NGUYỄN KHẮC PHÊ
Nhà văn Nguyễn Khắc Phê - Ảnh: tư liệu
Nghị quyết IV của Trung ương vừa ban hành, giới văn nghệ đã có trong tay bản chỉ thị của Chính phủ quy định những chế độ, biện pháp nhằm hỗ trợ những hoạt động văn học nghệ thuật. Cũng với tinh thần khẩn trương đưa nghị quyết vào cuộc sống, trong phiên họp đầu năm 1993, Ban Chấp hành Hội Văn nghệ TT - Huế đã đề ra một số chương trình hành động, trong đó có kế hoạch "Đầu tư trọng điểm những tác phẩm công trình có giá trị cao nhưng không có hoặc ít có khả năng đem lại doanh thu". (Trích NQ. 04). Chỉ sau phiên họp một thời gian ngắn, nhiều tác giả đã báo cáo về Hội những tác phẩm, công trình cần được đầu tư để hoàn thành hoặc có điều kiện giới thiệu với công chúng.
Tuy vậy, để thực hiện được những yêu cầu đó, tôi thấy vẫn còn không ít khó khăn, cần có những quy định, những cơ chế cụ thể hơn nữa.
Trước hết, đó là việc thẩm định giá trị tác phẩm (và cả "giá trị" tác giả nữa - trong trường hợp tác giả chưa viết một dòng nào, chỉ mỗi trình bày dự kiến). Làm sao để đánh giá đúng là "tác phẩm có giá trị cao", từ đó mới có căn cứ đầu tư xác đáng. Nếu không, tiền bạc của nhân dân sẽ bị lãng phí một cách vô ích. (Gần đây, trong dịp kỷ niệm 40 năm thành lập ngành điện ảnh, chúng ta được biết Nhà nước từng đầu tư hàng trăm triệu để làm một số phim, nhưng rút cục đã không tạo ra được "tác phẩm có giá trị cao") Tất nhiên, chúng ta không đòi hỏi tuyệt đối, vượt quá khả năng hiện có, nhưng để đánh giá đúng, cần phải thật sự dựa vào các hội đồng nghệ thuật - một tổ chức mà theo chỉ thị, nghị quyết của cấp trên thì lẽ ra chúng ta phải thành lập từ lâu. Một vấn đề liên quan cần phải chú trọng là việc thành lập hội đồng cũng như phương thức hoạt động của hội đồng cần có quy chế chặt chẽ, khoa học và công khai; như thế, quyết định của hội đồng mới có sức thuyết phục cao. Chúng ta đều biết việc đánh giá tác phẩm văn học nghệ thuật thường là không đồng nhất, thậm chí có khi trái ngược nhau, nên đạt được một quyết định có sức thuyết phục cao là không dễ dàng. Và cũng lắm công phu nữa. Chỉ xin kể một tác phẩm của một tác giả trẻ đang cần được hỗ trợ để xuất bản: cuốn tiểu thuyết "Người lính đào hoa" của anh Nguyễn Việt, dày khoảng 600 trang với đề tài là cuộc chiến đấu trên chiến trường Trị Thiên. Hoặc như của anh Dương Thành Vũ: một tập truyện ngắn, ba cuốn truyện dài, một truyện phim... đã hoàn thành đang chờ được xuất bản. Muốn biết tác phẩm nào "có giá trị cao" thì phải đọc hàng chồng bản thảo dày, chứ không thể căn cứ vào tên tác giả và tác phẩm mà phán quyết.
Một việc quả là tốn nhiều công sức và phức tạp nữa. Nhưng xin cứ giả định là chúng ta đã lập được một "danh mục" các công trình, tác phẩm "có giá trị cao", vấn đề đặt ra là mức đầu tư cho mỗi tác phẩm bao nhiêu thì xứng đáng và ai là người thật sự có quyền hạn ký lệnh cấp tiền cho văn nghệ sĩ, hỗ trợ họ hoàn thành hoặc công bố tác phẩm? Thú thật, tôi chưa tìm thấy câu trả lời rõ ràng và chắc chắn, về lý lẽ thì khoản đầu tư ấy chủ yếu lấy từ ngân sách Nhà nước, nhưng có người bảo: rút cục thì cũng tùy sự quan tâm và lòng tốt của người phụ trách ngành tài chính và chính quyền địa phương; có người lại bảo: còn tùy ở uy tín và tài thuyết phục của người đứng đầu tổ chức văn nghệ. Chuyện nghe như đùa vậy, nhưng hình như cũng có một phần sự thật. Chứng cớ là đã có việc, ông B. đi "xin" không được, nhưng ông A. "ra tay" là xong ngay! (Mà sao lại gọi là đi "xin", khi mà "Văn học nghệ thuật là bộ phận trọng yếu của nền văn hóa dân tộc" như NQ. 04 đã chỉ rõ?) Đã đành ở đời lòng tốt là rất quý, vai trò cá nhân là không thể xem thường, nhưng thực hiện một chính sách, một nghị quyết mà nếu chỉ dựa vào hảo tâm và uy tín của ông A, hay bà B. thì quả là... phấp phỏng và không bền. Nghị quyết 04 cũng đã yêu cầu "Thể chế hóa kịp thời những chủ trương, biện pháp nêu trong nghị quyết Trung ương", nên đề nghị hàng năm, trong các kỳ họp quyết định việc phân phối ngân sách cho các ngành, căn cứ vào thực lực và yêu cầu của đội ngũ văn nghệ sĩ, Hội đồng nhân dân sẽ quyết định dành cho hoạt động văn nghệ bao nhiêu phần trăm của tổng ngân sách. Trên cơ sở đó và căn cứ vào kết luận của Hội đồng nghệ thuật, việc đầu tư cho hoạt động văn nghệ mới có thể tiến hành thường xuyên, đúng đắn và có hiệu quả.
