Để việc đầu tư cho hoạt động văn nghệ được thường xuyên, đúng đắn và có hiệu quả

15:03 02/06/2022


NGUYỄN KHẮC PHÊ

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê - Ảnh: tư liệu

Nghị quyết IV của Trung ương vừa ban hành, giới văn nghệ đã có trong tay bản chỉ thị của Chính phủ quy định những chế độ, biện pháp nhằm hỗ trợ những hoạt động văn học nghệ thuật. Cũng với tinh thần khẩn trương đưa nghị quyết vào cuộc sống, trong phiên họp đầu năm 1993, Ban Chấp hành Hội Văn nghệ TT - Huế đã đề ra một số chương trình hành động, trong đó có kế hoạch "Đầu tư trọng điểm những tác phẩm công trình có giá trị cao nhưng không có hoặc ít có khả năng đem lại doanh thu". (Trích NQ. 04). Chỉ sau phiên họp một thời gian ngắn, nhiều tác giả đã báo cáo về Hội những tác phẩm, công trình cần được đầu tư để hoàn thành hoặc có điều kiện giới thiệu với công chúng.

Tuy vậy, để thực hiện được những yêu cầu đó, tôi thấy vẫn còn không ít khó khăn, cần có những quy định, những cơ chế cụ thể hơn nữa.

Trước hết, đó là việc thẩm định giá trị tác phẩm (và cả "giá trị" tác giả nữa - trong trường hợp tác giả chưa viết một dòng nào, chỉ mỗi trình bày dự kiến). Làm sao để đánh giá đúng là "tác phẩm có giá trị cao", từ đó mới có căn cứ đầu tư xác đáng. Nếu không, tiền bạc của nhân dân sẽ bị lãng phí một cách vô ích. (Gần đây, trong dịp kỷ niệm 40 năm thành lập ngành điện ảnh, chúng ta được biết Nhà nước từng đầu tư hàng trăm triệu để làm một số phim, nhưng rút cục đã không tạo ra được "tác phẩm có giá trị cao") Tất nhiên, chúng ta không đòi hỏi tuyệt đối, vượt quá khả năng hiện có, nhưng để đánh giá đúng, cần phải thật sự dựa vào các hội đồng nghệ thuật - một tổ chức mà theo chỉ thị, nghị quyết của cấp trên thì lẽ ra chúng ta phải thành lập từ lâu. Một vấn đề liên quan cần phải chú trọng là việc thành lập hội đồng cũng như phương thức hoạt động của hội đồng cần có quy chế chặt chẽ, khoa học và công khai; như thế, quyết định của hội đồng mới có sức thuyết phục cao. Chúng ta đều biết việc đánh giá tác phẩm văn học nghệ thuật thường là không đồng nhất, thậm chí có khi trái ngược nhau, nên đạt được một quyết định có sức thuyết phục cao là không dễ dàng. Và cũng lắm công phu nữa. Chỉ xin kể một tác phẩm của một tác giả trẻ đang cần được hỗ trợ để xuất bản: cuốn tiểu thuyết "Người lính đào hoa" của anh Nguyễn Việt, dày khoảng 600 trang với đề tài là cuộc chiến đấu trên chiến trường Trị Thiên. Hoặc như của anh Dương Thành Vũ: một tập truyện ngắn, ba cuốn truyện dài, một truyện phim... đã hoàn thành đang chờ được xuất bản. Muốn biết tác phẩm nào "có giá trị cao" thì phải đọc hàng chồng bản thảo dày, chứ không thể căn cứ vào tên tác giả và tác phẩm mà phán quyết.

