Di cảo Nguyễn Khắc Viện: vai trò của khoa học xã hội & dân chủ xã hội

15:10 19/08/2013

TRUNG SƠN

100 NĂM NGÀY SINH BÁC SĨ NGUYỄN KHẮC VIỆN (1913 - 2013)

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện

Cuộc đời và những hoạt động phong phú của bác sĩ (BS) Nguyễn Khắc Viện đã được nhiều sách báo nói đến; tuy vậy, có một công việc ông đã dồn vào đó rất nhiều tâm huyết và cả sự dấn thân quyết liệt nữa, nhưng người ta thường chỉ “nghe đồn” chứ chưa hiểu tường tận. Đó là gần ba chục kiến nghị và thư mà ông đã liên tục gửi lên cấp cao Đảng và Nhà nước trong những năm từ 1976 - 1993. Quả là phải có tinh thần dấn thân quyết liệt mới làm được điều đó, vì sau khi BS Nguyễn Khắc Viện gửi hàng loạt kiến nghị “nóng bỏng” về cải cách đường lối kinh tế, mở rộng dân chủ… lên Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước các kỳ Đại hội 5, 6, 7, đã có dư luận phê phán ông là “phản động”, một thời gian các bài viết của ông không báo nào dám đăng, nhiều cuộc nói chuyện của ông bị hủy bỏ… Thực ra, đây là cách “phản biện” của một trí thức, một kẻ sĩ giàu lòng yêu nước trước thời cuộc còn nhiều ngang trái mà xã hội ta chưa quen. Điều này đã được khẳng định sau khi ông được Tổng Bí thư Đỗ Mười mời gặp và nhất là sau ngày ông qua đời (10/5/1997), người lãnh đạo cao nhất của Đảng đã viết: “…Đồng chí Nguyễn Khắc Viện, người đảng viên cộng sản giàu nghị lực, một nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng. Đồng chí đã góp phần công lao xứng đáng cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do của Tổ quốc và làm hết sức mình cho sự nghiệp văn hóa, giáo dục của Việt Nam…”. Còn nhà báo Phan Quang, nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, trong một bài viết nhân kỷ niệm 10 năm ngày BS Nguyễn Khắc Viện qua đời đã viết: “…BS Nguyễn Khắc Viện sinh thời có nhiều suy nghĩ về đất nước và thời cuộc hơi khác với nhiều người cùng thời; những trăn trở của ông chưa được chia sẻ ngay tức khắc cũng là điều dễ hiểu. Cái “lỗi” của BS Nguyễn Khắc Viện - nếu dám gọi điều ấy là “lỗi” - theo tôi là ông thường có ý kiến hơi quá sớm về những vấn đề được coi là “nhạy cảm, trong khi xã hội còn triền miên trong nếp tư duy khác…”.

Mới đây, sau kỷ niệm 100 năm ngày sinh BS Nguyễn Khắc Viện (1913 - 2013), gia đình BS Nguyễn Khắc Viện đã trao cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 3 toàn bộ tác phẩm đã xuất bản, Di cảo và một số tư liệu khác của BS Nguyễn Khắc Viện để bảo quản lâu dài. Trong Di cảo của BS Nguyễn Khắc Viện có gần 30 kiến nghị nói trên.

Trong khi chưa có điều kiện xuất bản toàn bộ kiến nghị của BS Nguyễn Khắc Viện, chúng tôi giới thiệu một số kiến nghị, thư của BS Nguyễn Khắc Viện nhấn mạnh đến vai trò và tác dụng của hoạt động khoa học xã hội ở nước ta đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, một lĩnh vực có quan hệ mật thiết với hoạt động văn hóa - văn nghệ.

*

Khoa học xã hội, một lĩnh vực có phạm vi rất rộng. Từ những bản kiến nghị của BS Nguyễn Khắc Viện, có thể nhận thấy ông tập trung làm rõ vai trò của Khoa học xã hội, mối quan hệ biện chứng giữa khoa học và dân chủ với những ý kiến như sau:

1. Khoa học xã hội chịu sự lãnh đạo của Đảng, nhưng phải có hoạt động độc lập, chủ động, đi trước, vì xã hội rất phức tạp, không đơn giản như xưa, không thể từ vài nguyên lý rồi suy diễn ra một cách chủ quan. Khoa học xã hội phải điều tra nghiên cứu những vấn đề cơ bản, vạch ra xã hội hiện nay có những mâu thuẫn gì chủ yếu, thứ yếu, nguyên nhân, tương quan giữa các yếu tố như thế nào, nguyện vọng tâm tư thường xuyên biến động của các tầng lớp nhân dân. Dùng phương pháp khoa học chính xác đúc kết, phản ánh cho lãnh đạo tình hình thực tế (có thể trái với nhận định của lãnh đạo), đề xuất với lãnh đạo xây dựng đường lối chủ trương. Khi đã có chủ trương, lại tiếp tục điều tra nghiên cứu để thấy được tác động của chủ trương về các mặt như thế nào, tình hình mới biến động ra sao, đề xuất với Đảng có chủ trương điều chỉnh cần thiết.

2. Lâu nay, Đảng chưa xác định được vai trò của khoa học xã hội như vậy, bản thân cơ quan khoa học xã hội chưa làm đúng vai trò này, mà chỉ thụ động, đi sau, minh họa đường lối chủ trương, phục vụ nhiệm vụ chính trị một cách máy móc, cụ thể, nhất thời. Đó là nguyên nhân đưa đến tình trạng đường lối chủ trương được xây dựng theo suy nghĩ chủ quan, thoát ly thực tế, có nhiều sai lầm, lại không được kịp thời phát hiện, uốn nắn, để sai lầm kéo dài, đến khi đổ vỡ mới thấy thì đã quá muộn.

3. Giữa khoa học với dân chủ, có mối quan hệ biện chứng.

Có dân chủ mới có khoa học. Ý nghĩ chủ quan có ăn khớp với thực tế hay không? Đúng hay sai phải có khoa học chứng minh, không quyền thế nào ép buộc được. Mọi ý kiến phải được kiểm nghiệm qua thực tế và trao đổi với người khác. Trong khoa học, không ai trên ai dưới. Lấy mệnh lệnh giải quyết vấn đề khoa học là kiềm chế sự phát triển của khoa học.

4. Cán bộ ta không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà đi thẳng vào nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, chưa biết cách vận dụng khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nên phương pháp tư tưởng thường là dựa vào nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và một số kinh nghiệm mà suy diễn ra rồi kết luận và khăng khăng là chân lý, không đi con đường khoa học thật sự: xuất phát từ thực tế khách quan, vận dụng duy vật biện chứng, điều tra phân tích, đề xuất giả thuyết, có thái độ nghi vấn, tìm cách đối chiếu ý nghĩ với thực tế, trở lại thực tế và trao đổi với người khác để kiểm nghiệm. Do phương pháp tư tưởng thường là chủ quan, cho rằng điều suy nghĩ của mình là chân lý rồi, ai có ý kiến khác thì cho là lạc hậu, phản động, nên giữa xu hướng không tưởng và độc đoán gia trưởng có mối quan hệ hữu cơ.

5. Người có óc khoa học hay thắc mắc, hay nêu vấn đề mới, lúc mọi người đều bằng lòng, nêu vấn đề mới rồi lại đề xuất cái mới, buộc phải xáo trộn tổ chức, đụng đến chỗ đứng, chỗ ngồi của người này người khác. Do đó, người cán bộ có óc khoa học thường rất dễ xung đột với cán bộ lãnh đạo quan liêu.

6. Lâu nay dư luận chỉ thầm thì, rỉ tai ở vỉa hè, không được công khai bày tỏ trên các phương tiện mê-đi-a. Ai có ý kiến khác thường bị “chụp mũ”, nên không phát huy được trí tuệ tập thể.

Vì xã hội vừa phức tạp, vừa biến động, nên để tránh chủ quan, phiến diện, lãnh đạo cần nghe 3 tiếng chuông:

- Thông tin của bộ máy: Tuy bộ máy có hệ thống, có phương tiện, nhưng do tính chất không độc lập nên thiếu khách quan, thường đưa những thông tin phù hợp với ý muốn của “trên” để vừa lòng “trên”, dễ thăng quan tiến chức.

- Dư luận thường phản ánh phản ứng của quần chúng là người thực hiện chủ trương hoặc chịu đựng hậu quả của chủ trương.

- Khoa học xã hội thường có chiều sâu, phát hiện ra điều mà kinh nghiệm bình thường hoặc suy luận suông không cho thấy được.

