Đau đáu tấc lòng trước nền văn học dài trên bảy trăm năm

14:45 17/10/2011
(Lược thuật Hội thảo “Giá trị văn học Thừa Thiên Huế - những định hướng bảo tồn)

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm phát biểu tại Hội thảo

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

Huế của ngày 17.9.2011 trời nắng đẹp, vàng tươi và ấm mát. Hình như lâu lắm rồi Huế mới có những ngày thu sang đúng nghĩa. Nhưng cái ý nghĩa nhất của vùng đất này trong cái ngày hôm ấy, không phải là từ cái nền nã của thiên nhiên, không phải là từ niềm vui của ai nào đó được tổ chức đón nhận, mà từ sự lặng lẽ của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Huế. Vì sao vậy? Vì họ cùng về với nhau ở 26 Lê Lợi - Huế để bàn luận một câu chuyện: “Giá trị văn học Thừa Thiên Huế - những định hướng bảo tồn”. Mục tiêu của câu chuyện là đánh giá các giá trị văn học Huế suốt chiều dài trên 700 năm, để từ đó có những khởi động bước đầu để kiến nghị xây dựng bảo tàng văn học. Nói như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đây là vấn đề rất lớn, lần đầu tiên được thực hiện, bởi lâu nay chưa ai nghĩ nhiều về văn học Thừa Thiên Huế.

Phải nói là từ xưa đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn học xứ Huế, nhưng để có cái nhìn tổng thể xuyên suốt hơn bảy trăm năm, kể từ khi Huyền Trân Công Chúa bước chân xuống thuyền “đền nợ Ô Ly” (1306) cho đến nay: Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế, thì chưa hề có một công trình nào chuyển tải cho thật đầy đủ. Vì vậy việc đánh giá các giá trị của nền văn học xứ Huế, từ đó làm cơ sở cho định hướng bảo tồn các giá trị đó vẫn luôn đau đáu trong mỗi nhà văn Huế. Và bây giờ, hội thảo này được thực hiện, 11 tham luận đã gửi đến, với hai mảng đề tài gắn kết: giá trị của văn học Huế và giải pháp xây dựng bảo tàng văn học Huế.

Một số tham luận đã đề cập đến các giá trị của nền văn học Thừa Thiên Huế một cách toàn diện và sâu sắc. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm với tham luận “Bước đầu tìm hiểu văn học Thừa Thiên Huế” (xem bài ở Sông Hương số 271, tháng 9.2011) đã đưa ra một nhận định rất quan trọng: Thừa Thiên Huế là một trong ba trung tâm văn hóa và văn học của cả nước, cùng với Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc trong tham luận “Những nét nổi bật của văn học Thừa Thiên Huế” đã nhận xét: Nền văn học Thừa Thiên Huế có hai đặc tính quan trọng bao trùm: tính bác học và tính tiên phong. Tham luận đồng thời chỉ ra 9 đặc điểm nổi bật của nền văn học: 1. Vùng đất Thuận Hóa có nền văn học viết với khởi điểm đầy chất bác học; 2. Phú Xuân một thời là trung tâm văn học chữ Nôm của Việt Nam; 3. Phú Xuân thời Nguyễn là trung tâm văn học với sự tập trung nhân tài cả nước và nổi bật với sắc thái văn học hoàng tộc; 4. Cùng với dòng chảy lịch sử, nền văn học Huế có sự đóng góp của các nhà yêu nước, các nhà cách mạng lỗi lạc (Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Tố Hữu); 5. Huế là nơi đặt nền tảng cho lý luận văn học cách mạng; 6. Huế là nơi khởi phát nhiều trào lưu sáng tác mới và có những tác phẩm đỉnh cao: nơi Nguyễn Du viết Truyện Kiều; Thơ mới, thơ siêu thực phát triển...; 7. Huế là nơi xuất phát của văn học đấu tranh đô thị miền Nam; 8. Đặc biệt, các nhà văn nữ phá bỏ rào cản để viết nên những trang viết giải phóng sự ràng buộc tư tưởng; 9. Trong thời kỳ đổi mới, Huế là địa phương có nền văn học luôn đi đầu trong việc ủng hộ những khuynh hướng sáng tạo mới. Nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lưu với tham luận “Thành tựu của thời kỳ văn học cổ điển ở Thừa Thiên Huế” đã đi sâu nghiên cứu các giai đoạn phát triển của văn học Thuận Hóa - Phú Xuân, từ 1306 đến 1919 là năm nhà nước bảo hộ Pháp bãi bỏ khoa cử ở miền Trung. Đây là một công trình nghiên cứu công phu và cung cấp nhiều tư liệu có giá trị. Nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh với tham luận “Văn học Thừa Thiên Huế, giá trị và di sản vật chất” cũng chỉ ra những nét tiêu biểu của văn học Thừa Thiên Huế đồng thời đưa ra một số đề nghị mới cho việc sưu tầm hiện vật liên quan đến nền văn học. Về các giá trị nổi bật, có một số ý kiến bổ sung: Huế có nền văn học Tuồng phong phú nhất; Huế là vùng đất có dòng văn học Thiền phát triển; Huế là nơi có nền văn học dịch nổi tiếng với các dịch giả Bửu Kế, Ưng Quả, Bửu Ý; Huế có những tác giả nổi tiếng ở nước ngoài.

