Di cảo Nguyễn Khắc Viện: vai trò của khoa học xã hội & dân chủ xã hội

15:10 19/08/2013

TRUNG SƠN

100 NĂM NGÀY SINH BÁC SĨ NGUYỄN KHẮC VIỆN (1913 - 2013)

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện

Cuộc đời và những hoạt động phong phú của bác sĩ (BS) Nguyễn Khắc Viện đã được nhiều sách báo nói đến; tuy vậy, có một công việc ông đã dồn vào đó rất nhiều tâm huyết và cả sự dấn thân quyết liệt nữa, nhưng người ta thường chỉ “nghe đồn” chứ chưa hiểu tường tận. Đó là gần ba chục kiến nghị và thư mà ông đã liên tục gửi lên cấp cao Đảng và Nhà nước trong những năm từ 1976 - 1993. Quả là phải có tinh thần dấn thân quyết liệt mới làm được điều đó, vì sau khi BS Nguyễn Khắc Viện gửi hàng loạt kiến nghị “nóng bỏng” về cải cách đường lối kinh tế, mở rộng dân chủ… lên Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước các kỳ Đại hội 5, 6, 7, đã có dư luận phê phán ông là “phản động”, một thời gian các bài viết của ông không báo nào dám đăng, nhiều cuộc nói chuyện của ông bị hủy bỏ… Thực ra, đây là cách “phản biện” của một trí thức, một kẻ sĩ giàu lòng yêu nước trước thời cuộc còn nhiều ngang trái mà xã hội ta chưa quen. Điều này đã được khẳng định sau khi ông được Tổng Bí thư Đỗ Mười mời gặp và nhất là sau ngày ông qua đời (10/5/1997), người lãnh đạo cao nhất của Đảng đã viết: “…Đồng chí Nguyễn Khắc Viện, người đảng viên cộng sản giàu nghị lực, một nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng. Đồng chí đã góp phần công lao xứng đáng cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do của Tổ quốc và làm hết sức mình cho sự nghiệp văn hóa, giáo dục của Việt Nam…”. Còn nhà báo Phan Quang, nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, trong một bài viết nhân kỷ niệm 10 năm ngày BS Nguyễn Khắc Viện qua đời đã viết: “…BS Nguyễn Khắc Viện sinh thời có nhiều suy nghĩ về đất nước và thời cuộc hơi khác với nhiều người cùng thời; những trăn trở của ông chưa được chia sẻ ngay tức khắc cũng là điều dễ hiểu. Cái “lỗi” của BS Nguyễn Khắc Viện - nếu dám gọi điều ấy là “lỗi” - theo tôi là ông thường có ý kiến hơi quá sớm về những vấn đề được coi là “nhạy cảm, trong khi xã hội còn triền miên trong nếp tư duy khác…”.

Mới đây, sau kỷ niệm 100 năm ngày sinh BS Nguyễn Khắc Viện (1913 - 2013), gia đình BS Nguyễn Khắc Viện đã trao cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 3 toàn bộ tác phẩm đã xuất bản, Di cảo và một số tư liệu khác của BS Nguyễn Khắc Viện để bảo quản lâu dài. Trong Di cảo của BS Nguyễn Khắc Viện có gần 30 kiến nghị nói trên.

Trong khi chưa có điều kiện xuất bản toàn bộ kiến nghị của BS Nguyễn Khắc Viện, chúng tôi giới thiệu một số kiến nghị, thư của BS Nguyễn Khắc Viện nhấn mạnh đến vai trò và tác dụng của hoạt động khoa học xã hội ở nước ta đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, một lĩnh vực có quan hệ mật thiết với hoạt động văn hóa - văn nghệ.

