Đi tìm hình tượng kí hiệu trong phê bình kí hiệu học văn học

15:06 02/08/2019


ĐOÀN ÁNH DƯƠNG

Ảnh: internet

1. Phê bình kí hiệu học - đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ1 của Lã Nguyên [La Khắc Hòa] tập hợp các bài viết sử dụng tập trung phương pháp phê bình kí hiệu học vào nghiên cứu văn học Việt Nam2. Với 14 bài viết về các vấn đề lịch sử, tác giả, tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam, đây thực sự là một cuốn sách hấp dẫn, không chỉ ở phương diện sử dụng tương thích phương pháp nghiên cứu mới, mà qua đó, còn giúp bạn đọc có được những hiểu biết mới về những vấn đề văn học đã trở nên thân thuộc. “Hành trình tái thiết” ngôn ngữ văn học Việt Nam của Lã Nguyên, như vậy, hứa hẹn những hồi ứng tri thức trong bối cảnh nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay đang dần chuyển dịch sang hướng tiếp cận văn hóa học.

2. Ngoài phần Phụ lục dịch bài viết giới thiệu về trường phái kí hiệu học văn hóa Tartu-Moskva (là hướng nghiên cứu mà tác giả chịu ảnh hưởng) của Iu.M. Lotman: Kí hiệu học văn hóa ở trường phái kí hiệu học Tartu-Moskva; bài viết Kí hiệu học và phê bình văn học của chính tác giả để thay Lời nói đầu và bài viết Lã Nguyên và phê bình kí hiệu học của GS.TS. Trần Đình Sử thay cho Lời bạt, sách được bố cục làm hai phần: “Tiếng nói thời đại” tập hợp 6 bài viết về các vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam hiện đại; và “Ngôn ngữ tác giả” tập hợp 8 bài viết về một số tác giả, tác phẩm văn học như là các trường hợp đại diện của giai đoạn văn học này. Sợi chỉ gắn kết hai phần, thậm chí đan dệt thành bức khảm văn học Việt Nam hiện đại, là sự thống nhất đi tìm hình tượng kí hiệu - loại “kí hiệu siêu lời nói, siêu ngôn ngữ học” (tr.8) ẩn giấu trong các văn bản văn học. Khi nhà phê bình tìm thấy và hệ thống các hình tượng kí hiệu này trong một kí hiệu quyển - ở đây là không gian văn học nghệ thuật như là “nơi lưu giữ, truyền đạt và sáng tạo thông tin” (tr.6) qua trung gian ngôn ngữ - tiếng nói (thời đại) và điệu giọng (nhà văn) sẽ được tái hiện. Điều này làm phát lộ tư tưởng nghệ thuật trong sáng tác văn học qua các hình thức biểu hiện cụ thể - cảm tính của nó, cũng đồng thời cho thấy vị trí của sáng tác văn học trong mạng lưới cấu trúc các tiến trình văn học, các phong cách nghệ thuật, hay làm bật hiện bản chất thẩm mĩ của thời đại, tác giả, tác phẩm văn học.