Các tham luận khác tập trung cho vấn đề mà giới văn nghệ sỹ đau đáu: Bảo tàng cho văn học Huế. Về lý do bức thiết của việc phải có bảo tàng văn học Huế, Phó Giáo sư - tiến sỹ Hồ Thế Hà trong tham luận “Ý kiến nhỏ về một dự án lớn” đã đặt vấn đề: “Trước hết, cần khẳng định rằng đây là ý tưởng và động thái mang tâm thức văn hóa, thể hiện tinh thần mỹ học nhân văn cao cả của văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế, phù hợp với ước vọng của Đảng và Nhân dân... Danh sách văn nghệ sĩ Huế tiêu biểu cho tất cả các loại hình nghệ thuật từ trước đến nay, không phải hàng trăm mà là hàng ngàn... Nhưng có một sự thật là những giá trị nghệ thuật mà họ lưu lại bằng mọi phương tiện và mọi chất liệu đặc thù cho đến ngày nay, rõ ràng là mọi người khó có thể biết và hình dung nổi. Bởi vì, chúng hiện hữu và tản mát ở mọi nơi, mọi miền; chúng trở thành sở hữu của cá nhân và tập thể, chưa kể, có những tác phẩm bị đánh cắp, bị tổn thất do thiên tai, do chiến tranh, do con người hờ hững đánh rơi… Từ những thực tế và hiện trạng như trên, đã đến lúc con người hiện đại cần phải biết hoảng hốt và xa xót, cần phải biết nhận lỗi và tự thú. Và đã đến lúc cần đến tinh thần dân chủ và ý thức tự giác của con người để mọi thành quả và giá trị nghệ thuật Huế không bị mai một và lãng phí”. Nhà văn Nguyễn Khắc Phê không giấu nổi bức xúc trong tham luận “Một công trình không chỉ có ý nghĩa với Huế”. Những câu hỏi, những đối sánh của nhà văn trước các giá trị của văn học Huế càng trở nên có lý khi đó lại chính là mối day dứt của văn nghệ sĩ Huế lâu nay. Ví dụ sau khi nêu các giá trị lớn lao của văn học Huế, ông đặt vấn đề: “Ai cũng biết họa sĩ Lê Bá Đảng nổi tiếng thế giới, nhưng một mình ông được Tỉnh dành cho một tòa nhà đẹp, rộng lớn bên bờ sông Hương thì chẳng lẽ bao nhiêu là văn nhân nổi tiếng của Huế suốt mấy thế kỷ không xứng đáng có một nơi như thế?” Nhà văn cũng đưa ra các phương án: 1. Xây dựng bảo tàng ở 26 Lê Lợi, 2. Nếu không được thì có thể xây dựng ở hai ngôi biệt thự hiện là trụ sở UBND TP Huế; 3. Nếu không được nữa thì có thể kết hợp sử dụng công trình ở Thư viện Tỉnh.