*

Khoa học xã hội, một lĩnh vực có phạm vi rất rộng. Từ những bản kiến nghị của BS Nguyễn Khắc Viện, có thể nhận thấy ông tập trung làm rõ vai trò của Khoa học xã hội, mối quan hệ biện chứng giữa khoa học và dân chủ với những ý kiến như sau:

1. Khoa học xã hội chịu sự lãnh đạo của Đảng, nhưng phải có hoạt động độc lập, chủ động, đi trước, vì xã hội rất phức tạp, không đơn giản như xưa, không thể từ vài nguyên lý rồi suy diễn ra một cách chủ quan. Khoa học xã hội phải điều tra nghiên cứu những vấn đề cơ bản, vạch ra xã hội hiện nay có những mâu thuẫn gì chủ yếu, thứ yếu, nguyên nhân, tương quan giữa các yếu tố như thế nào, nguyện vọng tâm tư thường xuyên biến động của các tầng lớp nhân dân. Dùng phương pháp khoa học chính xác đúc kết, phản ánh cho lãnh đạo tình hình thực tế (có thể trái với nhận định của lãnh đạo), đề xuất với lãnh đạo xây dựng đường lối chủ trương. Khi đã có chủ trương, lại tiếp tục điều tra nghiên cứu để thấy được tác động của chủ trương về các mặt như thế nào, tình hình mới biến động ra sao, đề xuất với Đảng có chủ trương điều chỉnh cần thiết.

2. Lâu nay, Đảng chưa xác định được vai trò của khoa học xã hội như vậy, bản thân cơ quan khoa học xã hội chưa làm đúng vai trò này, mà chỉ thụ động, đi sau, minh họa đường lối chủ trương, phục vụ nhiệm vụ chính trị một cách máy móc, cụ thể, nhất thời. Đó là nguyên nhân đưa đến tình trạng đường lối chủ trương được xây dựng theo suy nghĩ chủ quan, thoát ly thực tế, có nhiều sai lầm, lại không được kịp thời phát hiện, uốn nắn, để sai lầm kéo dài, đến khi đổ vỡ mới thấy thì đã quá muộn.

3. Giữa khoa học với dân chủ, có mối quan hệ biện chứng.

Có dân chủ mới có khoa học. Ý nghĩ chủ quan có ăn khớp với thực tế hay không? Đúng hay sai phải có khoa học chứng minh, không quyền thế nào ép buộc được. Mọi ý kiến phải được kiểm nghiệm qua thực tế và trao đổi với người khác. Trong khoa học, không ai trên ai dưới. Lấy mệnh lệnh giải quyết vấn đề khoa học là kiềm chế sự phát triển của khoa học.

4. Cán bộ ta không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà đi thẳng vào nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, chưa biết cách vận dụng khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nên phương pháp tư tưởng thường là dựa vào nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và một số kinh nghiệm mà suy diễn ra rồi kết luận và khăng khăng là chân lý, không đi con đường khoa học thật sự: xuất phát từ thực tế khách quan, vận dụng duy vật biện chứng, điều tra phân tích, đề xuất giả thuyết, có thái độ nghi vấn, tìm cách đối chiếu ý nghĩ với thực tế, trở lại thực tế và trao đổi với người khác để kiểm nghiệm. Do phương pháp tư tưởng thường là chủ quan, cho rằng điều suy nghĩ của mình là chân lý rồi, ai có ý kiến khác thì cho là lạc hậu, phản động, nên giữa xu hướng không tưởng và độc đoán gia trưởng có mối quan hệ hữu cơ.

5. Người có óc khoa học hay thắc mắc, hay nêu vấn đề mới, lúc mọi người đều bằng lòng, nêu vấn đề mới rồi lại đề xuất cái mới, buộc phải xáo trộn tổ chức, đụng đến chỗ đứng, chỗ ngồi của người này người khác. Do đó, người cán bộ có óc khoa học thường rất dễ xung đột với cán bộ lãnh đạo quan liêu.

6. Lâu nay dư luận chỉ thầm thì, rỉ tai ở vỉa hè, không được công khai bày tỏ trên các phương tiện mê-đi-a. Ai có ý kiến khác thường bị “chụp mũ”, nên không phát huy được trí tuệ tập thể.

Vì xã hội vừa phức tạp, vừa biến động, nên để tránh chủ quan, phiến diện, lãnh đạo cần nghe 3 tiếng chuông:

- Thông tin của bộ máy: Tuy bộ máy có hệ thống, có phương tiện, nhưng do tính chất không độc lập nên thiếu khách quan, thường đưa những thông tin phù hợp với ý muốn của “trên” để vừa lòng “trên”, dễ thăng quan tiến chức.