3. Lã Nguyên trước hết là một nhà nghiên cứu có thế mạnh ở việc “tái thiết” các tiến trình văn học. Tiểu luận độc đáo được Lã Nguyên tiếp cận theo hướng kí hiệu học văn hóa - “Nhìn lại những bước đi. Lắng nghe những tiếng nói (Về văn học Việt Nam thời đổi mới 1975 - 1991)” - ngay ở lần đầu tiên công bố trong hội thảo “Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy” (Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức, 2005), đã được tán thưởng nhiệt liệt khi ông so sánh tiếng nói, giọng nói của văn học Việt Nam trước và sau 1975, trong cách ông chỉ ra “có một giọng nói rất to thống ngự trong văn học Việt Nam già nửa thế kỉ” (tr.98) nếu tính từ dấu mốc 1945: ở nền văn học sử thi trước 1975, tiếng nói ấy đại diện cho tư tưởng quốc gia, và vì mang âm hưởng lãng mạn cách mạng nên “giọng nói to” ấy tìm thấy phương thức thể hiện tương ứng là “tiếng hát hùng tráng”, theo đó mà thơ trữ tình trở thành thể loại chính trên sân khấu văn chương, nơi Tố Hữu trở thành “lá cờ đầu”; ở nền văn học thế sự sau 1975, tiếng nói ấy biểu hiện cho tâm trạng đại chúng, và vì mang khát vọng đổi mới xã hội đang trên đà phân hóa, khủng hoảng, đòi hỏi phải đổi thay, sự phong phú, đa dạng ấy khiến cho “giọng nói to” tìm thấy phương thức thể hiện tương ứng là “tiếng cười trào tiếu, giễu nhại”, khi văn học thế sự đề cập đến những mảng khuất tối mà văn học sử thi trước kia gác sang một bên, theo đó mà văn xuôi tự sự trở thành thể loại chiếm ưu thế, với hàng loạt các tác giả bút ký, phóng sự, tiểu thuyết tư liệu, đến các sáng tác hư cấu.

Song bên cạnh đó còn có “giọng nói nhỏ” mà Nguyễn Huy Thiệp là một đại diện quan trọng. Cái “giọng nói nhỏ” mà Nguyễn Huy Thiệp cất lên, theo đó mà tạo thành “bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975” (như tên một bài viết quan trọng khác trong cuốn sách, tr.286 - 318), là bởi nhà văn đã không đặt mình trong không gian rộng lớn của các “mặt trận” chiến đấu “giữ và dựng nước”, mà khiêm nhường đặt mình vào trong “không gian sinh hoạt thường ngày”. Chính việc lựa chọn không gian mới mẻ này đã khiến cho tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp mang dấu chỉ của “bước ngoặt hệ hình ngôn ngữ”, chuyển từ “hệ hình huyền thoại” của ngôn ngữ “nhà binh” trong văn học cách mạng trước kia sang “hệ hình truyện kể” của ngôn ngữ “tiểu thuyết” trong văn học thế sự đời tư sau này. Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, vì thế, mở ra hướng tiếp cận mô hình không gian khép kín, phân mảnh, xóa bỏ trật tự tôn ti, đề cập nhiều đến sự khuyết thiếu, tai ương, sự tha hóa, cái xấu, cái ác, dục vọng, tăm tối,… trong sáng tác của thế hệ nhà văn sau Đổi mới (1986).

Như vậy là, khi “lắng nghe những tiếng nói”, Lã Nguyên đã thấy được những bước đi của văn học Việt Nam sau 1975: ở đoạn khởi động mười năm đầu, 1975 - 1985, văn học chịu tác động của văn học dịch để thúc đẩy các quá trình chuyển đổi; ở đoạn cao trào, 1986 - 1991, văn học đổi mới trên tất cả các bình diện của lí luận phê bình, tự sự phi hư cấu và hư cấu nghệ thuật theo hai hướng, có thể ước lệ gọi là phản sử thi hậu hiện đại; sau 1992, văn học tiếp tục chuyển mình bằng cách đổi mới lối viết, từng bước thu hẹp khoảng cách tư duy nghệ thuật với các nền văn học tiên tiến khác, khi nhà văn tái nhận thức về “vị thế của văn học trên sân chơi văn hóa” (tr.63), và ý thức sâu sắc hơn các vấn đề “quốc tế và bản địa, cách tân và truyền thống” (tr.115) trong sáng tạo văn học nghệ thuật.

Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của Lã Nguyên trong việc tái thiết các tiến trình văn học phải nằm ở các tiểu luận nhận thức về văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ tiểu luận đầu tiên được viết dịp “50 năm sau cách mạng tháng Tám 1945” (Diện mạo văn học Việt Nam 1945 - 1975 - nhìn từ góc độ thi pháp thể loại) đến các tiểu luận gần đây nhất, mà đáng chú ý hơn cả là Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình giao tiếp nghệ thuật (2011) và Nguyên tắc vẽ tranh, tạc tượng đài và chủ nghĩa hiện thực thị giác trong văn học Việt Nam trước 1945 (2014), Lã Nguyên đã phác dựng mô hình giao tiếp nghệ thuật của một trào lưu thống soái văn học Việt Nam gần hết nửa sau thế kỉ XX. Giữ vị thế ưu trội, cầm nhịp cho các hoạt động giao tiếp nghệ thuật là người chiến thắng - chủ nhân của xã hội mới, chủ thể lời nói của các văn bản nghệ thuật. Nhìn từ hình tượng nhân vật như thế, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là thế giới của bốn loại hình tượng kí hiệu: người cha - lãnh tụ anh minh, người mẹ - tổ quốc vĩ đại, chúng con - chiến đấu anh hùng và kẻ thù - bầy thú man rợ. Mọi nguyên tắc giao tiếp, mọi câu chuyện văn học đều hoạt động dưới định chế siêu ngôn ngữ này. Theo đó, nhìn từ hệ hình giao tiếp nghệ thuật, Lã Nguyên nhận thấy “tiếng nói văn học biến cuộc đối thoại tay ba tác giả - nhân vật - người đọc, - vốn là chuyện tư tưởng, chỉ diễn ra trong thế giới nội tâm của những chủ thể tự do, - thành dàn đồng ca “Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”, hoặc chuyển đối thoại ra cái nhìn bên ngoài, hướng tới một hiện thực thị giác được khắc họa theo nguyên tắc dựng tượng đài, đâu đâu cũng là thành đồng vách sắt, rất đỗi kì vĩ” (tr.39); và nhìn từ phong cách, “lại có thể gọi văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa hiện thực thị giác” (tr.53) theo quy phạm phân vai vẽ tranh, tạc tượng đài trong diễn ngôn của trào lưu văn học này.

4. Sức hấp dẫn của ngòi bút phê bình Lã Nguyên còn đến ở cách thức ông “tái lập” phong cách nghệ thuật nhà văn. Các bài viết về Tố Hữu, Nguyễn Huy Thiệp đã nhắc đến ở trên, đặc biệt là bài viết về Nguyễn Tuân, là những ví dụ xuất sắc cho việc bộ công cụ mới (ở đây là kí hiệu học văn hóa) đã làm sống lại, làm khác, và nổi bật ngôn ngữ nghệ thuật của các nhà văn, chỉ ra một cách xác đáng và hấp dẫn đặc trưng thẩm mĩ trong các sáng tác của họ. Tập trung vào văn học xã hội chủ nghĩa, với trường hợp Tố Hữu, Lã Nguyên đã phân tích một cách thuyết phục cách thức tạo lập “chủ nghĩa hiện thực thị giác” của nền văn học này qua việc chủ soái của nó là Tố Hữu tổ chức “chiến lược diễn ngôn”, lựa chọn “ngôn ngữ thế giới quan” và sử dụng “các mô thức tu từ” để biến thơ ca của mình trở thành điển phạm, mô phạm cho các tác giả khác “học tập”. Ở một trường hợp đối trọng là Nguyễn Tuân, cũng cùng một cách thức “từ hiện đại tìm về truyền thống” như tư duy nghệ thuật của Tố Hữu, nhà văn này lại lựa lọc lấy các phạm trù “kì - quái - chí - tuyệt” của nghệ thuật từ chương cổ điển phương Đông để tạo lập điển phạm không thể bắt chước, làm nên một “cái tôi ngông nghênh” giữa nhân quần vô sản mà không bị hạ bệ, làm cho khó dễ. Trong khi, như đã chỉ ra ở trên, lựa chọn không gian sinh hoạt thường ngày và bút pháp mới phi truyền thống, Nguyễn Huy Thiệp khi vừa xuất hiện đã nhận ngay được lời động viên/ cảnh tỉnh của Hoàng Ngọc Hiến: “tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió”3. Hai bài viết của Lã Nguyên về Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975; Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài) trong cuốn sách giải mã giúp người đọc nguyên nhân dẫn đến những bất tương thích trong tiếp nhận tiếng nói và điệu giọng riêng có của nhà văn độc đáo này.