Trong lúc nhà văn Nguyễn Khắc Phê sốt ruột thử “quy hoạch” địa điểm bảo tàng văn học nghệ thuật thì các nhà nghiên cứu khác cũng đi tìm các cách thức tổ chức sưu tầm hiện vật và cách thức tổ chức bảo tàng. Có một nội dung quan trọng được thảo luận và thống nhất khá nhanh là: Xây dựng Nhà lưu niệm văn nghệ sĩ hay Bảo tàng văn học nghệ thuật? Đa số các ý kiến tán đồng việc xây dựng bảo tàng bởi thiết chế bảo tàng mới thỏa đáng tầm vóc và quy mô các giá trị kho tàng văn học nghệ thuật trên bảy trăm năm mà vùng đất này đang có. Nhà văn Bửu Ý đề nghị, cần xác định ngay tên gọi để từ nay, mỗi khi nhắc đến việc này thì phải gọi đúng tên gọi của nó là Bảo tàng văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế.

Về cách thức sưu tầm, hệ thống hóa hiện vật. Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa đề nghị các tiêu chí: 1. Nhìn nhận văn học Huế có các đặc tính riêng, khuynh hướng, diện mạo riêng; 2. Xác định tác gia văn học Huế; 3. Thống nhất quan niệm về văn học và tác phẩm văn học, trong đó tiêu chuẩn chất lượng về tư tưởng và thẩm mỹ cần được ưu tiên xem xét; 4. Di sản văn học Huế là một thể thống nhất, chứa đựng nhiều sắc thái đa dạng của đời sống văn học trong từng thời kỳ lịch sử, không phân biệt theo thể chế chính trị; 5. Cần trình bày làm nổi bật các đặc trưng của từng thời kỳ, từng giai đoạn. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đề xuất Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế phải nhanh chóng viết cuốn “Sơ thảo lịch sử văn học Thừa Thiên Huế”. Nhà văn Tô Nhuận Vỹ cũng đề xuất thành lập Hội đồng khoa học trong quá trình hoàn thành “dự án” này... Với tham luận “Phác thảo nội dung trưng bày phần văn học tại Nhà lưu niệm Văn nghệ sĩ nhìn từ việc phân tích đánh giá nguồn hiện vật và khả năng sưu tầm”, nhà thơ - chuyên gia bảo tàng Nguyễn Phước Hải Trung đã đưa ra những khả năng tiềm tàng của việc sưu tầm hiện vật, phục chế, làm bản sao hiện vật và phác thảo cho định hướng nội dung trưng bày bảo tàng...

Đau đáu tấc lòng trước kho tàng những trang viết bảy trăm năm - đó là cảm nhận chung của những ai tham gia hội thảo này. Đã có những lo âu bởi việc xây dựng bảo tàng văn học nghệ thuật Huế là quá khó trong bối cảnh hiện nay, trong lúc đó lại luôn bùng cháy trong niềm mong đợi của văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế hằng mong đợi. Nhưng trên ý nghĩa tích cực, thì đây cũng là bước khởi đầu cho một hoạt động lớn, một vận động lớn của nền văn học do những trái tim và tri óc của những người tận hiến cho quê hương xứ sở vun đắp nên.

NGƯỜI SÔNG HƯƠNG
(272/10-11)







Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Cuộc đời và sự nghiệp của Văn Cao luôn là những bí ẩn đối với hậu thế. Ai sẽ là người dựng lên được một Văn Cao - một trong những tượng đài của dân tộc Việt Nam thế kỷ 20, nhưng cũng là một con người của cuộc đời thực với những vui buồn, đớn đau, hạnh phúc...?