Lãnh đạo biết lắng nghe 3 tiếng chuông này sẽ phát huy óc suy nghĩ sáng tạo của quần chúng. Chính sách đưa ra có thể đúng hoặc sai. Không ai có thể đề xuất chủ trương bao giờ cũng đúng. Thực tế chứng minh không nhất thiết ý “trên” và ý tập thể bao giờ cũng đúng. Phải tranh luận công khai giữa những ý kiến khác nhau, làm cho việc trao đổi rộng rãi, công khai trở thành một điều rất bình thường trong sinh hoạt xã hội. Nếu chính sách đúng, quần chúng hiểu rõ, đồng tình, thực hiện nhanh chóng. Nếu sai, kịp thời điều chỉnh.

Cần có quy chế cho dư luận và khoa học, thực hiện chế độ làm chủ của quần chúng đối với phương tiện thông tin tuyên truyền, cho mọi người được bình luận về chủ trương, chính sách. Như vậy, trình độ của cán bộ và nhân dân sẽ được nâng cao, và nhân dân sẽ gắn bó với chế độ hơn.

7. Cần bồi dưỡng cho cán bộ về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, không phải là nguyên lý chung chung, mà là bồi dưỡng cách suy nghĩ và làm việc theo phương pháp khoa học: biết đặt vấn đề, biết nghi vấn, biết điều tra nghiên cứu thực tế, phân biệt giả thuyết chủ quan với thực tế khách quan, biết cách kiểm nghiệm.

Chúng ta có thể đọc thấy những điểm chủ yếu ở trên trong nhiều kiến nghị của BS Nguyễn Khắc Viện. Sau đây, xin trích nguyên văn kiến nghị gửi đến Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 8/1978, ngay sau khi đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng xã hội mới:

“… Một nguyên nhân nữa làm cho lãnh đạo không nắm được tình hình một cách chính xác là tình trạng quá yếu của khoa học xã hội nước ta. Lãnh đạo như một người thầy thuốc chữa bệnh, ngoài việc bản thân khám xét, phải được những phòng xét nghiệm cao biết chụp phim thử máu kết quả ra sao, rồi tổng hợp các thông tin lại mới chẩn đoán và chữa bệnh. Phòng xét nghiệm của lãnh đạo chính trị là các cơ quan khoa học xã hội.

Hiện nay bộ phận này rất yếu vì mấy lý do:

- Hoặc tìm những đề tài vô thưởng vô phạt, hoặc chỉ minh họa đường lối nghị quyết, lời phát biểu của lãnh đạo hơn là nghiên cứu để thực sự phục vụ lãnh đạo. Lãnh đạo xem công trình nghiên cứu chỉ tìm lại tiếng vang trở lại của ý kiến mình, chứ không tìm ra một phát hiện gì giúp cho lãnh đạo. Khoa học xã hội chỉ có ích khi phát hiện được vấn đề, điều tra phân tích, đóng góp tư liệu cho sự lãnh đạo chính trị; nếu chỉ minh họa giải thích đường lối thì không cần, vì đã có cơ quan khác làm việc ấy. Khoa học xã hội đi sau chính trị khi nhằm phục vụ những mục tiêu lớn trong đường lối chính trị, nhưng mặt khác phải đi trước chính trị trong việc nghiên cứu cụ thể. Như hiểu cho được ý đồ của kiến trúc sư để hướng công việc tìm tòi vật liệu của mình, nhưng trong việc tìm tòi ấy bản thân phải độc lập sáng tạo. Buộc khoa học xã hội quá chặt vào việc phục vụ chính trị trước mắt, không cho nó độc lập, biến các cơ quan phụ trách thành những chậu hoa làm cảnh.

Khoa học xã hội có nhiệm vụ vạch ra được xã hội hiện nay có những mâu thuẫn gì chủ yếu, thứ yếu, nguyên nhân, tương quan, yếu tố như thế nào. Công trình nghiên cứu không phải để in thành báo thành sách phổ biến rộng, nhưng để giúp cho lãnh đạo và những người nghiên cứu khác. Lúc phát hiện ra những vấn đề, tất phải đụng chạm với những người và cơ quan hữu trách, rất dễ bị dìm đi. Phải có quy chế, chính sách bảo vệ những người nghiên cứu, đề xuất, phát hiện vấn đề, bằng không xã hội cứ im lìm cho đến lúc nhiều sự việc đổ vỡ. Kinh Dịch có câu: Tôi giết vua, con giết cha, không phải một sớm một chiều mà xảy ra, nguyên do có từ lâu, chỉ vì những người lo biện công việc không biết lo sớm thôi. Không nên để cho sự việc đổ vỡ rồi mới tìm cách nghiên cứu các vấn đề…”.