Thực ra, trong lĩnh vực văn nghệ, tất cả những cơ chế và chính sách dù hoàn chỉnh và đúng đắn đến đâu cũng không thể tạo ra tác phẩm có giá trị cao, nếu thiếu sự nỗ lực vượt bậc của bản thân đội ngũ văn nghệ sĩ. Nhưng trong tình hình mà cơ chế thị trường cùng nhiều khuynh hướng tiêu cực gây ra không ít khó khăn và nhiễu loạn trong hoạt động văn nghệ, thì một chính sách và cơ chế đúng đắn được ban hành kịp thời sẽ có ảnh hưởng rất quan trọng góp phần tạo ra nhiều tác phẩm "lành mạnh, phong phú, đa dạng, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về đời sống tinh thần của nhân dân" (NQ. 04).
N.K.P
(TCSH56/07&8-1993)
Tải mã QRCode
TRẦN THANH HÀTrong giới học thuật, Trương Đăng Dung được biết đến như một người làm lý luận thuần tuý. Bằng lao động âm thầm, cần mẫn Trương Đăng Dung đã đóng góp cho nền lý luận văn học hiện đại Việt đổi mới và bắt kịp nền lý luận văn học trên thế giới.
PHẠM XUÂN PHỤNG Chu Dịch có 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào. Riêng hai quẻ Bát Thuần Càn và Bát Thuần Khôn, mỗi quẻ có thêm một hào.
NGÔ ĐỨC TIẾNPhan Đăng Dư, thân phụ nhà cách mạng Phan Đăng Lưu là người họ Mạc, gốc Hải Dương. Đời Mạc Mậu Giang, con vua Mạc Phúc Nguyên lánh nạn vào Tràng Thành (nay là Hoa Thành, Yên Thành, Nghệ An) sinh cơ lập nghiệp ở đó, Phan Đăng Dư là hậu duệ đời thứ 14.
HỒ THẾ HÀLTS: Văn học Việt về đề tài chiến tranh là chủ đề của cuộc Toạ đàm văn học do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức ngày 20 tháng 12 năm 2005. Tuy tự giới hạn ở tính chất và phạm vi hẹp, nhưng Toạ đàm đã thu hút đông đảo giới văn nghệ sĩ, nhà giáo, trí thức ở Huế tham gia, đặc biệt là những nhà văn từng mặc áo lính ở chiến trường. Gần 20 tham luận gửi đến và hơn 10 ý kiến thảo luận, phát biểu trực tiếp ở Toạ đàm đã làm cho không khí học thuật và những vấn đề thực tiễn của sáng tạo văn học về đề tài chiến tranh trở nên cấp thiết và có ý nghĩa. Sông Hương trân trọng giới thiệu bài Tổng lược và 02 bài Tham luận đã trình bày ở cuộc Toạ đàm.
TRẦN HUYỀN SÂM1. Tại diễn đàn Nobel năm 2005, Harold Pinter đã dành gần trọn bài viết của mình cho vấn đề chiến tranh. Ông cho rằng, nghĩa vụ hàng đầu của một nghệ sĩ chân chính là góp phần làm rõ sự thật về chiến tranh: “Cái nghĩa vụ công dân cốt yếu nhất mà tất cả chúng ta đều phải thi hành là... quyết tâm dũng mãnh để xác định cho được sự thật thực tại...
NGUYỄN HỒNG DŨNG"HỘI CHỨNG VIỆT NAM"Trong lịch sử chiến tranh Mỹ, thì chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh mà người Mỹ bị sa lầy lâu nhất (1954-1975), và đã để lại những hậu quả nặng nề cho nước Mỹ. Hậu quả đó không chỉ là sự thất bại trong cuộc chiến, mà còn ở những di chứng kéo dài làm ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống Mỹ, mà người Mỹ gọi đó là "Hội chứng Việt Nam".
BÍCH THUNăm 2005, GS. Phong Lê vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học với cụm công trình: Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu (Nxb ĐHQG, H, 2001, 540 trang); Một số gương mặt văn chương - học thuật Việt hiện đại (Nxb GD, H, 2001, 450 trang); Văn học Việt hiện đại - lịch sử và lý luận (Nxb KHXH. H, 2003, 780 trang). Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học say mê, tâm huyết và cũng đầy khổ công, vất vả của một người sống tận tụy với nghề.
