ĐOÀN ÁNH DƯƠNG
Ảnh: internet
1. Phê bình kí hiệu học - đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ1 của Lã Nguyên [La Khắc Hòa] tập hợp các bài viết sử dụng tập trung phương pháp phê bình kí hiệu học vào nghiên cứu văn học Việt Nam2. Với 14 bài viết về các vấn đề lịch sử, tác giả, tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam, đây thực sự là một cuốn sách hấp dẫn, không chỉ ở phương diện sử dụng tương thích phương pháp nghiên cứu mới, mà qua đó, còn giúp bạn đọc có được những hiểu biết mới về những vấn đề văn học đã trở nên thân thuộc. “Hành trình tái thiết” ngôn ngữ văn học Việt Nam của Lã Nguyên, như vậy, hứa hẹn những hồi ứng tri thức trong bối cảnh nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay đang dần chuyển dịch sang hướng tiếp cận văn hóa học.
2. Ngoài phần Phụ lục dịch bài viết giới thiệu về trường phái kí hiệu học văn hóa Tartu-Moskva (là hướng nghiên cứu mà tác giả chịu ảnh hưởng) của Iu.M. Lotman: Kí hiệu học văn hóa ở trường phái kí hiệu học Tartu-Moskva; bài viết Kí hiệu học và phê bình văn học của chính tác giả để thay Lời nói đầu và bài viết Lã Nguyên và phê bình kí hiệu học của GS.TS. Trần Đình Sử thay cho Lời bạt, sách được bố cục làm hai phần: “Tiếng nói thời đại” tập hợp 6 bài viết về các vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam hiện đại; và “Ngôn ngữ tác giả” tập hợp 8 bài viết về một số tác giả, tác phẩm văn học như là các trường hợp đại diện của giai đoạn văn học này. Sợi chỉ gắn kết hai phần, thậm chí đan dệt thành bức khảm văn học Việt Nam hiện đại, là sự thống nhất đi tìm hình tượng kí hiệu - loại “kí hiệu siêu lời nói, siêu ngôn ngữ học” (tr.8) ẩn giấu trong các văn bản văn học. Khi nhà phê bình tìm thấy và hệ thống các hình tượng kí hiệu này trong một kí hiệu quyển - ở đây là không gian văn học nghệ thuật như là “nơi lưu giữ, truyền đạt và sáng tạo thông tin” (tr.6) qua trung gian ngôn ngữ - tiếng nói (thời đại) và điệu giọng (nhà văn) sẽ được tái hiện. Điều này làm phát lộ tư tưởng nghệ thuật trong sáng tác văn học qua các hình thức biểu hiện cụ thể - cảm tính của nó, cũng đồng thời cho thấy vị trí của sáng tác văn học trong mạng lưới cấu trúc các tiến trình văn học, các phong cách nghệ thuật, hay làm bật hiện bản chất thẩm mĩ của thời đại, tác giả, tác phẩm văn học.
3. Lã Nguyên trước hết là một nhà nghiên cứu có thế mạnh ở việc “tái thiết” các tiến trình văn học. Tiểu luận độc đáo được Lã Nguyên tiếp cận theo hướng kí hiệu học văn hóa - “Nhìn lại những bước đi. Lắng nghe những tiếng nói (Về văn học Việt Nam thời đổi mới 1975 - 1991)” - ngay ở lần đầu tiên công bố trong hội thảo “Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy” (Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức, 2005), đã được tán thưởng nhiệt liệt khi ông so sánh tiếng nói, giọng nói của văn học Việt Nam trước và sau 1975, trong cách ông chỉ ra “có một giọng nói rất to thống ngự trong văn học Việt Nam già nửa thế kỉ” (tr.98) nếu tính từ dấu mốc 1945: ở nền văn học sử thi trước 1975, tiếng nói ấy đại diện cho tư tưởng quốc gia, và vì mang âm hưởng lãng mạn cách mạng nên “giọng nói to” ấy tìm thấy phương thức thể hiện tương ứng là “tiếng hát hùng tráng”, theo đó mà thơ trữ tình trở thành thể loại chính trên sân khấu văn chương, nơi Tố Hữu trở thành “lá cờ đầu”; ở nền văn học thế sự sau 1975, tiếng nói ấy biểu hiện cho tâm trạng đại chúng, và vì mang khát vọng đổi mới xã hội đang trên đà phân hóa, khủng hoảng, đòi hỏi phải đổi thay, sự phong phú, đa dạng ấy khiến cho “giọng nói to” tìm thấy phương thức thể hiện tương ứng là “tiếng cười trào tiếu, giễu nhại”, khi văn học thế sự đề cập đến những mảng khuất tối mà văn học sử thi trước kia gác sang một bên, theo đó mà văn xuôi tự sự trở thành thể loại chiếm ưu thế, với hàng loạt các tác giả bút ký, phóng sự, tiểu thuyết tư liệu, đến các sáng tác hư cấu.
