thức về văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ tiểu luận đầu tiên được viết dịp “50 năm sau cách mạng tháng Tám 1945” (Diện mạo văn học Việt Nam 1945 - 1975 - nhìn từ góc độ thi pháp thể loại) đến các tiểu luận gần đây nhất, mà đáng chú ý hơn cả là Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình giao tiếp nghệ thuật (2011) và Nguyên tắc vẽ tranh, tạc tượng đài và chủ nghĩa hiện thực thị giác trong văn học Việt Nam trước 1945 (2014), Lã Nguyên đã phác dựng mô hình giao tiếp nghệ thuật của một trào lưu thống soái văn học Việt Nam gần hết nửa sau thế kỉ XX. Giữ vị thế ưu trội, cầm nhịp cho các hoạt động giao tiếp nghệ thuật là người chiến thắng - chủ nhân của xã hội mới, chủ thể lời nói của các văn bản nghệ thuật. Nhìn từ hình tượng nhân vật như thế, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là thế giới của bốn loại hình tượng kí hiệu: người cha - lãnh tụ anh minh, người mẹ - tổ quốc vĩ đại, chúng con - chiến đấu anh hùng và kẻ thù - bầy thú man rợ. Mọi nguyên tắc giao tiếp, mọi câu chuyện văn học đều hoạt động dưới định chế siêu ngôn ngữ này. Theo đó, nhìn từ hệ hình giao tiếp nghệ thuật, Lã Nguyên nhận thấy “tiếng nói văn học biến cuộc đối thoại tay ba tác giả - nhân vật - người đọc, - vốn là chuyện tư tưởng, chỉ diễn ra trong thế giới nội tâm của những chủ thể tự do, - thành dàn đồng ca “Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”, hoặc chuyển đối thoại ra cái nhìn bên ngoài, hướng tới một hiện thực thị giác được khắc họa theo nguyên tắc dựng tượng đài, đâu đâu cũng là thành đồng vách sắt, rất đỗi kì vĩ” (tr.39); và nhìn từ phong cách, “lại có thể gọi văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa hiện thực thị giác” (tr.53) theo quy phạm phân vai vẽ tranh, tạc tượng đài trong diễn ngôn của trào lưu văn học này.
4. Sức hấp dẫn của ngòi bút phê bình Lã Nguyên còn đến ở cách thức ông “tái lập” phong cách nghệ thuật nhà văn. Các bài viết về Tố Hữu, Nguyễn Huy Thiệp đã nhắc đến ở trên, đặc biệt là bài viết về Nguyễn Tuân, là những ví dụ xuất sắc cho việc bộ công cụ mới (ở đây là kí hiệu học văn hóa) đã làm sống lại, làm khác, và nổi bật ngôn ngữ nghệ thuật của các nhà văn, chỉ ra một cách xác đáng và hấp dẫn đặc trưng thẩm mĩ trong các sáng tác của họ. Tập trung vào văn học xã hội chủ nghĩa, với trường hợp Tố Hữu, Lã Nguyên đã phân tích một cách thuyết phục cách thức tạo lập “chủ nghĩa hiện thực thị giác” của nền văn học này qua việc chủ soái của nó là Tố Hữu tổ chức “chiến lược diễn ngôn”, lựa chọn “ngôn ngữ thế giới quan” và sử dụng “các mô thức tu từ” để biến thơ ca của mình trở thành điển phạm, mô phạm cho các tác giả khác “học tập”. Ở một trường hợp đối trọng là Nguyễn Tuân, cũng cùng một cách thức “từ hiện đại tìm về truyền thống” như tư duy nghệ thuật của Tố Hữu, nhà văn này lại lựa lọc lấy các phạm trù “kì - quái - chí - tuyệt” của nghệ thuật từ chương cổ điển phương Đông để tạo lập điển phạm không thể bắt chước, làm nên một “cái tôi ngông nghênh” giữa nhân quần vô sản mà không bị hạ bệ, làm cho khó dễ. Trong khi, như đã chỉ ra ở trên, lựa chọn không gian sinh hoạt thường ngày và bút pháp mới phi truyền thống, Nguyễn Huy Thiệp khi vừa xuất hiện đã nhận ngay được lời động viên/ cảnh tỉnh của Hoàng Ngọc Hiến: “tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió”3. Hai bài viết của Lã Nguyên về Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975; Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài) trong cuốn sách giải mã giúp người đọc nguyên nhân dẫn đến những bất tương thích trong tiếp nhận tiếng nói và điệu giọng riêng có của nhà văn độc đáo này.