  • NGUYỄN KHẮC PHÊLần này, tác giả bộ trường thiên tiểu thuyết viết về thời Tây Sơn - Nguyễn Huệ "Sông Côn mùa lũ" (SCML) trở lại thăm nơi vua Quang Trung lên ngôi khi Huế vừa sang thu. Nước sông Hương do những trận mưa đầu mùa trên đại ngàn cuốn đất bùn con đường lớn Trường Sơn vừa xẻ rộng tràn về, không còn trong xanh như dịp ông về thăm Huế mùa hè hai năm trước, nhưng Cố đô qua hai kỳ Festival, nhiều khu phố được tôn tạo, khang trang hơn nhiều. (*)

  • VĂN THAOTháng 10-1944, nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác bài hát Tiến quân ca trên một căn gác nhỏ tại số nhà 45 phố Nguyễn Thượng Hiền. Căn gác này cũng là nơi Văn Cao đã sống và hoạt động cách mạng từ năm 1944 đến ngày toàn quốc kháng chiến 22-12-1946. Đội danh dự Việt Minh do Văn Cao phụ trách cũng từ đây toả đi làm nhiệm vụ. Nhiều cán bộ cao cấp của Đảng như các đồng chí Vũ Quý, Lê Quang Đạo, Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Thành Lê... cũng đã thường xuyên dùng địa điểm này để hoạt động trong những năm đầu cách mạng. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của Văn Cao như: Bài thơ Chiếc xe gác qua phường Dạ Lạc; các ca khúc Chiến sĩ Việt Nam, Công nhân Việt Nam, Không quân Việt Nam, Hải quân Việt Nam đã ra đời tại đây.

  • VĨNH NGUYÊNHội VHNT Thừa Thiên Huế chủ trương đưa văn nghệ sĩ về bám sát thực tế địa phương, vùng sâu vùng xa, nên những năm gần đây đã liên tục mở trại sáng tác ở các huyện trong tỉnh. Các năm trước là Quảng Điền, Phú Vang, Hương Thuỷ và năm 2004 này là Phú Lộc.

  • PHAN THÀNH TRUNGMột ngày đẹp trời. Lễ mừng thọ cụ Nguyễn Hữu Đang 80 tuổi được tổ chức vui vẻ, trân trọng tại Chòi ngắm sóng Hồ Tây, đúng vào ngày kỷ niệm Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 năm 1992. Với danh nghĩa là em kết nghĩa của cụ Đang, Phùng Cung và Phùng Quán đã đứng ra tổ chức lễ thọ này. Hai nhà thơ vốn quen tính vui đùa dí dỏm đã gọi hóm là “Mừng sống dai”...

  • “Cụ Hồ Chí Minh được nhân dân rất quý mến. Tên cụ có nghĩa là “sáng suốt”. Cụ là một nhà chính trị xuất chúng, một nhà chiến lược Cách mạng, một người yêu nước nồng nàn. Cụ đã nêu gương chính nghĩa và đạo đức cho thế hệ thanh niên noi theo” (Nhà báo Mỹ - Starôbin)

  • NGUYỄN KHẮC PHÊNếu không có nghị lực hơn người, nhà giáo ưu tú - nhà nghiên cứu Văn Tâm đã bước sang thế giới khác từ 7- 8 năm trước rồi, sau cơn tai biến mạch máu não “thập tử nhất sinh”. Nhờ kiên trì tập luyện và đủ thứ thuốc men, từ bên “cửa tử”, dần dần anh đã “phục sinh” và với cây gậy ngắn để có thể tự đi lại trong nhà khi cần lục tìm tư liệu, cây bút nghiên cứu phê bình cẩn trọng mà không thiếu sự sắc sảo Văn Tâm đã cống hiến cho nền văn học chúng ta những tác phẩm dày dặn và thật sự có chất lượng: “Đoàn Phú Tứ - con người và tác phẩm” (1995, tái bản 2002), “Vườn khuya một mình” (2001), “Tản Đà khối mâu thuẫn lớn” (2003 - Tái bản, bổ sung). Một số bài nghiên cứu gần đây của anh về nhà văn Phùng Quán và nhà thơ Bằng Việt đăng trên “Sông Hương” cũng rất công phu, đồng thời vẫn thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận vẻ đẹp của văn chương.