Song bên cạnh đó còn có “giọng nói nhỏ” mà Nguyễn Huy Thiệp là một đại diện quan trọng. Cái “giọng nói nhỏ” mà Nguyễn Huy Thiệp cất lên, theo đó mà tạo thành “bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975” (như tên một bài viết quan trọng khác trong cuốn sách, tr.286 - 318), là bởi nhà văn đã không đặt mình trong không gian rộng lớn của các “mặt trận” chiến đấu “giữ và dựng nước”, mà khiêm nhường đặt mình vào trong “không gian sinh hoạt thường ngày”. Chính việc lựa chọn không gian mới mẻ này đã khiến cho tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp mang dấu chỉ của “bước ngoặt hệ hình ngôn ngữ”, chuyển từ “hệ hình huyền thoại” của ngôn ngữ “nhà binh” trong văn học cách mạng trước kia sang “hệ hình truyện kể” của ngôn ngữ “tiểu thuyết” trong văn học thế sự đời tư sau này. Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, vì thế, mở ra hướng tiếp cận mô hình không gian khép kín, phân mảnh, xóa bỏ trật tự tôn ti, đề cập nhiều đến sự khuyết thiếu, tai ương, sự tha hóa, cái xấu, cái ác, dục vọng, tăm tối,… trong sáng tác của thế hệ nhà văn sau Đổi mới (1986).
Như vậy là, khi “lắng nghe những tiếng nói”, Lã Nguyên đã thấy được những bước đi của văn học Việt Nam sau 1975: ở đoạn khởi động mười năm đầu, 1975 - 1985, văn học chịu tác động của văn học dịch để thúc đẩy các quá trình chuyển đổi; ở đoạn cao trào, 1986 - 1991, văn học đổi mới trên tất cả các bình diện của lí luận phê bình, tự sự phi hư cấu và hư cấu nghệ thuật theo hai hướng, có thể ước lệ gọi là phản sử thi và hậu hiện đại; sau 1992, văn học tiếp tục chuyển mình bằng cách đổi mới lối viết, từng bước thu hẹp khoảng cách tư duy nghệ thuật với các nền văn học tiên tiến khác, khi nhà văn tái nhận thức về “vị thế của văn học trên sân chơi văn hóa” (tr.63), và ý thức sâu sắc hơn các vấn đề “quốc tế và bản địa, cách tân và truyền thống” (tr.115) trong sáng tạo văn học nghệ thuật.
Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của Lã Nguyên trong việc tái thiết các tiến trình văn học phải nằm ở các tiểu luận nhận thức về văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ tiểu luận đầu tiên được viết dịp “50 năm sau cách mạng tháng Tám 1945” (Diện mạo văn học Việt Nam 1945 - 1975 - nhìn từ góc độ thi pháp thể loại) đến các tiểu luận gần đây nhất, mà đáng chú ý hơn cả là Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình giao tiếp nghệ thuật (2011) và Nguyên tắc vẽ tranh, tạc tượng đài và chủ nghĩa hiện thực thị giác trong văn học Việt Nam trước 1945 (2014), Lã Nguyên đã phác dựng mô hình giao tiếp nghệ thuật của một trào lưu thống soái văn học Việt Nam gần hết nửa sau thế kỉ XX. Giữ vị thế ưu trội, cầm nhịp cho các hoạt động giao tiếp nghệ thuật là người chiến thắng - chủ nhân của xã hội mới, chủ thể lời nói của các văn bản nghệ thuật. Nhìn từ hình tượng nhân vật như thế, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là thế giới của bốn loại hình tượng kí hiệu: người cha - lãnh tụ anh minh, người mẹ - tổ quốc vĩ đại, chúng con - chiến đấu anh hùng và kẻ thù - bầy thú man rợ. Mọi nguyên tắc giao tiếp, mọi câu chuyện văn học đều hoạt động dưới định chế siêu ngôn ngữ này. Theo đó, nhìn từ hệ hình giao tiếp nghệ thuật, Lã Nguyên nhận thấy “tiếng nói văn học biến cuộc đối thoại tay ba tác giả - nhân vật - người đọc, - vốn là chuyện tư tưởng, chỉ diễn ra trong thế giới nội tâm của những chủ thể tự do, - thành dàn đồng ca “Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”, hoặc chuyển đối thoại ra cái nhìn bên ngoài, hướng tới một hiện thực thị giác được khắc họa theo nguyên tắc dựng tượng đài, đâu đâu cũng là thành đồng vách sắt, rất đỗi kì vĩ” (tr.39); và nhìn từ phong cách, “lại có thể gọi văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa hiện thực thị giác” (tr.53) theo quy phạm phân vai vẽ tranh, tạc tượng đài trong diễn ngôn của trào lưu văn học này.
