Daisetz Teitaro Suzuki luận về vô thức trong thiền Phật giáo

08:02 07/04/2017

VÕ CÔNG LIÊM

Giữa vô thức của thiền và vô thức của khoa phân tâm triết học, hẳn có những điểm khác biệt rõ rệt. Bởi Thiền Phật giáo (Zen Buddhism) mang nặng tính chất vô thức (unconscious) nhưng thực chất là hữu thức.

Vô hay Hữu của thiền đã trở thành một thứ “siêu khoa học” (metascientific) hay “tiền khoa học” antescientific vì lập trường của thiền là một xác quyết rõ ràng, không còn là một hệ thống thiết lập như một lý thuyết giảng dạy hay phân tích.

Thiền là yếu tố chính cho một tri thức, vì thiền bao gồm toàn bộ trí tuệ nhờ đó mà khám phá ra được những điều lớn lao trong hiện thể. Nhưng trí tuệ (Prãjna/Mind) không phải là một hợp chất “composite thing”, chính hợp chất đó đã chia ra nhiều năng lực khác nhau và không để lại một dấu hiệu gì mỗi khi đã khám phá cùng nguyên lý của thiền. Thiền không dẫn đưa chúng ta vào con đường phân loại của tri thức và cũng không sắp xếp những giáo lý như một áp đặt để được coi như một giáo phái riêng biệt. Cốt tủy của Thiền Phật giáo là đưa tới nhận thức giác ngộ (Satori). D.T.Suzuki(1) dựa vào toàn trí của Như Lai để lý giải từ cái vô thức để trở thành hữu thức, từ cái gọi là Như-Sở-Hữu- Trí và Tận-Sở-Hữu-Trí, đó là thâm sâu của trí-huệ và hoành-diện-trí-huệ nhờ vậy mà đem lại chân-lý- tánh-không (Sũnyatà) đạt được những lý luận trên tức đạt được trí-huệ-tối-thượng. Vô thức của thiền như ẩn như hiện là yếu tố đem lại sự ẩn hiện trực tiếp trong đời sống.

Cho nên Thiền Phật giáo đã mang lại cho con người một tư tưởng hợp nhất giữa đời và chúng sinh, chính nhờ những ngôn từ của Phật giáo mà đánh động được những gì gọi là ẩn hiện (elusiveness) để nhận thức đâu là chân như. Khi con người không còn thức tỉnh được nữa thì chính họ đang rơi vào cái thế giới riêng tư của họ. Nhưng ngược lại thế giới nhìn thấy họ một cách rõ ràng minh bạch thì lúc đó thấy được lòng tự kỷ của con người. Tự kỷ mà người ta nhận lấy như một mảnh vỡ của Vô Thức, mảnh vỡ đó chính là sự đe dọa mà chính ta đang đánh đổi với đời cũng như bản thân mình, để rồi chỉ còn lại mảnh vỡ điều khiển mình mà thôi.

Sự cách biệt của cuộc đời, sự nỗ lực của con người để thích nghi với hoàn cảnh là điều không bao giờ được xem là đều đặn, bởi tất cả những cảm quan nguyên vẹn đó mà con người mãi mãi nằm trong trạng thái xung đột và chính sự xung đột đó là nguồn phát khởi tự tại được phân định một cách chính xác mà chính ta không thể hình dung ra được, nó nằm trong trí-huệ-vô-thức. Tất cả những gì mà phân tâm học (psychoanalysis) đã đưa ra hay lý luận một cách thuần tính thì đó chính là trạng thái vô thức trong Thiền Phật giáo. Thiền nhận lãnh vai trò như một hóa giải trực tiếp giữa bản thể và tâm linh vừa hóa thân vừa giải thoát; nỗi ray rứt trong im lặng như sấm động, lời lẽ biến thành vô ngôn, thịt xương là cát bụi giờ đây chỉ còn lại sự tương đồng của Tính Không và Vô Biên. (To Zen incarnation is excanation; silence roars like thunder, the word is no-word, the flesh is no-flesh; here-now equals emtiness (Sũnyatà) and infinity).

