VIỆT HÙNG
Văn hóa là một khái niệm rộng, nó bao trùm lên mọi hoạt động của con người trong xã hội. Văn hóa không những phản ánh được quan hệ giữa con người với con người, mà nó còn phản ánh được thế giới nội tâm của con người, và cả sự hòa hợp giữa thế giới nội tâm ấy với biểu hiện của nó ra bên ngoài xã hội.
Rạp Hưng Đạo ngày xưa, nay là Nhà Văn hóa thành phố Huế
Văn hóa là sự giao thoa giữa tính chủ thể với tính khách thể của mỗi cá nhân. Thông thường, cái bị coi là phản văn hóa cũng là cái bị xem như không phù hợp với tiến bộ của xã hội. Trong văn hóa bao gồm có văn hóa nghệ thuật, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa đạo đức, văn hóa lối sống, văn hóa gia đình, văn hóa pháp luật, văn hóa giáo dục, văn hóa thông tin, văn hóa môi trường và sinh thái... Từ đó ta có thể nói bất cứ một lãnh vực nào của con người cũng cần có văn hóa.
Trong văn hóa thì văn hóa nghệ thuật đóng một vai trò quan trọng bởi nó có sức chi phối mạnh đến tính thẩm mỹ, tính đạo đức, lối sống, tính pháp luật, tính gia đình, tính giáo dục nói chung... của con người. Văn hóa nghệ thuật có sức lay động cả một nền tảng đạo đức xã hội. Một bộ phim tràn đầy tính nhân ái sẽ giúp con người tự soi xét bản thân để sống đẹp hơn lên. Một bức tranh hồn nhiên, trong sáng làm người xem thêm yêu đời. Một cuốn tiểu thuyết ca ngợi lối sống có trách nhiệm của cá nhân trước xã hội, hoặc phê phán có trách nhiệm với những thói hư, tật xấu của con người làm người đọc thêm tự tin, dũng cảm, có bản lĩnh trước cuộc sống. Vậy có thể nói, những tác phẩm nghệ thuật làm hạ thấp tính thẩm mỹ của con người là những giá trị phản văn hóa. Trong trào lưu tiến bộ xã hội, sự sáng tạo của người nghệ sĩ đóng vai trò rất quan trọng, nó góp phần rất lớn tạo nên cái nền tảng đạo đức của xã hội ấy. Văn hóa nghệ thuật ngoài chức năng hướng con người về cái chân - thiện - mỹ (nhận thức - giáo dục - thẩm mỹ) nó còn có những chức năng: dự báo, sáng tạo, khám phá, giao tiếp ứng xử, truyền cảm, đạo đức... chức năng giải trí cân bằng đời sống trí tuệ và tâm linh và cả chức năng tự biểu hiện mình của người nghệ sĩ.
Với quan hệ quốc tế đa phương hóa, đa diện hóa như hiện nay của Việt Nam, việc giao lưu văn hóa của ta không còn bị đóng khung trong một hệ ý thức thuần túy như trước đây, mà là sự giao lưu với nhiều hệ tư tưởng, nhiều chế độ chính trị, nhiều trào lưu, khuynh hướng nghệ thuật khác nhau của thế giới. Từ đó càng có điều kiện để so sánh giữa ta và họ để tìm thấy những qui luật phổ biến, những tiếng nói chung của nhân loại, đồng thời cũng có điều kiện đánh giá chính xác những yếu tố đặc thù của văn hóa dân tộc, nhìn rõ cái thực chất văn hóa của ta để biết tiếp thu những gì có lợi cho sự phát triển một nền văn hóa có định hướng, có mục tiêu rõ ràng; bên cạnh đó phải loại bỏ kịp thời những yếu tố phản văn hóa có hại cho các giá trị thẩm mỹ và nhân văn.