Chưa đầy 1 năm sau, tháng 2 năm 1979, trong kiến nghị gửi đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ông lại viết:

“… Hiện nay chúng ta mới quan tâm đến khoa học kỹ thuật tự nhiên, khoa học xã hội chưa có vị trí thích đáng. Trong 20 năm qua khoa học xã hội chỉ làm công việc minh họa đường lối chính sách, chạy theo những nhiệm vụ trước mắt, cho nên mang tính chất thực dụng và rút cục không giúp ích gì cho lãnh đạo cả. Bây giờ quay về ngành nào cũng không có những “chuyên gia” được đào tạo và được quyền nghiên cứu lâu năm về những đề tài nhất định để làm tham mưu cho lãnh đạo…

Khoa học xã hội phải chịu sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ đường lối của Đảng, nhưng không thể phát triển nếu chỉ thu mình phục vụ các chính sách trước mắt, nếu không có hoạt động độc lập. Người công tác khoa học phải nói, đúng hơn là có nhiệm vụ nói với lãnh đạo: “Theo tôi nghiên cứu với những phương pháp riêng của môn học chúng tôi, tình hình trong lãnh vực này, địa phương nọ có những vấn đề sau...”; kết luận này có thể trái hẳn nhận định của lãnh đạo hay của cấp ủy, lãnh đạo cần tham khảo để có những quyết định thích hợp.

Hiện nay ai có ý kiến khác của lãnh đạo hoặc của cơ quan chuyên trách mà nói ra thường bị chụp mũ, và trên gặp dưới thì thường đả thông nhiều hơn là nghe. Xã hội ngày nay rất phức tạp không như trước nữa, không thể nắm một vài nguyên lý rồi ngồi suy diễn ra, phải có nhiều điều tra thực tế, tập hợp lại, dùng nhiều phương pháp khoa học đúc kết lại...

Có thể nói là có một cuộc khủng hoảng trong khoa học xã hội hiện nay nếu không gỡ ra, thì toàn bộ xã hội sẽ sống trong một không khí trầm lặng, rút cục đến sáng kiến sáng tạo trong khoa học tự nhiên rồi cũng chịu ảnh hưởng. Mà lãnh đạo cũng thiếu mất một cánh tay đắc lực…”.


Đến tháng 1 tháng 1980, trong tham luận tại Hội nghị Ủy ban Khoa học Xã hội, BS Nguyễn Khắc Viện lại nhấn mạnh đến vị trí của khoa học xã hội:

“… Chúng ta đang đi từ một xã hội đơn giản lên một xã hội phức tạp. Xã hội còn đơn giản thì chỉ cần phương hướng đường lối đúng, từ đó những người có kinh nghiệm và khả năng suy luận tốt cũng đủ sức lãnh đạo và quản lý. Câu “sĩ kiêm bách nghệ” xuất phát từ đó. Trong một xã hội phức tạp, có phương hướng đường lối đúng chưa đủ, thực tế khách quan phức tạp đòi hỏi một sự điều tra nghiên cứu chính xác trong nhiều lĩnh vực và có tập hợp rất nhiều tư liệu cụ thể mới đề ra được những chủ trương đúng…

Quan hệ giữa khoa học xã hội và lãnh đạo chính trị tương tự với quan hệ giữa khoa sinh học, nghiên cứu những quy luật của sinh vật với y học có nhiệm vụ chữa bệnh, phòng bệnh. Nhà sinh học có những nghiên cứu cơ bản về sự sống, có khi tưởng chừng xa vời với việc chữa bệnh, nhưng rút cục lại phục vụ rất đắc lực cho y học. Sinh học không thể chạy theo y học từng bước một.

Khoa học xã hội cũng không thể bám lấy nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn một cách máy móc, quá chặt chẽ. Một cuộc nghiên cứu khoa học có thể kéo dài hàng chục năm, trong khi nhiệm vụ chính trị cụ thể có thể thay đổi rất nhanh.

Khoa học phục vụ chính trị một cách cơ bản chứ không thể phục vụ từng bước một. Muốn cho khoa học thực sự phục vụ chính trị, thì phải để nó đi trước, nghĩa là các nhà chính trị sử dụng kết quả của khoa học để xây dựng đường lối chủ trương chứ không phải ngược lại…”.