4. Sức hấp dẫn của ngòi bút phê bình Lã Nguyên còn đến ở cách thức ông “tái lập” phong cách nghệ thuật nhà văn. Các bài viết về Tố Hữu, Nguyễn Huy Thiệp đã nhắc đến ở trên, đặc biệt là bài viết về Nguyễn Tuân, là những ví dụ xuất sắc cho việc bộ công cụ mới (ở đây là kí hiệu học văn hóa) đã làm sống lại, làm khác, và nổi bật ngôn ngữ nghệ thuật của các nhà văn, chỉ ra một cách xác đáng và hấp dẫn đặc trưng thẩm mĩ trong các sáng tác của họ. Tập trung vào văn học xã hội chủ nghĩa, với trường hợp Tố Hữu, Lã Nguyên đã phân tích một cách thuyết phục cách thức tạo lập “chủ nghĩa hiện thực thị giác” của nền văn học này qua việc chủ soái của nó là Tố Hữu tổ chức “chiến lược diễn ngôn”, lựa chọn “ngôn ngữ thế giới quan” và sử dụng “các mô thức tu từ” để biến thơ ca của mình trở thành điển phạm, mô phạm cho các tác giả khác “học tập”. Ở một trường hợp đối trọng là Nguyễn Tuân, cũng cùng một cách thức “từ hiện đại tìm về truyền thống” như tư duy nghệ thuật của Tố Hữu, nhà văn này lại lựa lọc lấy các phạm trù “kì - quái - chí - tuyệt” của nghệ thuật từ chương cổ điển phương Đông để tạo lập điển phạm không thể bắt chước, làm nên một “cái tôi ngông nghênh” giữa nhân quần vô sản mà không bị hạ bệ, làm cho khó dễ. Trong khi, như đã chỉ ra ở trên, lựa chọn không gian sinh hoạt thường ngày và bút pháp mới phi truyền thống, Nguyễn Huy Thiệp khi vừa xuất hiện đã nhận ngay được lời động viên/ cảnh tỉnh của Hoàng Ngọc Hiến: “tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió”3. Hai bài viết của Lã Nguyên về Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975; Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài) trong cuốn sách giải mã giúp người đọc nguyên nhân dẫn đến những bất tương thích trong tiếp nhận tiếng nói và điệu giọng riêng có của nhà văn độc đáo này.
Làm mới nhưng không đứt đoạn với truyền thống thi pháp học, các phân tích/ đọc sâu văn bản dưới ánh sáng của kí hiệu học diễn ngôn và thi pháp học lịch sử đã giúp Lã Nguyên mô tả một cách thống nhất ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác cá nhân và ngôn ngữ nghệ thuật của thời đại mà nhà văn ấy thuộc về. Hiểu về tác giả hay tác phẩm cụ thể, vì thế, góp phần hiểu sâu hơn đặc điểm lịch sử văn học giai đoạn; và ngược lại, hiểu về loại hình diễn ngôn văn học từng thời kì, cũng giúp cho việc “tái tạo” đặc trưng thi pháp nhà văn.