Trong bối cảnh mở rộng giao lưu văn hóa, nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật của quần chúng, nhất là thanh niên có nhiều sự thay đổi cơ bản về giá trị, chắc chắn khác biệt nhiều so với khoảng mười lăm năm về trước. Theo số liệu điều tra xã hội học của Ủy ban Thanh niên Việt Nam thì quan niệm của thanh niên (gồm thanh niên, công nhân, nông dân, sinh viên, học sinh) về giá trị các loại hình nghệ thuật được yêu thích hiện nay(1):
- Phim tâm lý xã hội: 61,7%
- Ca nhạc Việt Nam: 35,9%
- Cải lương: 35,0%
- Ca nhạc quốc tế: 20,7%
- Phim chiến tranh cách mạng: 11,5%
- Chèo: 4,3%
- Tuồng: 2,4%
Nhìn bảng trên, ta thấy phim tâm lý xã hội có lẽ thời nào cũng được nhiều thanh niên ưa thích, vì nó thường kết hợp được cả yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại. Ngoài ca nhạc Việt Nam và cải lương thì ca nhạc quốc tế tương đối cũng có nhiều thanh niên ưa thích, nhưng phim chiến tranh cách mạng sở thích lại ít và đặc biệt là các loại hình nghệ thuật cổ truyền như tuồng, chèo thì quá ít thanh niên ưa thích. Điều này đặt ra vấn đề là các loại hình nghệ thuật cổ truyền cần được cách tân để bắt kịp trào lưu sân khấu hiện đại.
Cũng là trong thanh niên, nhưng giữa thanh niên sinh viên với thanh niên công nhân, nông dân lại có sự khác biệt rất nhiều về quan niệm yêu thích các loại hình nghệ thuật(2):
- Ca nhạc quốc tế: 54,8% (SV) và 9,4% (CN, ND)
- Cải lương: 17,3% - và 43,3% -
- Phim chiến tranh cách mạng: 3,25% - và 16,2% -
- Thơ: 23,2% - và 6,7% -
Ở đây ta không thể đơn giản kết luận một chiều về tính thẩm mỹ khi nhìn nhận giá trị của từng loại hình nghệ thuật giữa sinh viên với công nhân, nông dân, ai cao hơn ai bởi mỗi bộ môn nghệ thuật có một giá trị riêng biệt. Quan niệm về các giá trị nghệ thuật như trên biểu hiện một quá trình biến đổi tâm lý rất phức tạp trong thanh niên - lớp người luôn nhạy cảm và ưa thích cái mới lạ, đặc biệt là sinh viên, học sinh. Do vậy trong quá trình giao lưu văn hóa, những cái từ ngoài đưa vào chắc chắn sẽ được lớp thanh niên hấp thụ trước và cũng gây ảnh hưởng xáo trộn tư tưởng mạnh nhất ở lớp này vì họ là những người thường chưa có sự định hình rõ nét về tâm lý.
Trong giao lưu văn hóa như hiện nay, Việt Nam có điều kiện để phóng tầm nhìn của mình ra nhiều quốc gia, cái lợi thì nhiều, nhưng cái hại cũng chẳng ít. Vấn đề đặt ra là phải tạo được những phương thức giao lưu thích hợp, hòa nhập được với các nền văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới, nhưng vẫn bảo đảm sự phát triển văn hóa Việt Nam có một bản sắc riêng. Đó là việc chẳng dễ dàng gì và không cẩn thận sẽ gặp rất nhiều mâu thuẫn.
Hiện nay ở một số người có sự biểu lộ tâm lý tự ty, mặc cảm, sùng ngoại quá đáng đã nhắm mắt tiếp thu bất cứ loại văn hóa nào từ ngoài dội vào. Đó chính là điều kiện để cho các tác phẩm nghệ thuật kém chất lượng du nhập ào ạt vào nước ta. Đã kém chất lượng nghệ thuật thì chẳng những không góp phần hình thành, thúc đẩy các giá trị đạo đức mới mà trái lại tạo điều kiện cho cái ác, cái bất lương phát triển, chà đạp lên những nét đẹp truyền thống của dân tộc.