- Dư luận thường phản ánh phản ứng của quần chúng là người thực hiện chủ trương hoặc chịu đựng hậu quả của chủ trương.

- Khoa học xã hội thường có chiều sâu, phát hiện ra điều mà kinh nghiệm bình thường hoặc suy luận suông không cho thấy được.

Lãnh đạo biết lắng nghe 3 tiếng chuông này sẽ phát huy óc suy nghĩ sáng tạo của quần chúng. Chính sách đưa ra có thể đúng hoặc sai. Không ai có thể đề xuất chủ trương bao giờ cũng đúng. Thực tế chứng minh không nhất thiết ý “trên” và ý tập thể bao giờ cũng đúng. Phải tranh luận công khai giữa những ý kiến khác nhau, làm cho việc trao đổi rộng rãi, công khai trở thành một điều rất bình thường trong sinh hoạt xã hội. Nếu chính sách đúng, quần chúng hiểu rõ, đồng tình, thực hiện nhanh chóng. Nếu sai, kịp thời điều chỉnh.

Cần có quy chế cho dư luận và khoa học, thực hiện chế độ làm chủ của quần chúng đối với phương tiện thông tin tuyên truyền, cho mọi người được bình luận về chủ trương, chính sách. Như vậy, trình độ của cán bộ và nhân dân sẽ được nâng cao, và nhân dân sẽ gắn bó với chế độ hơn.

7. Cần bồi dưỡng cho cán bộ về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, không phải là nguyên lý chung chung, mà là bồi dưỡng cách suy nghĩ và làm việc theo phương pháp khoa học: biết đặt vấn đề, biết nghi vấn, biết điều tra nghiên cứu thực tế, phân biệt giả thuyết chủ quan với thực tế khách quan, biết cách kiểm nghiệm.

Chúng ta có thể đọc thấy những điểm chủ yếu ở trên trong nhiều kiến nghị của BS Nguyễn Khắc Viện. Sau đây, xin trích nguyên văn kiến nghị gửi đến Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 8/1978, ngay sau khi đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng xã hội mới:

“… Một nguyên nhân nữa làm cho lãnh đạo không nắm được tình hình một cách chính xác là tình trạng quá yếu của khoa học xã hội nước ta. Lãnh đạo như một người thầy thuốc chữa bệnh, ngoài việc bản thân khám xét, phải được những phòng xét nghiệm cao biết chụp phim thử máu kết quả ra sao, rồi tổng hợp các thông tin lại mới chẩn đoán và chữa bệnh. Phòng xét nghiệm của lãnh đạo chính trị là các cơ quan khoa học xã hội.

Hiện nay bộ phận này rất yếu vì mấy lý do:

- Hoặc tìm những đề tài vô thưởng vô phạt, hoặc chỉ minh họa đường lối nghị quyết, lời phát biểu của lãnh đạo hơn là nghiên cứu để thực sự phục vụ lãnh đạo. Lãnh đạo xem công trình nghiên cứu chỉ tìm lại tiếng vang trở lại của ý kiến mình, chứ không tìm ra một phát hiện gì giúp cho lãnh đạo. Khoa học xã hội chỉ có ích khi phát hiện được vấn đề, điều tra phân tích, đóng góp tư liệu cho sự lãnh đạo chính trị; nếu chỉ minh họa giải thích đường lối thì không cần, vì đã có cơ quan khác làm việc ấy. Khoa học xã hội đi sau chính trị khi nhằm phục vụ những mục tiêu lớn trong đường lối chính trị, nhưng mặt khác phải đi trước chính trị trong việc nghiên cứu cụ thể. Như hiểu cho được ý đồ của kiến trúc sư để hướng công việc tìm tòi vật liệu của mình, nhưng trong việc tìm tòi ấy bản thân phải độc lập sáng tạo. Buộc khoa học xã hội quá chặt vào việc phục vụ chính trị trước mắt, không cho nó độc lập, biến các cơ quan phụ trách thành những chậu hoa làm cảnh.