5. Nhìn văn học như một “hệ hình giao tiếp nghệ thuật”, Lã Nguyên đã chủ động đề xuất các giả định khoa học “nhằm vào việc tái cấu trúc các hệ thống ngôn ngữ đặc thù làm nên các loại hình diễn ngôn trong văn học nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử và trong sáng tác của một số nhà văn, nghệ sĩ” (tr.10). Kết quả của công việc này, qua các bài viết trong tập sách, không chỉ rọi những ánh sáng mới mẻ vào việc tìm hiểu chuyên sâu về lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, mà ở phương diện đại chúng hơn, cho thấy sức hấp dẫn mời gọi và các khả thể mà văn học và các cách thức đổi mới lối tiếp cận có thể đem lại cho sự thụ hưởng nghệ thuật của người đọc. Có thể chính vì hiệu quả sâu rộng này mà GS.TS. Trần Đình Sử đã đánh giá rất cao cuốn sách và nỗ lực học thuật của tác giả: “Mặc dù kí hiệu học đã được giới thiệu và ứng dụng vào Việt Nam từ những năm 70 thế kỉ trước, song phải đến Phê bình kí hiệu học - đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ của Lã Nguyên, chúng ta mới có thể coi là một thành quả đáng kể của việc vận dụng lĩnh vực tri thức này vào nghiên cứu văn học, nghệ thuật Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành và triển vọng của ngành nghiên cứu kí hiệu học nước nhà” (tr.399), đồng thời vì đó mà “tin tưởng rằng khuynh hướng này sẽ nhanh chóng được bắt rễ, lan tỏa trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam, làm cho bức tranh nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam thêm nhiều màu sắc” (tr.405).
Đ.A.D
(TCSH365/07-2019)
Chú thích:
1. Lã Nguyên: Phê bình kí hiệu học - đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ. Nxb. Phụ nữ, H., 2018, 408 trang. Các trích dẫn trong bài viết đều theo sách này.
2. Trước công trình thực hành nghiên cứu này, Lã Nguyên đã có nhiều năm dịch và giới thiệu lí thuyết văn học phương Tây hiện đại và lí thuyết kí hiệu học. Xem Nhiều tác giả: Lí luận văn học - những vấn đề hiện đại (Lã Nguyên tuyển dịch), Nxb. Đại học Sư phạm, H., 2012; tái bản có bổ sung 2017; Yu. Lotman: Kí hiệu học văn hóa (Lã Nguyên, Trần Đình Sử, Đỗ Hải Phong dịch), Nxb. Đại học Sư phạm, H., 2014; tái bản 2015. Một nhận thức về lịch sử các vấn đề lí thuyết văn học và sự du hành của nó tới Việt Nam, cũng được Lã Nguyên trình bày trong một công trình đồ sộ vừa mới được xuất bản: Số phận lịch sử của các lí thuyết văn học, Trung tâm Kinh doanh Xuất bản và Phát hành sách thuộc Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội và Nxb. Phụ nữ, H., 2018.
3. Hoàng Ngọc Hiến: “Lời giới thiệu: Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió”, trong Nguyễn Huy Thiệp: Tướng về hưu, Tuần báo Văn nghệ và Nxb. Trẻ, H. - Tp.HCM.,1988, tr.5-12.
Tải mã QRCode
NGUYỄN QUANG HUY
- Để tìm hiểu không gian xã hội của những người sản xuất văn hóa, cần phải tư duy theo mô hình quan hệ.
- Sự việc, hiện tượng bản thân nó không quan trọng, mà chính quan hệ giữa chúng mới có ý nghĩa.
(Pierre Bourdieu)
KHẾ IÊM
Viết hy vọng có thể giúp người đọc tự đánh giá thơ, theo đúng tiêu chuẩn của dòng thơ này, và những nhà thơ Tân hình thức Việt, trong việc thực hành, có thể điều chỉnh những sáng tác của mình, đi xa hơn, và làm nổi bật sự khác biệt giữa các thể loại thơ, tự do và vần điệu.
PHẠM THỊ HOÀI
Tôi không nói tới việc viết văn thuần túy vì mục đích kiếm sống, dù đấy là điều rất đáng bàn, và hơn nữa, sự nghèo túng của những người cầm bút ở xứ sở này đã trở thành truyền thống; cũng không nói đến việc viết văn để kiếm chác một vài thứ khác ít đáng bàn hơn, như danh vị hay thứ đặc quyền xã hội nào đó.
LỮ PHƯƠNG
Sau khi Sông Hương 36, 1989 xuất hiện, cũng đã xuất hiện một số bài báo phản ứng, trong đó có hai bài nhắc đến bài viết của tôi (1) - bài ký tên Trần Phú Lộc: “Ðôi lời nhân đọc Sông Hương số 36”, Văn nghệ số 21, 27-5-1989 và bài ký tên Văn Nguyên: “Báo động thật hay giả”, Nhân dân 20.5.1989.