Làm mới nhưng không đứt đoạn với truyền thống thi pháp học, các phân tích/ đọc sâu văn bản dưới ánh sáng của kí hiệu học diễn ngôn và thi pháp học lịch sử đã giúp Lã Nguyên mô tả một cách thống nhất ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác cá nhân và ngôn ngữ nghệ thuật của thời đại mà nhà văn ấy thuộc về. Hiểu về tác giả hay tác phẩm cụ thể, vì thế, góp phần hiểu sâu hơn đặc điểm lịch sử văn học giai đoạn; và ngược lại, hiểu về loại hình diễn ngôn văn học từng thời kì, cũng giúp cho việc “tái tạo” đặc trưng thi pháp nhà văn.

5. Nhìn văn học như một “hệ hình giao tiếp nghệ thuật”, Lã Nguyên đã chủ động đề xuất các giả định khoa học “nhằm vào việc tái cấu trúc các hệ thống ngôn ngữ đặc thù làm nên các loại hình diễn ngôn trong văn học nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử và trong sáng tác của một số nhà văn, nghệ sĩ” (tr.10). Kết quả của công việc này, qua các bài viết trong tập sách, không chỉ rọi những ánh sáng mới mẻ vào việc tìm hiểu chuyên sâu về lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, mà ở phương diện đại chúng hơn, cho thấy sức hấp dẫn mời gọi và các khả thể mà văn học và các cách thức đổi mới lối tiếp cận có thể đem lại cho sự thụ hưởng nghệ thuật của người đọc. Có thể chính vì hiệu quả sâu rộng này mà GS.TS. Trần Đình Sử đã đánh giá rất cao cuốn sách và nỗ lực học thuật của tác giả: “Mặc dù kí hiệu học đã được giới thiệu và ứng dụng vào Việt Nam từ những năm 70 thế kỉ trước, song phải đến Phê bình kí hiệu học - đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ của Lã Nguyên, chúng ta mới có thể coi là một thành quả đáng kể của việc vận dụng lĩnh vực tri thức này vào nghiên cứu văn học, nghệ thuật Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành và triển vọng của ngành nghiên cứu kí hiệu học nước nhà” (tr.399), đồng thời vì đó mà “tin tưởng rằng khuynh hướng này sẽ nhanh chóng được bắt rễ, lan tỏa trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam, làm cho bức tranh nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam thêm nhiều màu sắc” (tr.405).

Đ.A.D
(TCSH365/07-2019)


Chú thích:

1. Lã Nguyên: Phê bình kí hiệu học - đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ. Nxb. Phụ nữ,  H., 2018, 408 trang. Các trích dẫn trong bài viết đều theo sách này.

2. Trước công trình thực hành nghiên cứu này, Lã Nguyên đã có nhiều năm dịch và giới thiệu  lí thuyết văn học phương Tây hiện đại và lí thuyết kí hiệu học. Xem Nhiều tác giả: Lí luận văn học - những vấn đề hiện đại (Lã Nguyên tuyển dịch), Nxb. Đại học Sư phạm, H., 2012; tái bản có bổ sung 2017; Yu. Lotman: Kí hiệu học văn hóa (Lã Nguyên, Trần Đình Sử, Đỗ Hải Phong dịch), Nxb. Đại học Sư phạm, H., 2014; tái bản 2015. Một nhận thức về lịch sử các vấn đề lí thuyết văn học và sự du hành của nó tới Việt Nam, cũng được Lã Nguyên trình bày trong một công trình đồ sộ vừa mới được xuất bản: Số phận lịch sử của các lí thuyết văn học, Trung tâm Kinh doanh Xuất bản và Phát hành sách thuộc Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội và Nxb. Phụ nữ, H., 2018.