  •        (Trích) Lê Mỹ Ý: Thưa ông, đã từng là "Người đi tìm mặt " trong thơ, đến bây giờ ông đã tìm được khuôn mặt của mình chưa?Hoàng Hưng: Tôi thấy rằng cái mặt của tôi, bản thân cái mặt đó nó cũng không phải là một cái mặt và cũng không phải là bất biến qua thời gian, ngay cả trong từng lúc nó cũng không chỉ là một cái mặt mà nó có đến vài cái mặt. Qua thời gian lại càng có sự diễn biến. Việc đi tìm cái mặt của bản thân thực ra có những người không bao giờ thấy cả, tức là không biết mình như thế nào.

  • Tháng 4 năm 1988, khi đang chữa bệnh ở chùa Pháp Hoa (Đồng Nai), trong một bức thư gửi bạn, nhà văn Nguyễn Minh Châu tâm sự rằng ông vẫn thèm viết tiếp một bài về vấn đề “Nhà văn và sự nghiệp dân chủ hóa đất nước” Nhưng rồi bệnh ngày càng nặng khiến ông cho đến khi qua đời đã không thực hiện xong dự định. Tuy vậy đồng nghiệp và bạn đọc vẫn may mắn được biết ý kiến căn bản của ông về vấn đề này.

  • VÕ THỊ QUỲNHĐến Hội Văn nghệ một chiều xuân Giáp Thân, tết còn đỏ hạt dưa, còn thắm mai vàng, còn hồng hoa đào và còn lủng lẳng tròn trịa những quả quất trĩu cành - chúng tôi tưởng nhớ anh - nhà thơ luôn dịu dàng, luôn hiền hoà: XUÂN HOÀNG. Bao kỷ niệm một thời nhà thơ sống gắn bó sáng tạo với Bình Trị Thiên, với Huế lại ùa về trong lòng những người đến thắp hương kính viếng hương hồn anh - chiều nay...

  • VÕ QUÊNhững ngày đầu xuân Giáp Thân, giới văn nghệ sĩ Thừa Thiên Huế vô cùng thương tiếc khi nghe tin nhà thơ Xuân Hoàng đã từ trần vào ngày mồng 3 Tết (24.1.2004) tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sự ra đi của nhà thơ Xuân Hoàng là một tổn thất lớn đối với phong trào văn học của khu vực Bình Trị Thiên ruột thịt và của cả nước.

  • HỒ THẾ HÀ Ngày thơ Việt Nam chính thức được mang tên, đến nay, đã tròn một năm. Một năm là khoảng thời gian rất ngắn, nhưng trong ý nghĩ và dự cảm của mọi người suốt dòng chảy văn hoá, để thi ca trở thành hiện thực như hôm nay là một quá trình trải nghiệm của lịch sử và truyền thống lâu dài của dân tộc Việt Nam-một dân tộc yêu thi ca, có tiềm năng, trữ lượng và những giá trị thi ca không bao giờ vơi cạn.

  • PV: Là một nhà văn nổi tiếng với những tập truyện ngắn Người sông Hương, Làng thức... và các tiểu thuyết Ngoại ô, Dòng sông phẳng lặng (3 tập), Phía ấy là chân trời... những đứa con tinh thần của anh ra đời gần như tập trung liên tục trong khoảng hơn mười năm (trước và sau 1975). Trừ một số bài viết ngắn đăng ở báo và tạp chí, nếu tôi không nhầm thì, tác phẩm gần đây nhất của anh, tiểu thuyết Phía ấy là chân trời, hình như xuất bản từ năm 1988? Tại sao anh "dừng lại" đột ngột và lâu như vậy?Tô Nhuận Vỹ (TNV): Với lý do gì đi nữa thì việc "tịt đẻ" lâu như vậy cũng là chuyện chẳng hay gì đối với một nhà văn. Trong thời gian tôi "tạm dừng" đó, nhiều tác giả bạn bè tôi đã lao động miệt mài, "đẻ" hàng chục "đứa con tinh thần" rồi đó.