MAI ANH TUẤN
Cụm từ “văn chương Nguyễn Huy Thiệp” không chỉ được tạo ra bởi và thuộc về giai đoạn văn học Đổi mới (1986) mà giờ đây, rộng rãi và phức tạp hơn rất nhiều, đã có mặt trong nhiều nghiên cứu Việt Nam (Việt học) đương đại, từ văn hóa văn chương đến chính trị - xã hội.
ĐỖ ĐỨC HIỂU
14 tháng bảy 1789, nhân dân Pari chiếm và phá ngục Bastille, biểu trưng của chế độ phong kiến đã tồn tại ở Pháp hàng chục thế kỷ. Nó là một "đại hồng thủy" cuốn sạch một thế giới cũ và mở đầu một thế giới mới ở Pháp, ở Châu Âu và vang dội trên toàn thế giới.
JOSEPH EPSTEIN
(Tiếp theo Sông Hương số 319, tháng 9/2015)
TRẦN HOÀI ANH
1.
Nói đến triết học phương Tây, không thể không nói đến chủ nghĩa hiện sinh, một trào lưu tư tưởng chủ yếu trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lý của triết học phương Tây hiện đại.
JOSEPH EPSTEIN
Có một số thứ ở đó sự tầm thường là không thể được dung thứ: thơ, nhạc, họa, hùng biện.
(La Bruyère).
LÊ THÀNH NGHỊ
Văn học nghệ thuật có sứ mệnh phản ảnh sự thật cuộc sống qua đó rút ra bài học ý nghĩa đối với con người. Nguyên lý này không có gì mới mẻ. Lịch sử văn học nghệ thuật cũng chứng minh rằng, gắn bó với hiện thực, phản ảnh chân thực hiện thực là thước đo giá trị của tác phẩm. Điều này cũng không còn xa lạ với mọi người.
NGUYỄN THỊ TUYẾT
A work of art was a form expressive of human feeling,
Created for our aesthetic perception through sense or imagination.
- S. Langer(1)
I paint objects as I think them, not as I see them.
- Pablo Picasso(2)
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
Cách đây một thời gian có hai phóng viên báo Sông Hương đến gặp tôi, đó là hai người Huế. Vì thế tôi có ngay những tình cảm rất đẹp, tình đồng hương. Thứ nữa, tôi thầm nghĩ: Chắc là hai phóng viên này muốn trao đổi với mình về đề tài vô thức đây! Và quả thực như thế.
YẾN THANH
Bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo viết ngày 28/8/1945 tại 48 Hàng Ngang và đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một văn bản chính trị quan trọng bậc nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại.
NGUYỄN THÁI HOÀNG
Đi từ triết học đến văn học, quan niệm về hiện tồn phi lí trở thành cảm thức phổ biến của con người hiện đại trước tình thế tồn tại chông chênh, mù mờ bất khả giải.
PHẠM PHÚ PHONG
Nhìn lại đội ngũ những người viết phê bình văn học trong cả nước ngày càng thưa vắng, thì ở các địa phương miền Trung càng thưa vắng hơn, đến mức có khi không tìm đâu ra chân dung một nhà phê bình thực thụ, đằng sau các bài điểm sách, đọc sách trên các báo.
NGUYỄN ĐĂNG MẠNH
Hiện nay trong giới văn học đang diễn ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi (chỉ được phản ánh phần nào trên báo chí). Những cuộc tranh luận này càng sáp vào việc chuẩn bị cho Đại hội Nhà văn lần thứ 4, càng trở nên gay gắt hơn và người ta càng thấy rõ hơn những gì ẩn đằng sau những ý kiến đối lập.
LỮ PHƯƠNG
Khi theo dõi những cuộc thảo luận về mối tương quan giữa chính trị và văn nghệ trên báo chí nước ta sau thời kỳ "cửa đã mở", tôi gặp một bài đáng chú ý đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 7, 1988 ký tên Lê Xuân Vũ: Quan hệ giữa văn nghệ và chính trị không phải là quan hệ giữa hai "bá quyền" trong xã hội.
LẠI NGUYÊN ÂN
Tạp chí Cộng sản, số 11-1988 có đăng bài “Quan hệ văn nghệ và chính trị không phải là quan hệ giữa hai "bá quyền" trong xã hội” của Lê Xuân Vũ.
PHẠM TẤN XUÂN CAO
Trong một dạng thức của lời nói, các đối tượng không có màu sắc.
Wittgenstein[1]