Khoa học xã hội có nhiệm vụ vạch ra được xã hội hiện nay có những mâu thuẫn gì chủ yếu, thứ yếu, nguyên nhân, tương quan, yếu tố như thế nào. Công trình nghiên cứu không phải để in thành báo thành sách phổ biến rộng, nhưng để giúp cho lãnh đạo và những người nghiên cứu khác. Lúc phát hiện ra những vấn đề, tất phải đụng chạm với những người và cơ quan hữu trách, rất dễ bị dìm đi. Phải có quy chế, chính sách bảo vệ những người nghiên cứu, đề xuất, phát hiện vấn đề, bằng không xã hội cứ im lìm cho đến lúc nhiều sự việc đổ vỡ. Kinh Dịch có câu: Tôi giết vua, con giết cha, không phải một sớm một chiều mà xảy ra, nguyên do có từ lâu, chỉ vì những người lo biện công việc không biết lo sớm thôi. Không nên để cho sự việc đổ vỡ rồi mới tìm cách nghiên cứu các vấn đề…”.


Chưa đầy 1 năm sau, tháng 2 năm 1979, trong kiến nghị gửi đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ông lại viết:

“… Hiện nay chúng ta mới quan tâm đến khoa học kỹ thuật tự nhiên, khoa học xã hội chưa có vị trí thích đáng. Trong 20 năm qua khoa học xã hội chỉ làm công việc minh họa đường lối chính sách, chạy theo những nhiệm vụ trước mắt, cho nên mang tính chất thực dụng và rút cục không giúp ích gì cho lãnh đạo cả. Bây giờ quay về ngành nào cũng không có những “chuyên gia” được đào tạo và được quyền nghiên cứu lâu năm về những đề tài nhất định để làm tham mưu cho lãnh đạo…

Khoa học xã hội phải chịu sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ đường lối của Đảng, nhưng không thể phát triển nếu chỉ thu mình phục vụ các chính sách trước mắt, nếu không có hoạt động độc lập. Người công tác khoa học phải nói, đúng hơn là có nhiệm vụ nói với lãnh đạo: “Theo tôi nghiên cứu với những phương pháp riêng của môn học chúng tôi, tình hình trong lãnh vực này, địa phương nọ có những vấn đề sau...”; kết luận này có thể trái hẳn nhận định của lãnh đạo hay của cấp ủy, lãnh đạo cần tham khảo để có những quyết định thích hợp.

Hiện nay ai có ý kiến khác của lãnh đạo hoặc của cơ quan chuyên trách mà nói ra thường bị chụp mũ, và trên gặp dưới thì thường đả thông nhiều hơn là nghe. Xã hội ngày nay rất phức tạp không như trước nữa, không thể nắm một vài nguyên lý rồi ngồi suy diễn ra, phải có nhiều điều tra thực tế, tập hợp lại, dùng nhiều phương pháp khoa học đúc kết lại...

Có thể nói là có một cuộc khủng hoảng trong khoa học xã hội hiện nay nếu không gỡ ra, thì toàn bộ xã hội sẽ sống trong một không khí trầm lặng, rút cục đến sáng kiến sáng tạo trong khoa học tự nhiên rồi cũng chịu ảnh hưởng. Mà lãnh đạo cũng thiếu mất một cánh tay đắc lực…”.


Đến tháng 1 tháng 1980, trong tham luận tại Hội nghị Ủy ban Khoa học Xã hội, BS Nguyễn Khắc Viện lại nhấn mạnh đến vị trí của khoa học xã hội:

“… Chúng ta đang đi từ một xã hội đơn giản lên một xã hội phức tạp. Xã hội còn đơn giản thì chỉ cần phương hướng đường lối đúng, từ đó những người có kinh nghiệm và khả năng suy luận tốt cũng đủ sức lãnh đạo và quản lý. Câu “sĩ kiêm bách nghệ” xuất phát từ đó. Trong một xã hội phức tạp, có phương hướng đường lối đúng chưa đủ, thực tế khách quan phức tạp đòi hỏi một sự điều tra nghiên cứu chính xác trong nhiều lĩnh vực và có tập hợp rất nhiều tư liệu cụ thể mới đề ra được những chủ trương đúng…