Tình hình hoạt động khoa học xã hội hiện nay đã có không ít tiến bộ, nhưng vấn đề BS Nguyễn Khắc Viện nêu ra hơn ba chục năm trước chưa hẳn đã được giải quyết triệt để, hạn chế rất nhiều tác dụng của các nhà khoa học xã hội. Cũng cần nói thêm, do khoa học xã hội đụng chạm đến nhiều mặt trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa…, nên trong nhiều tác phẩm của BS Nguyễn Khắc Viện đã công bố và trong các kiến nghị gửi Trung ương trực tiếp đề cập các vấn đề chính trị, tuy không nêu những ý kiến cụ thể về vai trò, tình hình hoạt động của khoa học xã hội, nhưng cũng có nhiều ý kiến sắc sảo, mạnh bạo mà người nghiên cứu về khoa học xã hội rất nên tham khảo. Ví như trong tác phẩm “Bàn về đạo Nho”, có đoạn ông viết:

“Lòng yêu nước, những hiểu biết về khoa học, tiếp xúc với nhân dân tiến bộ Pháp, dễ dàng dẫn tôi đến chủ nghĩa Mác. Nhưng dù sao vẫn thấy thiếu hụt một chút gì đấy, thỏa mãn mới 90 - 95% thôi. Về sau mới hiểu là thiếu hụt phần “đạo lý”…

Gần hơn, và gắn với những vấn đề có thể gọi lànóng hiện nay, trong kiến nghị cuối cùng của BS Nguyễn Khắc Viện viết tháng 10/1993 góp ý kiến cho Hội nghị Đại biểu Toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng, BS Nguyễn Khắc Viện đã viết:

“… Nhận thức rõ về tư bản:

- Tính năng động, thức khuya dậy sớm, luôn luôn tìm tòi, lo toan.

- Hùng mạnh, các công ty siêu quốc gia ngày nay mạnh hơn nhiều quốc gia.

- Khôn khéo, có nhiều kinh nghiệm.

Đây là một đối thủ đáng gờm, không dễ gì thắng được.

Đặc điểm chủ yếu của nó, theo các học giả phương Tây: chụp giật được gì là làm, bóc lột được ai chịu cho bóc lột, lừa đảo, mua chuộc, giết hại… đều không từ một hành động nào, nếu… - Nếu không vấp phải một trở lực mạnh hơn họ, có nguy cơ gây cho họ những hậu quả nặng nề - Họ là những con người thực tế, không bao giờ cuồng tín liều mạng, gặp sức mạnh tạm lùi, nhượng bộ, rồi mưu mô bày keo khác.

Có sức mạnh chặn tay, trói tay họ lại thì họ trở nên “văn minh”: Họ sẽ tôn trọng pháp luật, quyền lợi của công nhân, nhân quyền, môi trường…

Tư bản phương Tây đã dần dần trở nên văn minh sau 200 năm đấu tranh mãnh liệt của nhân dân các nước Âu Mỹ.

Nhưng ở nơi nào, lúc nào nhân dân một nước buông tay không đấu tranh, họ nhanh chóng quay trở lại bản chất của họ.

Tư bản hiện ở nước ta, nhân dân ta chưa nhận ra mặt nó, chưa đứng lên tìm cách trói tay - trói tay, chứ không phải tiêu diệt.

Chưa hình thành được một Mặt Trận rộng rãi hùng mạnh làm đối trọng.

Xây dựng cho được Mặt Trận ấy là nhiệm vụ hàng đầu của giai đoạn hiện nay.

Trước kia, cơ sở của Mặt Trận là kháng chiến chống đế quốc xâm lược.

Nay phải tuyên bố mở một cuộc kháng chiến mới, chống tư bản man rợ, buộc nó trở thành tư bản văn minh.

Mặt Trận này bao gồm nhiều tầng lớp nhân dân, kể cả những nhà tư bản văn minh. Mặt Trận cũng liên hệ chặt chẽ với bè bạn khắp các nước, cùng chống tư bản man rợ trên quy mô hoàn cầu”.


Sau hai mươi năm, đọc lại ý kiến trên đây vẫn thấy nóng hổi tính thời sự, nóng hổi tinh thần phản biện quyết liệt của một kẻ sĩ tràn đầy tình yêu nước dù đã ở tuổi “bát thập” gần đất xa trời, tuy rằng không hẳn những điều ông nêu lên đã được mọi người chấp thuận.