  • NGUYỄN ĐÌNH SÁNGNăm 1975, lần đầu tiên tôi gặp nhạc sỹ Trần Hoàn tại Hà Nội. Lúc đó, tôi đang an dưỡng tại Ban thống nhất Trung ương và có ý định xin về Huế công tác. Nhà thơ Cù Huy Cận Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin lúc bấy giờ đã bảo tôi đến gặp nhạc sỹ Trần Hoàn để trình bày nguyện vọng. Anh tiếp tôi với một ngôn ngữ hết sức dân dã, mang đậm chất miền trung. Anh hỏi: “Mi quê mô?” Tôi thưa cùng anh: “Em người Quảng Trị.” Anh hỏi tiếp: “Rứa mi học cái chi?” Tôi thưa: “Em học thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội.” Anh nheo mắt cười và trả lời: “Đồng ý! Lên Bộ Văn hoá làm quyết định rồi về công tác. Trong miềng chừ nhiều việc lắm...”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOTôi biết nhạc sĩ Trần Hoàn vĩnh biệt cõi trần vào lúc 5 giờ 6 phút ngày 23 tháng 11 tại bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội, nhờ cú điện thoại của một nhà báo gọi đến đặt bài. Đã mấy hôm nay biết ông hôn mê sâu, khó qua khỏi mệnh trời, nhưng khi nghe tin ông qua đời, tôi vẫn chưa tin là ông đã mất.

  • NGUYỄN TUYẾN TRUNGLâu rồi tôi mới có dịp đến thăm nhạc sĩ Mai Xuân Hoà và cô giáo Nguyễn Thị Hồng - hai vợ chồng đều đã nghỉ hưu, vẫn ở tại số nhà 71 đường Bến Nghé thành phố Huế.

  • HỮU THUTrong suốt ba nhiệm kỳ đảm đương cương vị Bí thư Tỉnh uỷ, với anh chị em làm báo, chú Vũ Thắng thường dành cho những ưu ái, đó là có thể gặp gỡ vào bất cứ lúc nào, dù ở cơ quan hay nhà riêng. Do vậy mà ngôi nhà cũ ở đường Mai Thúc Loan quá đỗi thân thiết với nhiều người làm báo, trong đó có tôi.

  • VÕ QUANG YẾNỞ Pháp ngưòi ta thường bảo một con chim én không đủ để báo mùa xuân. Tôi thì tin một nữ sĩ có thể chiếu sáng một chiều thu lá vàng mưa bay nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể là nữ sĩ ấy. Chị là thi sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, ái nữ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị.

  • NGUYỄN HUY THẮNGNhững ngày đầu tháng 12-1954, người dân Hà Nội và khắp các vùng xung quanh nô nức kéo đến Nhà hát Nhân dân xem “văn công”. Văn công là từ bấy giờ dùng để chỉ những buổi biểu diễn văn nghệ trên sân khấu nói chung. Nhưng đợt “văn công” cuối năm 54 ấy mang một tính chất đặc biệt, vì là một đại hội có quy mô lớn (Đại hội Văn công toàn quốc), từ kháng chiến về, lần đầu tiên ra mắt công chúng Thủ đô vừa thoát khỏi ách tạm chiếm.

  • NGUYỄN QUANG HÀTạp chí sáu tỉnh Bắc miền Trung vẫn duy trì đều đặn hàng năm gặp gỡ giao lưu để cùng tìm cách nâng cao chất lượng tờ tạp chí văn học của địa phương mình. Năm nay, năm 2003 Tạp chí Nhật Lệ đến phiên đăng cai cuộc họp mặt. Khách mời năm nay, ngoài các cơ quan trong tỉnh Quảng Bình, còn có đại biểu của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, của tạp chí Diễn đàn, cơ quan ngôn luận của Hội về dự.