Quan hệ giữa khoa học xã hội và lãnh đạo chính trị tương tự với quan hệ giữa khoa sinh học, nghiên cứu những quy luật của sinh vật với y học có nhiệm vụ chữa bệnh, phòng bệnh. Nhà sinh học có những nghiên cứu cơ bản về sự sống, có khi tưởng chừng xa vời với việc chữa bệnh, nhưng rút cục lại phục vụ rất đắc lực cho y học. Sinh học không thể chạy theo y học từng bước một.

Khoa học xã hội cũng không thể bám lấy nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn một cách máy móc, quá chặt chẽ. Một cuộc nghiên cứu khoa học có thể kéo dài hàng chục năm, trong khi nhiệm vụ chính trị cụ thể có thể thay đổi rất nhanh.

Khoa học phục vụ chính trị một cách cơ bản chứ không thể phục vụ từng bước một. Muốn cho khoa học thực sự phục vụ chính trị, thì phải để nó đi trước, nghĩa là các nhà chính trị sử dụng kết quả của khoa học để xây dựng đường lối chủ trương chứ không phải ngược lại…”.


Tình hình hoạt động khoa học xã hội hiện nay đã có không ít tiến bộ, nhưng vấn đề BS Nguyễn Khắc Viện nêu ra hơn ba chục năm trước chưa hẳn đã được giải quyết triệt để, hạn chế rất nhiều tác dụng của các nhà khoa học xã hội. Cũng cần nói thêm, do khoa học xã hội đụng chạm đến nhiều mặt trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa…, nên trong nhiều tác phẩm của BS Nguyễn Khắc Viện đã công bố và trong các kiến nghị gửi Trung ương trực tiếp đề cập các vấn đề chính trị, tuy không nêu những ý kiến cụ thể về vai trò, tình hình hoạt động của khoa học xã hội, nhưng cũng có nhiều ý kiến sắc sảo, mạnh bạo mà người nghiên cứu về khoa học xã hội rất nên tham khảo. Ví như trong tác phẩm “Bàn về đạo Nho”, có đoạn ông viết:

“Lòng yêu nước, những hiểu biết về khoa học, tiếp xúc với nhân dân tiến bộ Pháp, dễ dàng dẫn tôi đến chủ nghĩa Mác. Nhưng dù sao vẫn thấy thiếu hụt một chút gì đấy, thỏa mãn mới 90 - 95% thôi. Về sau mới hiểu là thiếu hụt phần “đạo lý”…

Gần hơn, và gắn với những vấn đề có thể gọi lànóng hiện nay, trong kiến nghị cuối cùng của BS Nguyễn Khắc Viện viết tháng 10/1993 góp ý kiến cho Hội nghị Đại biểu Toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng, BS Nguyễn Khắc Viện đã viết:

“… Nhận thức rõ về tư bản:

- Tính năng động, thức khuya dậy sớm, luôn luôn tìm tòi, lo toan.

- Hùng mạnh, các công ty siêu quốc gia ngày nay mạnh hơn nhiều quốc gia.

- Khôn khéo, có nhiều kinh nghiệm.

Đây là một đối thủ đáng gờm, không dễ gì thắng được.

Đặc điểm chủ yếu của nó, theo các học giả phương Tây: chụp giật được gì là làm, bóc lột được ai chịu cho bóc lột, lừa đảo, mua chuộc, giết hại… đều không từ một hành động nào, nếu… - Nếu không vấp phải một trở lực mạnh hơn họ, có nguy cơ gây cho họ những hậu quả nặng nề - Họ là những con người thực tế, không bao giờ cuồng tín liều mạng, gặp sức mạnh tạm lùi, nhượng bộ, rồi mưu mô bày keo khác.