T.S
(Tư liệu trong bài trích từ “Di cảo” của BS Nguyễn Khắc Viện)
(SH294/08-13)






 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • VÕ QUANG YẾN Tôi yêu tiếng nước tôi                Từ khi mới ra đời làm người                                                Phạm Duy

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGKhao khát, đinh ninh một vẻ đẹp trường tồn giữa "cuộc sống có nhiều hư ảo", Vú Đá, phải chăng đó chính là điều mà kẻ lãng du trắng tóc Nhất Lâm muốn gửi gắm qua tập thơ mới nhất của mình? Bài thơ nhỏ, nằm nép ở bìa sau, tưởng chỉ đùa chơi nhưng thực sự mang một thông điệp sâu xa: bất kỳ một khoảnh khắc tuyệt cảm nào của đời sống cũng có thể tan biến nếu mỗi người trong chúng ta không kịp nắm bắt và gìn giữ, để rồi "mai sau mang tiếng dại khờ", không biết sống. Cũng chính từ nhận thức đó, Nhất Lâm luôn là một người đi nhiều, viết nhiều và cảm nghiệm liên tục qua từng vùng đất, từng trang viết. Câu chữ của ông, vì thế, bao giờ cũng là những chuyển động nhiệt thành nhất của đời sống và của chính bản thân ông.

  • MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHTôi nghe rằng,Rạch ròi, đa biện, phân minh, khúc chiết... là ngôn ngữ khôn ngoan của lý trí nhị nguyên.Chan hoà, đa tình, niềm nỗi... là ngôn ngữ ướt át của trái tim mẫn cảm.Cô liêu, thuỷ mặc, bàng bạc mù sương, lấp ló trăng sao... là ngôn ngữ của non xanh tiểu ẩn.Quán trọ, chân cầu, khách trạm, phong trần lịch trải... là ngôn ngữ của lãng tử giang hồ.Điềm đạm, nhân văn, trung chính... là ngôn ngữ của đạo gia, hiền sĩ.

  • MAI VĂN HOANTập I hồi ký “Âm vang thời chưa xa” của nhà thơ Xuân Hoàng ra mắt bạn đọc vào năm 1995. Đã bao năm trôi qua “Âm vang thời chưa xa” vẫn còn âm vang trong tâm hồn tôi. Với tôi, anh Xuân Hoàng là người bạn vong niên. Tôi là một trong những người được anh trao đổi, trò chuyện, đọc cho nghe những chương anh tâm đắc khi anh đang viết tập hồi ký để đời này.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ giới thiệuNhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà phê bình Hoài Thanh (1909-2009)Chúng ta từng biết cố đô “Huế Đẹp và Thơ” một thời là nơi hội tụ các văn nhân, trong đó có những tên tuổi kiệt xuất của làng “Thơ Mới” Việt Nam như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…; nhưng nhà phê bình Hoài Thanh lại đến với Huế trong một hoàn cảnh đặc biệt và có thể nói là rất tình cờ.

  • LÊ TRỌNG SÂM giới thiệuBà sinh ra và lớn lên ở Painpol và Saint-Malo, một đô thị cổ vùng Bretagne, miền đông bắc nước Pháp. Học trung cấp và tốt nghiệp cử nhân văn chương ở thành phố Nice, vùng xanh da trời miền nam nước Pháp. Là hội viên Hội nhà văn Pháp từ năm 1982, nay bà đã trở thành một trong số ít nhà văn Châu Âu đã tiếp thu và thâm nhập sâu sắc vào rất nhiều khía cạnh của văn hoá Việt Nam.

  • MAI VĂN HOAN giới thiệu Vĩnh Nguyên tên thật là Nguyễn Quang Vinh. Anh sinh năm 1942 (tuổi Nhâm Ngọ) ở Vĩnh Tuy, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Bố anh từng tu nghiệp ở Huế, ông vừa làm thầy trụ trì ở chùa vừa bốc thuốc chữa bệnh cho người nghèo. Thuở thiếu thời anh đã ảnh hưởng cái tính ngay thẳng và trung thực của ông cụ. Anh lại cầm tinh con ngựa nên suốt đời rong ruổi và “thẳng như ruột ngựa”.