Làm mới nhưng không đứt đoạn với truyền thống thi pháp học, các phân tích/ đọc sâu văn bản dưới ánh sáng của kí hiệu học diễn ngôn và thi pháp học lịch sử đã giúp Lã Nguyên mô tả một cách thống nhất ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác cá nhân và ngôn ngữ nghệ thuật của thời đại mà nhà văn ấy thuộc về. Hiểu về tác giả hay tác phẩm cụ thể, vì thế, góp phần hiểu sâu hơn đặc điểm lịch sử văn học giai đoạn; và ngược lại, hiểu về loại hình diễn ngôn văn học từng thời kì, cũng giúp cho việc “tái tạo” đặc trưng thi pháp nhà văn.
5. Nhìn văn học như một “hệ hình giao tiếp nghệ thuật”, Lã Nguyên đã chủ động đề xuất các giả định khoa học “nhằm vào việc tái cấu trúc các hệ thống ngôn ngữ đặc thù làm nên các loại hình diễn ngôn trong văn học nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử và trong sáng tác của một số nhà văn, nghệ sĩ” (tr.10). Kết quả của công việc này, qua các bài viết trong tập sách, không chỉ rọi những ánh sáng mới mẻ vào việc tìm hiểu chuyên sâu về lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, mà ở phương diện đại chúng hơn, cho thấy sức hấp dẫn mời gọi và các khả thể mà văn học và các cách thức đổi mới lối tiếp cận có thể đem lại cho sự thụ hưởng nghệ thuật của người đọc. Có thể chính vì hiệu quả sâu rộng này mà GS.TS. Trần Đình Sử đã đánh giá rất cao cuốn sách và nỗ lực học thuật của tác giả: “Mặc dù kí hiệu học đã được giới thiệu và ứng dụng vào Việt Nam từ những năm 70 thế kỉ trước, song phải đến Phê bình kí hiệu học - đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ của Lã Nguyên, chúng ta mới có thể coi là một thành quả đáng kể của việc vận dụng lĩnh vực tri thức này vào nghiên cứu văn học, nghệ thuật Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành và triển vọng của ngành nghiên cứu kí hiệu học nước nhà” (tr.399), đồng thời vì đó mà “tin tưởng rằng khuynh hướng này sẽ nhanh chóng được bắt rễ, lan tỏa trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam, làm cho bức tranh nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam thêm nhiều màu sắc” (tr.405).
Đ.A.D
(TCSH365/07-2019)
Chú thích:
1. Lã Nguyên: Phê bình kí hiệu học - đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ. Nxb. Phụ nữ, H., 2018, 408 trang. Các trích dẫn trong bài viết đều theo sách này.
2. Trước công trình thực hành nghiên cứu này, Lã Nguyên đã có nhiều năm dịch và giới thiệu lí thuyết văn học phương Tây hiện đại và lí thuyết kí hiệu học. Xem Nhiều tác giả: Lí luận văn học - những vấn đề hiện đại (Lã Nguyên tuyển dịch), Nxb. Đại học Sư phạm, H., 2012; tái bản có bổ sung 2017; Yu. Lotman: Kí hiệu học văn hóa (Lã Nguyên, Trần Đình Sử, Đỗ Hải Phong dịch), Nxb. Đại học Sư phạm, H., 2014; tái bản 2015. Một nhận thức về lịch sử các vấn đề lí thuyết văn học và sự du hành của nó tới Việt Nam, cũng được Lã Nguyên trình bày trong một công trình đồ sộ vừa mới được xuất bản: Số phận lịch sử của các lí thuyết văn học, Trung tâm Kinh doanh Xuất bản và Phát hành sách thuộc Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội và Nxb. Phụ nữ, H., 2018.
3. Hoàng Ngọc Hiến: “Lời giới thiệu: Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió”, trong Nguyễn Huy Thiệp: Tướng về hưu, Tuần báo Văn nghệ và Nxb. Trẻ, H. - Tp.HCM.,1988, tr.5-12.
Tải mã QRCode
TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.
HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.
TRƯƠNG ĐĂNG DUNG Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.
ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).
NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.
LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.
NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.
AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.
TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!
PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.
THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm. VẠN HẠNH Thiền sư
HỒ THẾ HÀ Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.
LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết: Đào tiên đã bén tay phàm Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?
CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.
PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.
HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.
BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.
NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên - Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.