Một việc quả là tốn nhiều công sức và phức tạp nữa. Nhưng xin cứ giả định là chúng ta đã lập được một "danh mục" các công trình, tác phẩm "có giá trị cao", vấn đề đặt ra là mức đầu tư cho mỗi tác phẩm bao nhiêu thì xứng đáng và ai là người thật sự có quyền hạn ký lệnh cấp tiền cho văn nghệ sĩ, hỗ trợ họ hoàn thành hoặc công bố tác phẩm? Thú thật, tôi chưa tìm thấy câu trả lời rõ ràng và chắc chắn, về lý lẽ thì khoản đầu tư ấy chủ yếu lấy từ ngân sách Nhà nước, nhưng có người bảo: rút cục thì cũng tùy sự quan tâm và lòng tốt của người phụ trách ngành tài chính và chính quyền địa phương; có người lại bảo: còn tùy ở uy tín và tài thuyết phục của người đứng đầu tổ chức văn nghệ. Chuyện nghe như đùa vậy, nhưng hình như cũng có một phần sự thật. Chứng cớ là đã có việc, ông B. đi "xin" không được, nhưng ông A. "ra tay" là xong ngay! (Mà sao lại gọi là đi "xin", khi mà "Văn học nghệ thuật là bộ phận trọng yếu của nền văn hóa dân tộc" như NQ. 04 đã chỉ rõ?) Đã đành ở đời lòng tốt là rất quý, vai trò cá nhân là không thể xem thường, nhưng thực hiện một chính sách, một nghị quyết mà nếu chỉ dựa vào hảo tâm và uy tín của ông A, hay bà B. thì quả là... phấp phỏng và không bền. Nghị quyết 04 cũng đã yêu cầu "Thể chế hóa kịp thời những chủ trương, biện pháp nêu trong nghị quyết Trung ương", nên đề nghị hàng năm, trong các kỳ họp quyết định việc phân phối ngân sách cho các ngành, căn cứ vào thực lực và yêu cầu của đội ngũ văn nghệ sĩ, Hội đồng nhân dân sẽ quyết định dành cho hoạt động văn nghệ bao nhiêu phần trăm của tổng ngân sách. Trên cơ sở đó và căn cứ vào kết luận của Hội đồng nghệ thuật, việc đầu tư cho hoạt động văn nghệ mới có thể tiến hành thường xuyên, đúng đắn và có hiệu quả.

Thực ra, trong lĩnh vực văn nghệ, tất cả những cơ chế và chính sách dù hoàn chỉnh và đúng đắn đến đâu cũng không thể tạo ra tác phẩm có giá trị cao, nếu thiếu sự nỗ lực vượt bậc của bản thân đội ngũ văn nghệ sĩ. Nhưng trong tình hình mà cơ chế thị trường cùng nhiều khuynh hướng tiêu cực gây ra không ít khó khăn và nhiễu loạn trong hoạt động văn nghệ, thì một chính sách và cơ chế đúng đắn được ban hành kịp thời sẽ có ảnh hưởng rất quan trọng góp phần tạo ra nhiều tác phẩm "lành mạnh, phong phú, đa dạng, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về đời sống tinh thần của nhân dân" (NQ. 04).

N.K.P
(TCSH56/07&8-1993)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN HỮU LỄ

    ...Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ (1914 - 1987), quê ở xã Văn Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế trong một gia đình hoàng tộc. Bằng con đường tự học, Tôn Thất Dương Kỵ đã trở thành một nhà nghiên cứu lịch sử, một nhà giáo, đồng thời là một trí thức yêu nước, một chiến sĩ cách mạng…

  • TRẦN ĐÌNH SỬ - LÃ NGUYÊN

    (Nhân bài báo của Ngô Tự Lập Đọc sách “Lột mặt nạ Bakhtin - câu chuyện về một kẻ lừa dối, một chuyện bịp bơm và một cơn mê sảng tập thểcủa Jean - Paul Bronckart và Cristian Bota (Thụy Sĩ, 2011, 630 trang))

  • DƯƠNG PHƯỚC THU (Sưu tầm, giới thiệu) 

    LGT: Đã từng có một cuộc xướng họa thơ trên báo với số lượng người tham gia đông kỷ lục; 1324 lượt tác giả với 1699 bài họa. Dưới đây, Sông Hương xin giới thiệu lại Vườn thơ đoàn kết do Báo Cứu Quốc - nay là Báo Đại Đoàn Kết tổ chức xướng họa thơ cách đây đã 43 năm.

  • LTS: Có một chuyện ít người biết là các nhà văn Tô Hoài, Xuân Diệu, Huy Cận không nhớ ngày sinh của mình. Xuân Diệu, con nhà Nho, thì biết mình sinh giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn, năm Thìn, nhưng không biết dương lịch ngày nào. Nhà văn Tô Hoài cũng vậy, nhưng nhớ Bà Cụ cho biết sinh ông đêm rằm Trung Thu. Sau này, sang Nga, bạn người Nga hỏi, mới tra ra ngày Tây là 27-9-1920.

  • LÊ DỤC TÚ

    “Chủ nghĩa nhân văn tôn giáo cũng là một nguồn cảm hứng của văn nghệ, đồng cảm với con người nhân đạo trong văn chương”...

  • MAI VĂN HOAN

    Ngôn ngữ nói chung và chữ tôi nói riêng, khi bước vào tác phẩm văn học cũng có số phận thăng trầm liên quan mật thiết đến những thăng trầm của lịch sử nước nhà. Tìm hiểu chữ tôi trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam là một đề tài khá lý thú. Ở bài viết này, tôi chỉ đi sâu khảo sát chữ tôi được thiên tài Nguyễn Du sử dụng trong tác phẩm Truyện Kiều.

