SHO - Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Hàn Mặc Tử (22/9/1912 - 22/9/2012), tối ngày 21/9, Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế phối hợp với Công ty Văn hóa Phương Nam tổ chức đêm thơ Tìm lại Gái quê, diễn ra tại Nhà sách Phương Nam Phú Xuân, Huế.
Nhà thơ Phạm Nguyên Tường - Chủ tịch Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế phát biểu khai mạc đêm thơ
Phát biểu khai mạc đêm thơ, nhà thơ Phạm Nguyên Tường - Chủ tịch Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã nhấn mạnh: “Năm 2012, đúng vào dịp 100 năm sinh nhật nhà thơ Hàn Mạc Tử, may mắn thay từ Orléan, Pháp, nhà nghiên cứu - phê bình văn học Đặng Tiến đã được bà Hoàng Thị Quỳnh Hoa, ở Maryland Mỹ trao lại từ một bản sao trong tư liệu người cô là Hoàng Thị Kim Cúc (Huế ), do Trần Như Uyên đánh máy lại năm 1969, từ một bản đánh máy khác của nhà thơ Phan Văn Dật cùng ở Huế. So với bản Gái Quê của Chế Lan Viên năm 1987, hay của Hội Nhà Văn 1992, 1998, tập thơ tìm được này có 34 bài. Chúng tôi cho rằng, để có được tập Gái Quê trọn vẹn hôm nay, tâm huyết và công sức của nhà nghiên cứu - phê bình Đặng Tiến là rất lớn…”.
![]() |
Nhà thơ Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912, tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Hàn Mặc Tử học tiểu học ở Quảng Ngãi, khi gia đình dời vào Quy Nhơn, học hai lớp cuối cùng bậc tiểu học, sau đó học ở trường dòng Pellerin (Bình Linh ) ở Huế.
|
|
Năm 1936, ông xuất bản tập thơ GÁI QUÊ, ký tên Hàn Mặc Tử, in tại nhà in Tân Dân, Hà Nội, xong ngày 23/10/1936. Sách gồm 48 trang khổ 12,5x19,4 với 34 bài thơ, tác giả tự phát hành. Năm 1937, bệnh phong bắt đầu phát lộ, ông sinh hoạt văn nghệ tại quê nhà, chủ trương đặc san Nắng Xuân, thành lập Trường Thơ Loạn. Năm 1938, tập họp tác phẩm thành tập thơ ĐIÊN, sau đổi là ĐAU THƯƠNG, nhưng không tìm ra được nhà xuất bản, và cũng không còn khả năng tự xuất bản như tập GÁI QUÊ trước đó. Năm 1940, bệnh tình nguy kịch, gia đình đưa vào bệnh viện Quy Nhơn, ngày 8 tháng 9, rồi chuyển vào trại cùi Quy Hòa ngày 20 tháng 9. Ông qua đời lúc 5 giờ 45 phút sáng ngày 11 tháng 11 năm 1940, được mai táng tại nghĩa trang bệnh viện. Năm 1959, mộ phần Hàn Mạc Tử được cải táng, dời về Rành Ráng, Quy Nhơn.
|
|
Tại đêm thơ Tìm lại Gái quê, công chúng yêu thơ Cố đô Huế đã được nghe các bài thơ trong tập thơ Gái quê của thi sĩ hàn Mặc Tử với các bài thơ: Gái quê, Bẽn lẽn, Tôi thích làm con gái, Duyên muộn, Nhớ Nhung, Trái mùa, Âm thầm, Tình quê, Tình thu, Cô bán trầu… qua giọng ngâm của nghệ sĩ Bạch Hạc, Thu Hằng và Phong thủy, và ca khúc Đây thôn Vỹ Dạ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài thơ cùng tên của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Cùng đó, những người yêu thơ giao lưu với nhà thơ Mai Văn Hoan, người đã nhiều năm nghiên cứu và đã xuất bản tập sách Cảm nhận thơ Hàn Mặc Tử.
|
|
Dịp này, Công ty Văn hóa Phương Nam (PNB) đã giới thiệu đến với bạn đọc Cố đô Huế tập thơ GÁI QUÊ, được Công ty liên kết với Nxb Hội Nhà Văn, xuất bản năm 2012. Tập thơ gồm 34 bài thơ và nhiều bài viết mang tính khảo cứu, ghi chép lại những câu chuyện, những kỷ niệm có liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của nhà thơ Hàn Mặc Tử của các tác giả trong nước và nước ngoài.
| Dưới đây là một số hình ảnh tại đêm thơ |
|
|
|
|
|
|
|
|
PV
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.