Có sức mạnh chặn tay, trói tay họ lại thì họ trở nên “văn minh”: Họ sẽ tôn trọng pháp luật, quyền lợi của công nhân, nhân quyền, môi trường…

Tư bản phương Tây đã dần dần trở nên văn minh sau 200 năm đấu tranh mãnh liệt của nhân dân các nước Âu Mỹ.

Nhưng ở nơi nào, lúc nào nhân dân một nước buông tay không đấu tranh, họ nhanh chóng quay trở lại bản chất của họ.

Tư bản hiện ở nước ta, nhân dân ta chưa nhận ra mặt nó, chưa đứng lên tìm cách trói tay - trói tay, chứ không phải tiêu diệt.

Chưa hình thành được một Mặt Trận rộng rãi hùng mạnh làm đối trọng.

Xây dựng cho được Mặt Trận ấy là nhiệm vụ hàng đầu của giai đoạn hiện nay.

Trước kia, cơ sở của Mặt Trận là kháng chiến chống đế quốc xâm lược.

Nay phải tuyên bố mở một cuộc kháng chiến mới, chống tư bản man rợ, buộc nó trở thành tư bản văn minh.

Mặt Trận này bao gồm nhiều tầng lớp nhân dân, kể cả những nhà tư bản văn minh. Mặt Trận cũng liên hệ chặt chẽ với bè bạn khắp các nước, cùng chống tư bản man rợ trên quy mô hoàn cầu”.


Sau hai mươi năm, đọc lại ý kiến trên đây vẫn thấy nóng hổi tính thời sự, nóng hổi tinh thần phản biện quyết liệt của một kẻ sĩ tràn đầy tình yêu nước dù đã ở tuổi “bát thập” gần đất xa trời, tuy rằng không hẳn những điều ông nêu lên đã được mọi người chấp thuận.

T.S
(Tư liệu trong bài trích từ “Di cảo” của BS Nguyễn Khắc Viện)
(SH294/08-13)






 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG THỤY ANH

    Mùa hè treo rũ
    Trong cái hộp hai mươi mét vuông
    Ngổn ngang màu
    Ký tự chen chúc như bầy ngỗng mùa đông
    Ngày lên dây hết cỡ
                                Chật
    Dâng đầy lên ngực
    Chuông nhà thờ chặt khúc thời gian

     

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO

    Lâu nay, đọc thơ của trẻ em, tôi thường có cảm giác, hình như các em làm thơ dưới ngọn roi giáo huấn mà người lớn thường giơ lên đe nẹt trẻ con. Cho nên khi cầm trong tay tập thơ Cái chuông vú của bé Hoàng Dạ Thi “làm” từ 3 đến 5 tuổi, tôi không khỏi ngạc nhiên.

  • NGHIÊM LƯƠNG THÀNH

    Đọc xong Những đứa con rải rác trên đường, cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn Hồ Anh Thái (Nxb. Trẻ 2014), thoạt đầu tôi có cảm giác trống vắng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG

    Anh Cao Việt Dũng hỏi: anh có biết Lưu Quang Vũ không? Anh nghĩ gì về thơ Lưu Quang Vũ?

  • CHÂU THU HÀ

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng văn hóa của dân tộc Việt Nam. Tinh hoa và cốt cách của Người là nguồn cảm hứng vô tận cho văn nghệ sĩ, nhà báo.

  • DÃ LAN - NGUYỄN ĐỨC DỤ

    Cách đây mấy năm, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội có cho phát hành cuốn TỪ ĐIỂN VĂN HỌC (1983 - 1984). Sách gồm hai tập: tập I và tập II đầy cả ngàn trang, với sự cộng tác của nhiều tác giả.

  • MAI VĂN HOAN

    "Dư âm của biển" - theo tôi là cách gọi hợp nhất cho tập thơ mới này của Hải Bằng. Đặt "Trăng đợi trước thềm" chắc tác giả gửi gắm một điều gì đó mà tôi chưa hiểu được. Song với tôi "Trăng đợi trước thềm" có vẻ mơ mộng quá, tên gọi ấy chưa thể hiện được giai điệu cuộc đời của thơ anh.