  • LGT: Vài năm lại đây, sau độ lùi thời gian hơn 30 năm, giới nghiên cứu văn học cả nước đang xem xét, nhận thức, và đánh giá lại nền “Văn học miền Nam” (1954 - 1975) dưới chế độ cũ, như một bộ phận khăng khít của văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX với các mặt hạn chế và thành tựu của nó về nghệ thuật và tính nhân bản. Văn học của một giai đoạn, một thời kỳ nếu có giá trị thẩm mỹ nhân văn nhất định sẽ tồn tại lâu hơn bối cảnh xã hội và thời đại mà nó phản ánh, gắn bó, sản sinh. Trên tinh thần đó, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết vừa có tính chất hồi ức, vừa có tính chất nghiên cứu, một dạng của thể loại bút ký, hoặc tản văn về văn học của tác giả Nguyễn Đức Tùng, được gửi về từ Canada. Bài viết  dưới đây đậm chất chủ quan trong cảm nghiệm văn chương; nó phô bày cảm nghĩ, trải nghiệm, hồi ức của người viết, nhưng chính những điều đó làm nên sự thu hút của các trang viết và cả một quá khứ văn học như sống động dưới sự thể hiện của chính người trong cuộc. Những nhận định, liên hệ, so sánh, đánh giá trong bài viết này phản ánh lăng kính rất riêng của tác giả, dưới một góc nhìn tinh tế, cởi mở, mang tính đối thoại của anh. Đăng tải bài viết này chúng tôi mong muốn góp phần đa dạng hóa, đa chiều hóa các cách tiếp cận về văn học miền Nam. Rất mong nhận được các ý kiến phản hồi của bạn đọc. TCSH

  • MAI VĂN HOAN giới thiệuNăm 55 tuổi, Hồng Nhu từng nhiều đêm trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh gắn bó trọn hai mươi lăm năm với bao kỷ niệm vui buồn. Và cuối cùng anh đã quyết tâm trở về dù đã lường hết mọi khó khăn đang chờ phía trước. Nếu không có cái quyết định táo bạo đó, anh vẫn là nhà văn của những thiên truyện ngắn Thuyền đi trong mưa ngâu, Gió thổi chéo mặt hồ... từng được nhiều người mến mộ nhưng có lẽ sẽ không có một nhà văn đầm phá, một nhà thơ “ngẫu hứng” như bây giờ.

  • LÊ HỒNG SÂMTìm trong nỗi nhớ là câu chuyện của một thiếu phụ ba mươi tám tuổi, nhìn lại hai mươi năm đời mình, bắt đầu từ một ngày hè những năm tám mươi thế kỷ trước, rời sân bay Nội Bài để sang Matxcơva du học, cho đến một chiều đông đầu thế kỷ này, cũng tại sân bay ấy, sau mấy tuần về thăm quê hương, cô cùng các con trở lại Pháp, nơi gia đình nhỏ của mình định cư.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ     (Đọc “Cạn chén tình” - Tuyển tập truyện ngắn Mường Mán, NXB Trẻ, 2003)Với gần 40 năm cầm bút, với hơn hai chục tác phẩm văn xuôi, thơ và kịch bản phim, nhà văn Mường Mán là một tên tuổi đã quen thuộc với bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ. Có lẽ vì ấn tượng của một loạt truyện dài mà ngay từ tên sách (Lá tương tư, Một chút mưa thơm, Bâng khuâng như bướm, Tuần trăng mê hoặc, Khóc nữa đi sớm mai v...v...) khiến nhiều người gọi ông là nhà văn của tuổi học trò, trên trang sách của ông chỉ là những “Mùa thu tóc rối, Chiều vàng hoa cúc...”.

  • NGUYỄN VĂN HOATranh luận Văn Nghệ thế kỷ 20, do Nhà xuất bản lao động ấn hành. Nó có 2 tập: tập 1 có 1045 trang và tập 2 có 1195 trang, tổng cộng 2 tập có 2240 trang khổ 14,4 x 20,5cm. bìa cứng, bìa trang trí bằng tên các tờ báo, tạp chí có tư liệu tuyển trong bộ sách này.

  • VĨNH CAO - PHAN THANH HẢIVườn Thiệu Phương là một trong những Ngự uyển tiêu biểu của thời Nguyễn, từng được vua Thiệu Trị xếp là thắng cảnh thứ 2 trong 20 cảnh của đất Thần Kinh. Nhưng do những nguyên nhân lịch sử, khu vườn này đã bị triệt giải từ đầu thời vua Ðồng Khánh (1886-1889) và để trong tình trạng hoang phế mãi đến ngày nay. Trong những nỗ lực nhằm khắc phục các "không gian trắng" tại Tử Cấm Thành và phục hồi các khu vườn ngự của thời Nguyễn, từ giữa năm 2002, Trung tâm BTDTCÐ Huế đã phối hợp với Hội Nghệ thuật mới (Pháp) tổ chức một Hội thảo khoa học để bàn luận và tìm ra phương hướng cho việc xây dựng dự án phục hồi khu vườn này.