3. Hoàng Ngọc Hiến: “Lời giới thiệu: Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió”, trong Nguyễn  Huy Thiệp: Tướng về hưu, Tuần báo Văn nghệ và Nxb. Trẻ, H. - Tp.HCM.,1988, tr.5-12.  




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN HỮU ĐÍNH Phan Huy Chú, tác giả «Lịch triều hiến chương loại chí», ở mục «Lễ táng sơn lăng», «Lễ nghi chí», viết «Ngọ Phong họ Ngô (1) nói: đời xưa thiên tử chết, bảy tháng mới chôn, chỗ đất chôn gọi là sơn lăng - Lăng đều có tên».

  • TRẦN HUYỀN SÂMGiản dị, nhưng lay động và ám gợi một cách siêu hình, nhà thơ sống ẩn dật Tomas Transtromer đã được Hội đồng Hàn lâm Thụy Điển vinh danh giải Nobel văn học 2011.> Những nét gạch xóa của lửa

  • NGUYỄN DƯ Mời các bạn đi… xem hát. Đúng hơn là xem chữ hát (h)… của tiếng Pháp. Lại chuyện Ăn cơm nhà vác ngà voi! Ngà voi còn nhẹ chán. Ngà mammouth cũng đành phải xông vào mà vác. Vác giùm cho… lịch sử, địa lí Việt Nam. Ủa! Trời đất! Đùa hay thật vậy?

  • TRẦN THỊ MỸ HIỀN Ngô Kha là một trong số ít những nhà thơ có số phận khá đặc biệt trên thi đàn Việt Nam. Sinh năm 1935 ở Thế Lại Thượng (thuộc thành phố Huế ngày nay), ông tốt nghiệp thủ khoa khóa 1 Đại học Sư Phạm Huế (1958 - 1959), tốt nghiệp Cử nhân Luật khoa (1962), sau đó dạy văn và giáo dục công dân ở các trường Quốc Học, Hàm Nghi, Nguyễn Du, Hưng Đạo ở Huế từ 1960 cho đến khi bị thủ tiêu vào 1973.

  • KHÁNH PHƯƠNG Với “Đội gạo lên chùa”, cuốn tiểu thuyết mới (NXB Phụ nữ, 6/2011), nhà văn Nguyễn Xuân Khánh tái ngộ độc giả bằng dòng văn chương ấm áp và cuốn hút, hứa hẹn những miêu tả, xét đoán tinh tế về tâm thức con người cũng như những bí ẩn thẳm sâu trong tiềm thức và văn hóa của một cộng đồng dân tộc.

  • HOÀNG THỊ HUẾ Xứ Huế là một vùng đất có nền văn hóa đặc sắc - vừa mang nét riêng vừa dung hợp với văn hóa Việt Nam và khu vực, trong đó có sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian, văn hóa đô thị cổ truyền và văn hóa cung đình - mà không vùng đất nào có được.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGNhững cuốn sách đã giữ một vị trí đặc biệt trong thế giới tuổi thơ của tôi; trước hết là những sách giáo khoa tôi đã học trong những ngôi trường đầu tiên của đời mình, dưới thời Pháp thuộc.

  • NGUYỄN KHOA ĐIỀM Tìm hiểu diện mạo văn học một vùng đất là tìm hiểu những vấn đề gì?

  • KHẾ IÊM Hãy cứ tưởng tượng, khi hội họa mang đồ vật vào trong tranh (Pop Art, thập niên 60), và rồi tranh lại bước ra ngoài giá vẽ để đi vào thế giới hiện thực (thập niên 70), thì thơ cũng đang có những chuyển biến mới, chụp bắt yếu tố đời sống để sử dụng như yếu tố thơ.