  • NGÔ MINH

    Bản lĩnh văn hóa là cuốn sách gồm các bài báo và tiểu luận của nhà văn Tô Nhuận Vỹ do Nxb. Tri thức ấn hành năm 2014. Tôi đọc một mạch với sự xúc động và hứng khởi.

  • LÝ HOÀI THU

    Thôn ca (1944) của Đoàn Văn Cừ là bức tranh thơ sống động về con người và cảnh vật của không gian văn hóa Sơn Nam - Bắc Bộ.

  • NGUYỄN ĐỨC DƯƠNG

    Độc giả trẻ thời nay không ít người sẽ hết sức ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng Truyện Kiều, thiên tiểu thuyết bằng thơ dài tới 3.254 câu với cả thảy 22.778 lượt dùng từ, nhưng lại chẳng hề có qua một chữ NẾU nào, tuy rằng nghĩa “ĐIỀU KIỆN” và/hay “GIẢ ĐỊNH”, vốn được diễn đạt bằng NẾU (hoặc các biểu thức ngôn từ tương đương) trong tiếng Việt đương đại là một trong những nghĩa phổ quát (tức mọi thứ tiếng đều có) và ít thấy một thứ tiếng nào lại vắng các phương tiện riêng để biểu thị.

  • ĐINH VĂN TUẤN

    Trong số mấy bài thơ chữ Nôm còn lại của Bà Huyện Thanh Quan, bài thơ “Qua Đèo Ngang” là bài thơ gần đây được tranh luận nhiều nhất về chữ nghĩa, đặc biệt là về từ ngữ “cái gia gia”(1).

  • KHẾ IÊM

    Tựa đề về cái chết của hậu hiện đại không có gì mới vì đã có khá nhiều bài viết bàn về vấn đề này, từ những đầu thập niên 1990. Nhưng bài viết đã phác họa cho chúng ta thấy đời sống văn hóa trong thời đại sau chủ nghĩa hậu hiện đại với sự xuất hiện những phương tiện công nghệ mới. Lạc quan hay bi quan, chúng ta chưa biết, nhưng rõ ràng những hệ tư tưởng cũ đang dần dần bị tàn phai nơi những thế hệ mới.

  • ALAN KIRBY

    LTS: Alan Kirby nói chủ nghĩa hậu hiện đại đã chết và đã được chôn. Tới thế chỗ của nó là một hệ hình mới của thẩm quyền và kiến thức được hình thành dưới áp lực của những công nghệ mới và các lực lượng xã hội đương đại. Tựa đề bài tiểu luận, lần đầu tiên xuất hiện trên tạp chí Philosophy Now (Triết học Bây giờ) ở Anh, số 58, năm 2006, và sau đó được in trong cuốn “Digimodernism: How New Technologies Dismantle the Postmodern and Reconfigure Our Culture”, được Continuum xuất bản vào năm 2009.

  • LÊ QUỐC HIẾU

    Trong các bộ phận của khoa nghiên cứu văn học Việt Nam hiện nay, không thể phủ nhận lý luận, phê bình là lĩnh vực có nhiều thay đổi rõ rệt. Một loạt những công trình nghiên cứu lịch sử lí luận, phê bình văn học “trình làng” trong những năm qua[1], đủ để nhận thấy tham vọng khái quát, đánh giá của các nhà nghiên cứu sau mỗi chặng đường phát triển của văn học.

  • THÁI KIM LAN
    I.
    Bài viết này được mở đầu bằng một trải nghiệm tự thân, từ chỗ đứng của chủ thể thực hành nói ra kinh nghiệm của mình, vì thế có thể gây ấn tượng về tính chủ quan. Sự trách cứ ấy xin nhận lãnh trước, nhưng xin được tạm thời để trong dấu ngoặc.

  • LUÂN NGUYỄN

    Nhất đình sơn vũ luyện hoa khai
                 (Mộ xuân tức sự - Nguyễn Trãi)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ

    (Trích tham luận tại Hội thảo "Văn học trước yêu cầu đổi mới" tháng 12-1987)

  • BỬU CHỈ

    Đã từ lâu tôi vẫn nghĩ và tin rằng: quê hương của nghệ thuật là Tự Do, và nghệ thuật đích thực phải thoát thai từ những con người sáng tạo có đầy đủ quyền làm người, cùng tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội của họ; và lớn hơn nữa là đối với con người.

  • LÊ QUANG THÁI

    Năm Quý Tỵ đã trôi qua, Xuân Giáp Ngọ đã về:
    Rắn trườn đã hết năm,/ Ngựa hay đưa Xuân về.(1)

  • ĐỖ LAI THÚY

    Kìa ai chín suối xương không nát
    Ắt hẳn nghìn thu tiếng vẫn còn
                   
    (Nguyễn Khuyến)