Chỉ tính riêng ở Thừa Thiên Huế trong mấy năm gần đây, số lượng các ấn phẩm văn hóa độc hại (còn được coi là ấn phẩm phản văn hóa) du nhập từ nước ngoài vào bằng những con đường bất hợp pháp có chiều hướng gia tăng. Năm 1994, Sở Văn hóa thông tin phối hợp với Công an bảo vệ văn hóa đã tiến hành kiểm tra và thu giữ hơn 5.000 ấn phẩm thuộc loại này. Chúng được du nhập vào bằng các con đường như từ hành lý của khách du lịch nước ngoài, Việt Kiều về thăm quê hương, bưu phẩm, bưu kiện từ nước ngoài gửi về lọt được mắt kiểm tra của hải quan, người Việt Nam đi công tác, du lịch, tham quan nước ngoài đem về... Hết 80% số trên là băng hình kích thích tình dục, bạo lực, kinh dị, tuyên truyền cho lối sống bản năng, tự do, buông thả. Có trên 1.000 bản sách gồm các loại sách bói toán, báo ảnh khiêu dâm, sách báo đồi trụy, sách có nội dung bôi xấu chế độ. Đó mới chỉ là những con số nằm trong vòng kiểm soát được của các cơ quan quản lý văn hóa, số đang lưu hành âm thầm, bí mật trong xã hội chắc chắn còn lớn hơn. Tình trạng tội phạm, tệ nạn xã hội đen ngày một gia tăng, một nguyên nhân quan trọng chính là từ sự tác động của các sản phẩm văn hóa độc hại nói trên.
Cũng trong mấy năm gần đây ở Thừa Thiên Huế, theo số liệu của phòng xuất nhập cảnh Công An tỉnh, thì lượng khách nước ngoài đến Huế cứ năm sau cao gấp đôi năm trước. Riêng 6 tháng đầu năm 1995 đã có 41.191 người nước ngoài và 2.100 Việt kiều đến Huế với nhiều mục đích khác nhau, trong đó không ít trường hợp cố ý vi phạm thủ tục xuất nhập cảnh hoặc hoạt động trái mục đích nhập cảnh. Việc số lượng du khách nước ngoài ngày một gia tăng như trên là điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển, nhưng cũng là một thách thức nặng nề cho việc giữ gìn sự ổn định về chính trị và văn hóa của đất nước.
Sự du nhập ào ạt, thiếu chọn lọc từ nước ngoài vào các sản phẩm nghệ thuật rẻ tiền, ngoài việc làm giảm tính thẩm mỹ trong hưởng thụ nghệ thuật của nhân dân nói chung, nó còn tác động rất mạnh đến tâm lý sáng tạo của những nghệ sĩ trong nước, làm lung lay, chao đảo nguồn mỹ cảm truyền thống. Tuy vậy vẫn có nhiều nghệ sĩ ngày đêm miệt mài khám phá, thể nghiệm những cái mới lạ trong sáng tạo, họ đã không tiếc sức mình để đi tìm cái đẹp trong cuộc sống, hoặc thẳng thắn phê phán có trách nhiệm trước những cái xấu, cái tiêu cực cũng chỉ với mục đích xây dựng một xã hội hoàn thiện hơn, có văn hóa hơn. Điều ấy quả đáng trân trọng. Bên cạnh đó, không ít nghệ sĩ bị thương mại hóa nghệ thuật đã "uốn cong ngòi bút" cho ra đời những tác phẩm kích thích bạo lực, hoặc những chuyện tình dục rẻ tiền, bôi bác, hoặc đầy dẫy cái xấu xa, tội ác... một màu đen vô vọng và bế tắc. Những tác phẩm này ngoài việc làm cho người đọc giảm đi niềm tin với cuộc sống, làm băng hoại đạo đức, lối sống con người mà bản thân người nghệ sĩ cũng tự đánh mất đi cái danh hiệu cao quí mà người đời đã phong tặng cho họ.
Trong trào lưu sáng tạo hiện nay, người nghệ sĩ được giao du rộng hơn, được tiếp cận với nhiều khuynh hướng nghệ thuật khác nhau. Điều ấy góp phần mở rộng tư duy sáng tạo, nhưng cũng là một thử thách rất lớn, đòi hỏi người nghệ sĩ phải có bản lĩnh và tỏ rõ trách nhiệm của mình trước thời đại. Tỉnh táo trong giao lưu nghệ thuật là điều rất quan trọng. Phải "phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc, đồng thời hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ của thế giới"(3).