  • HOÀNG TÙNG Văn học đồng tính - LGBT (lesbian, gay, bisexual, transgender) literature đã từng một thời bị coi là đề tài cấm kỵ trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, cùng với những cuộc đấu tranh về quyền con người, đấu tranh về bình đẳng giới, sự thừa nhận của xã hội đối với giới tính thứ ba, đó cũng là lúc dòng văn học dành cho người đồng tính bước từ bóng tối ra ánh sáng…

  • NGUYỄN VĂN TẬN - HOÀNG THỊ ANH ĐÀO Thế kỷ XV - XVII, các nước phương Tây bước vào thời kỳ tích lũy nguyên thủy tư bản, những cuộc phát kiến địa lý đã mở ra một cuộc “cách mạng thương mại” thực sự ở châu Âu và đưa đến việc thiết lập mạng lưới giao thông mậu dịch hàng hải xuyên đại dương nối liền châu Âu với phương Đông.

  • BỬU Ý Tháng 11-1985, Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao giải thưởng Nobel cho Claude Simon, nhà văn Pháp theo trường phái mệnh danh là tiểu thuyết mới quy tụ những tên tuổi khác như A-lanh Ro-bơ Gri-dê (Alain Robbe-Grillet - người chủ xướng và lập thuyết), Na-ta-li Xa-rốt (Nathalie Sarraute), Mi-sen Buy-to (Michel Butor), Ro-ber Panh-Jê (Robert Pinget) v.v…

  • NGUYỄN VĂN HẠNH …Xa rời cuộc sống, xa rời con người, xa rời chủ nghĩa nhân văn vốn là linh hồn của văn học nghệ thuật trong sáng tạo, nghiên cứu, giảng dạy văn chương là mối lo lớn và là nguyên nhân sâu xa khiến cho văn chương mất sức sống, mất sức hấp dẫn vốn có…

  • LƯỜNG TÚ TUẤN Mỗi ngôn ngữ tự nó là một nghệ thuật diễn đạt của tập thể.                                 (E.Sapir)

  • ROLAND BARTHES Lôgic học dạy chúng ta biết cách phân biệt thích đáng ngôn ngữ-đối tượng với siêu-ngôn ngữ. Ngôn ngữ-đối tượng chính là chất liệu phục tùng sự nghiên cứu lôgic; còn siêu-ngôn ngữ là ngôn ngữ, không tránh khỏi có tính cách nhân tạo, trong đó ta tiến hành sự nghiên cứu này.

  • TRẦN THIỆN KHANH Chúng ta sống trong một thế giới đầy những quy ước. Có quy ước công khai, thành văn; có quy ước ngầm, bất thành văn. Quy ước nhiều và có sức mạnh đến mức chúng ta tưởng chính nó làm ra chúng ta.

  • TRIỀU NGUYÊN 1. Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan được một số nhà nghiên cứu xếp vào loại truyện ngắn hài hay truyện ngắn trào phúng.

  • - Cứ trừ dần đi dần đi, có thể còn lại là em, ôi Man Nương (Phạm Thị Hoài) - Đi tới tận cùng của cái vô thức, cùng với nhà thơ, hãy tìm thấy lại giấc mơ nguyên thủy (G. Bachelard).

  • NGUYỄN THỊ TỊNH THY 1. “Người trần thuật kiểu tác giả” hay “tình thế trần thuật của tác giả” là một thuật ngữ được đưa ra năm 1955 bởi nhà nghiên cứu văn học người Áo F.K.Stanzel và sau đó được tu chỉnh bởi J.Kristéva, G.Genette và J.Lintvelt.

  • INRASARA Khả năng nhận diện và tâm thế đón nhận cái mới ít liên quan đến thế hệ. Dù thế hệ mới nhờ ưu thế tuổi tác, dễ làm quen với cái mới, cái xa lạ. Dễ làm quen thôi, chứ chưa chắc đã chấp nhận, nhất là với cái mới trong văn chương. Sự thể cả bốn thế hệ người viết nhận định về thơ tân hình thức và sáng tác hậu hiện đại giai đoạn qua, là minh chứng(1).