  • HỒNG DIỆUNhà thơ Cao Bá Quát (1809-1854) được người đời hơn một thế kỷ nay nể trọng, với cả hai tư cách: con người và văn chương. "Thần Siêu, thánh Quát", khó có lời khen tặng nào cao hơn dành cho ông và bạn thân của ông: Nguyễn Văn Siêu (1799-1872).

  • HÀ VĂN THỊNHI. Có lẽ trong nhiều chục năm gần đây của lịch sử thế giới, chưa có một nhà sử học nào cũng như chưa có một cuốn sách lịch sử nào lại phản ánh những gì vừa xẩy ra một cách mới mẻ và đầy ấn tượng như Bob Woodward (BW). Hơn nữa đó lại là lịch sử của cơ quan quyền lực cao nhất ở một cường quốc lớn nhất mọi thời đại; phản ánh về những sự kiện chấn động nhất, nghiêm trọng nhất đã diễn ra trong ba năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới: sự kiện ngày 11/9, cuộc chiến tranh Afganistan và một phần của cuộc chiến tranh Iraq.

  • ĐẶNG TIẾN     (Đọc Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp)Một tờ báo ở ngoài nước đã giới thiệu bốn cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp mới xuất bản. Dĩ nhiên là một bài báo không thể tóm lược được khoảng 1700 trang hồi ký viết cô đúc, nhưng cũng lảy ra được những đặc điểm, ý chính và trích dẫn dồi dào, giúp người đọc không có sách cũng gặt hái được vài khái niệm về tác phẩm.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO       (Đọc tập truyện ngắn “Trà thiếu phụ” của nhà văn Hồng Nhu – NXB Hội Nhà văn 2003)Tôi đã được đọc không ít truyện ngắn của nhà văn Hồng Nhu và hầu như mỗi tập truyện đều để lại trong tôi không ít ấn tượng. Trải dài theo những dòng văn mượt mà, viết theo lối tự sự của nhà văn Hồng Nhu là cuộc sống muôn màu với những tình cảm thân thương, nhiều khi là một nhận định đơn thuần trong cách sống. Nhà văn Hồng Nhu đi từ những sự việc, những đổi thay tinh tế quanh mình để tìm ra một lối viết, một phong cách thể hiện riêng biệt.

  • ĐỖ QUYÊN…Đọc thơ Bùi Giáng là thuốc thử về quan niệm thơ, về mỹ học thi ca. Đã và sẽ không ai sai nhiều lắm, cũng không ai đúng là bao, khi bình bàn về thơ họ Bùi. Nhắc về cái tuyệt đỉnh trong thơ Bùi Giáng, độ cao sâu tư tưởng ở trước tác Bùi Giáng nhiều bao nhiêu cũng thấy thiếu; mà chỉ ra những câu thơ dở, những bài thơ tệ, những đoạn văn chán trong chữ nghĩa Bùi Giáng bao nhiêu cũng bằng thừa…

  • LÊ THỊ HƯỜNGTrong căn phòng nhỏ đêm khuya, giai điệu bản sonat của Beethoven làm ta lặng người; một chiều mưa, lời nhạc Trịnh khiến lòng bâng khuâng; trong một quán nhỏ bên đường tình cờ những khúc nhạc một thời của Văn Cao vọng lại làm ta bất ngờ. Và cũng có thể giữa sóng sánh trăng nước Hương Giang, dìu dặt, ngọt ngào một làn điệu ca Huế khiến lòng xao xuyến.

  • NGÔ MINHĐến tập thơ chọn Giếng Tiên (*), nhà thơ - thầy giáo Mai Văn Hoan đã gửi đến bạn yêu thơ 5 tập thơ trữ tình, trong đó có hai tập thơ được tái bản. Đó là tập đầu tay Ảo ảnh, in năm 1988, tái bản 1995 và tập Hồi âm, in năm 1991, tái bản năm 2000. 15 năm xuất bản 7 đầu sách (2 tập tiểu luận) và đang có trong ngăn kéo vài tập bản thảo tiểu luận nữa, chứng tỏ sức sáng tạo sung mãn đáng nể trọng của một thầy giáo vừa dạy học vừa sáng tác văn chương.