Việc để cho các tác phẩm văn học nghệ thuật kém chất lượng phát hành đến tay bạn đọc, trách nhiệm chính thuộc về các nhà xuất bản. Từ việc dịch sách thiếu chọn lọc, đến việc duyệt chất lượng nghệ thuật qua loa trước khi cấp giấy phép xuất bản, thậm chí có nơi còn cho in lại các tác phẩm đồi trụy của chế độ cũ là những nguyên nhân. Trong lúc có nhiều tác phẩm văn học có giá trị không ra mắt được bạn đọc vì thiếu sự tài trợ thích đáng.
Tài năng nghệ thuật là tài sản quý nhất của đất nước, cần phải được chăm sóc, đối xử đặc biệt. Những tài năng thật sự cần được gìn giữ và đánh giá đúng mức. Ngược lại, những người lạm dụng nghệ thuật, biến nghệ thuật thành trò chơi phi nhân bản phải bị kịp thời phê phán. "Cần khắc phục tình trạng can thiệp thô bạo, tùy tiện, xâm phạm quyền tự do, dân chủ của văn nghệ sĩ trong sáng tạo và hoạt động văn hóa văn nghệ" (chỉ thị 61- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương).
Vậy, việc đánh giá chất lượng một tác phẩm nghệ thuật cần có sự thẩm định chính xác của hội đồng nghệ thuật, tránh tình trạng tùy tiện, cấm đoán, cắt xén, thêm bớt tác phẩm của văn nghệ sĩ mà không thông qua sự thẩm định của giới chuyên môn. Một tác phẩm phản động là tác phẩm gây ra hiệu quả kích động chống đối Đảng, Nhà nước, tuyên truyền âm mưu của các lực lượng thù địch làm mất ổn định chính trị, kích động lật đổ chế độ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Một tác phẩm đồi trụy thường là tác phẩm mở đường cho các hành động dâm ô, tội ác được tự do tung hoành, coi các hành động trên là mục đích sáng tạo. Ngược lại nhiều bức tranh khỏa thân được đánh giá cao về nghệ thuật, bởi người sáng tạo chỉ lấy đó làm phương tiện trong sự hành trình tìm về cái đẹp. Có những tác phẩm không hề mô tả việc tình dục, chém giết nhau, nhưng lại cổ vũ cho những hành động vi phạm luân thường đạo lý, chà đạp thuần phong mỹ tục, những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống con người, làm suy đồi đạo đức xã hội đều bị coi là những tác phẩm đồi trụy.
Nếu cứ để tình trạng nghệ thuật bị thương mại hóa sẽ tạo ra một kiểu văn hóa thực dụng. Sự xuất hiện tràn lan các tác phẩm nghệ thuật rẻ tiền, chạy theo thị hiếu tầm thường, hoặc lai căng, xa lạ với đời sống hiện nay của nhân dân, chắc chắn sẽ làm mất dần ý thức phát triển văn hóa dân tộc, và sẽ không còn lấy gì làm cơ sở để giao lưu văn hóa với các quốc gia khác.
Giá trị truyền thống là của quý dân tộc, là niềm tự hào cho bao thế hệ con người Việt Nam, cần được gìn giữ đồng thời phải được phát triển, nếu không chỉ còn là cái đẹp dĩ vãng, ít có tác dụng thực tiễn. Trong quá trình chuyển đổi, phải kết hợp được cả cũ lẫn mới trên cơ sở đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Tiếp thu tiến bộ mới của nhân loại, cần phải đồng hóa được những yếu tố mới ấy nhập vào bản sắc của dân tộc mình.
Chắt lọc được cái đẹp của nghệ thuật, để xây dựng được một nền nghệ thuật vừa lành, vừa mạnh, ngày một nâng cao tính thẩm mỹ cho nhân dân. Đó chính là động lực để thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội về mọi mặt.
V.H
(TCSH79/09-1995)
-------------------------------
1, 2. Tham khảo số liệu từ bài "Sự biến đổi một số giá trị cơ bản của thanh niên hiện nay" của Trần Xuân Vinh, Tạp chí Triết học số 1. 1995.
3. Hồ Chí Minh - Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, trang 394.
Tải mã QRCode
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.
1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.
Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.
Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).
*Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.
Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...
Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.
I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.
Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.
Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.
I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.
Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.
Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.
Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...
Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.
Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...
Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.