  • PHẠM PHÚ PHONG

    Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984), hiệu là Lộc Đình, người làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, thị xã Sơn Tây, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc thủ đô Hà Nội, là nhà văn, nhà nghiên cứu, biên soạn, khảo cứu, về nhiều lĩnh vực như văn học, triết học, sử học, ngôn ngữ học, đạo đức học, chính trị học, kinh tế học, giáo dục học, gương danh nhân…

  • Chuyện gì xảy ra trong ngày 30/4/1975 tại Sài Gòn? Nhiều người đã viết về sự kiện này. Một lần nữa, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái - nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn đã lên tiếng, cùng với sự trợ giúp của vợ và hai con - Nguyễn Hữu Thiên Nga và Nguyễn Hữu Thái Hòa.

  • Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật cho ra mắt bạn đọc một số đầu sách về sự kiện lịch sử này, về lịch sử kháng chiến Nam Bộ và về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của toàn dân Việt Nam.

  • LÊ HUỲNH LÂM

    Không khỏi bất ngờ khi cầm trên tay tập “Hôm qua hôm nay & hôm sau” của Vũ Trọng Quang do Nxb Đà Nẵng ấn hành vào tháng 1 năm 2006. Vậy là đã 9 năm.

  • PHẠM XUÂN DŨNG

    Tôi và nhiều bạn bè sinh viên còn nhớ nguyên vẹn cảm giác lần đầu nghe bài thơ “Đêm qua” của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đêm cư xá Huế lạnh và buồn đến nao lòng tê tái.

  • Ý NHI 

    1.
    Một buổi chiều, khoảng cuối năm 1989, chúng tôi có cuộc gặp gỡ tại nhà Trần Thị Khánh Hội, trong một con hẻm rộng, quận Phú Nhuận.

  • TRẦN HOÀI ANH

    (Kỷ niệm 49 năm ngày mất cố Thi sĩ Nguyễn Bính 1966 - 2015)

  • DƯƠNG PHƯỚC THU  

    Kể từ lúc thị xã Huế được nâng lên cấp thành phố, cho đến khi người Nhật làm cuộc đảo chính hất chân người Pháp khỏi đông Dương vào ngày 9/3/1945 thì Huế vẫn là thành phố cấp 3, nhưng là thành phố của trung tâm chính trị, văn hóa, nơi đóng kinh đô cuối cùng của nhà nước quân chủ Việt Nam.

  • HỒ VĨNH  

    Thi hữu Quốc Hoa Nguyễn Cửu Phương là một thành viên trong hội thơ Hương Bình thi xã do Ưng Bình Thúc Giạ Thị làm hội chủ. Năm 1933 thi đàn đặt tên là Vỹ Hương thi xã, qua năm 1950 các thi hữu bắt đầu đổi tên Vỹ Hương thi xã thành Hương Bình thi xã.

  • Mùa xuân chiếm một ví trí quan trọng trong thơ Nguyễn Trãi. Xuân hiện lên bằng nhiều vẻ dáng khác nhau, được khắc họa bằng nhiều cung bậc khác nhau. Mỗi một bài thơ xuân như là một trang nhật kí và cảm xúc của cuộc đời thi nhân.

  • Đọc sách Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý (ảnh, NXB Khoa học xã hội, Sách Khai tâm, quý 1/2015) của Hoàng Xuân Hãn là cách để “gặp lại” danh tướng Lý Thường Kiệt.

  • CAO HUY THUẦN

    Từ trong mênh mông, một sợi mưa rơi vào lá sen. Nước vốn không có hình. Nằm trong lá, nước tròn như một viên ngọc, tròn như một hạt lệ, tròn như một thủy chung. Gió thoảng qua, lá sen lay động, nước rơi không để lại một dấu vết, rơi như chưa bao giờ có, rơi như một hững hờ.

  • NGUYÊN QUÂN

    Những lúc bứt thoát được những hệ lụy cuộc sống, tôi chỉ thích được lang thang lên mạng, mong bắt gặp một câu thơ, một dòng văn nào đó gần gũi với tâm trạng để ru dỗ mình bằng những phút giây đồng điệu.