THÁI DOÃN HIỂU Trong hôn nhân, đàn bà lấy chồng là để vào đời, còn đàn ông cưới vợ là để thoát ra khỏi cuộc đời. Hôn nhân tốt đẹp tạo nên hạnh phúc thiên đường, còn hôn nhân trắc trở, đổ vỡ, gia đình thành bãi chiến trường. Tình yêu chân chính thanh hóa những tâm hồn hư hỏng và tình yêu xấu làm hư hỏng những linh hồn trinh trắng.
NGUYỄN THỊ MỸ LỘCLà người biết yêu và có chút văn hóa không ai không biết Romeo and Juliet của Shakespeare, vở kịch được sáng tác cách ngày nay vừa tròn 410 năm (1595 - 2005). Ngót bốn thế kỷ nay Romeo and Juliet được coi là biểu tượng của tình yêu. Ý nghĩa xã hội của tác phẩm đã được thừa nhận, giá trị thẩm mĩ đã được khám phá, hiệu ứng bi kịch đã được nghiền ngẫm... Liệu còn có gì để khám phá?
NGUYỄN VĂN HẠNH1. Từ nhiều năm nay, và bây giờ cũng vậy, chúng ta chủ trương xây dựng một nền văn nghệ mới ngang tầm thời đại, xứng đáng với tài năng của dân tộc, của đất nước.
HỒ THẾ HÀ(Tham luận đọc tại Hội thảo Tạp chí văn nghệ 6 tỉnh Bắc miền Trung)
LÊ GIA NINHNgày 10 tháng 10 năm 1955, Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bừng lên niềm vui, ngập trong cờ, hoa và nắng thu. Những chàng trai ngày “ra đi đầu không ngoảnh lại”, trải qua cuộc trường chinh ba ngàn ngày trở về trong niềm vui hân hoan và những dòng “nước mắt dành khi gặp mặt” (Nam Hà).
THANH TÙNGChống tham nhũng, đục khoét dân lành không chỉ là công việc của nhà chức trách mà còn ở tất cả mọi người dù ở chế độ xã hội nào. Các thi sĩ không chỉ làm thơ ca ngợi cuộc sống tình yêu, đất nước con người mà còn dùng ngọn bút thông qua nước thi phẩm của mình để lên án, vạch mặt bọn quan tham này.
NGÔ ĐỨC TIẾNTrong lịch sử các nhà khoa bảng ở Việt , ít có gia đình nào cả ba ông cháu, cha con đều đỗ Trạng nguyên. Đó là gia đình Trạng nguyên Hồ Tông Thốc ở Kẻ Cuồi, Tam Công, Thọ Thành, Yên Thành, Nghệ An.
PHẠM XUÂN NGUYÊN1. Trước hết ta phải bàn với nhau về chữ hay, tức thế nào là một tác phẩm hay. Bởi cái hay không bất biến trong không gian và thời gian, nó vận động và biến đổi tùy theo hoàn cảnh, với những tiêu chí cụ thể khác nhau.
TRẦN HUYỀN SÂMRuồng bỏ - Disgrace (1) là một cuốn tiểu thuyết mang phong cách giản dị. Nhưng đó là sự giản dị của một bậc thầy về thể loại roman. Giới lý luận văn học và các chính trị gia phương Tây (2) đã đặt ra những câu hỏi có tính hoài nghi. Điều gì ở cuốn sách có độ trang khiêm tốn này đã mang lại giải Nobel cho Coetzee: Vấn đề kỹ thuật tiểu thuyết, nỗi điếm nhục về nhân cách con người, hay là bi kịch lịch sử hậu Apartheid?
NGUYỄN THÀNHLịch sử phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX đánh dấu bởi nhiều khuynh hướng phê bình hiện đại: phê bình ấn tượng, phê bình phân tâm học, phê bình xã hội học, phê bình mác xít, phê bình thi pháp học...
TRẦN LỘC HÙNG“NỒI HƠI NGUYÊN TỬ” NGĂN NGỪA THẾ CHIẾN THỨ BAChuyện kể rằng sau cuộc thử nghiệm thành công của trái bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1949, cha đẻ của nó - Igor Vaxilevich Kurchatov - đã khóc nức nở.
HÀ VĂN THỊNHSố 7 là một con số huyền thoại. Nếu như tính xuất xứ xa nhất, công đầu về việc “tìm ra” số 7, thuộc về người Ai Cập, cách nay ít nhất 5.000 năm. Khi hiểu được rõ ràng việc con sông Nil chia làm 7 nhánh trước lúc đổ ra Địa Trung Hải, người Ai Cập vận “lý” để tin là nó nhất định phải hàm chứa nghĩa bí ẩn nào đó phản ánh cái “tư tưởng” triết lý của Đấng Tạo hóa.
TRẦN VIẾT THIỆNNăm 1987, người ta từ ngạc nhiên, ngỡ ngàng đến sững sờ trước sự trình làng của một cây bút đã vào độ tứ tuần. Tuổi bốn mươi lại là thời kỳ son sắt nhất của cây bút này, nói theo quan niệm của ông: “Đời viết văn cũng giống như đời người đàn bà”.