Vì vậy, mục đích của Thiền không những đem lại sự tĩnh lự (meditation) mà như là một sự khiêu khích (tantalizes) sự bông đùa, giễu cợt của công- án (koan) đều hàm chứa cả một bí ẩn để đưa tới giác ngộ viên mãn. (The Zen koan as a means of attaining enlightenment). Đó là cốt cách của Thiền, đúng nghĩa là một cái gì vừa bí ẩn vừa mơ hồ để lại một trạng thái hồ nghi giữa vô thức và hữu thức, giữa ảo và thực, giữa có và không. Chính cái bí ẩn đó là cái bí truyền của Thiền. Điều đó đã làm cho ta khó mà đo lường được một cách thấu đáo hay xác quyết một cách cụ thể…

Mục đích của Thiền Phật giáo là mang lại cho chúng ta một sự kết hợp chặt chẽ giữa Thiền và Đời. Những trạng huống xẩy ra trong đời người là những gì thuộc về vô thức, nói một cách cụ thể, vô thức của Thiền là thức-tỉnh để nhận thức trung thực của hữu thức trong vô thức. Lối nhận thức của Thiền là đi ngay vào lòng người, nghĩa là có cái nhìn thấu suốt ở bên trong (inner). Nhận thức được sự vật, cảm nhận được sự vật tức khám phá được bí ẩn của vũ trụ bao hàm cả cái Ngã của chính mình mà bấy lâu nay hầu như được phân loại thành nhị-nguyên- thể giữa người theo đuổi và người bị theo đuổi, đối tượng chính chỉ còn là chiếc bóng. Đó là lối nhìn nhận thức của Thiền. Theo D.T.Suzuki là lối nhận thức của tiền-khoa-học hay siêu-khoa-học đôi khi còn gọi là phản-khoa-học giữa thiền và tâm lý học. Vô Thức theo ý nghĩa Thiền hiển nhiên là vi diệu, vô ngại, vô chấp đó là lý do nó mang tính chất phi-khoa-học hay tiền-khoa- học. Nói như thế không có nghĩa là vượt khỏi tầm ý thức và rồi chả ăn nhập vào đâu cả. Trái lại nó như thể là một sự tương quan mật thiết đối với chúng ta. Chính vì cái mật thiết đó mà ngay cả ta cũng khó nắm bắt được, cũng như mắt không tự thấy mắt, trán không thể tự thấy trán nhưng vẫn ý thức được mắt và trán. Do đó để ý thức được vô thức cái yêu cầu là phải biết tôi luyện một phần của ý thức, bởi ý thức là kiên tâm không hiệp thông với vô thức. Tuy nhiên không có vô thức, ý thức không tác động được, hoàn toàn mất hẳn cơ bản tác động. Đó là lý do tại sao Thiền làm sáng tỏ con đường hành ĐẠO “TAO”(*) Thiền như một hành động Bình- Thường-Tâm (One’s Everyday Mind). Bởi hành đạo, dĩ nhiên, Thiền ngụ ý vô thức mà tất cả mọi hoạt động đều nằm trong ý thức của chúng ta.

Câu chuyện vấn đáp “mondo” sau đây có thể giúp ta hiểu được phần nào về vô thức của Thiền: Khi ông tăng hỏi một thiền sư nghĩa của bình- thường-tâm là gì?

Sư đáp: - Khi đói ta ăn, khi mệt ta ngủ. Đó là những câu đối đáp mang tính bình dị của vô thức nhưng thực chất nó phản ảnh được cả một tâm thức. Vô thức và Tâm thức tức là vô-thức-bản-năng và vô-thức-tôi-luyện, đó là cái có hay không có ý thức mà thôi. Thiền sư Bankei(2) Nhật Bản thường giảng dạy giáo lý Vô-Sinh (Fusho/Anutpàta/Unborn) để biểu thị tư tưởng của mình. Bankei chỉ vào những sự vật thường xẩy ra trong đời thường, tỷ như nghe chim hót, nhìn hoa nở… và bảo rằng tất cả mọi sự vật xẩy ra là nhờ vào sự hiện diện của vô-sinh. Thiền sư Bankei kết luận: dù có giác ngộ nào đi nữa, tất thảy đều dựa trên kinh nghiệm sống, chứ không dựa trên kinh nghiệm nào khác hơn. Lời nói ấy như ám chỉ giữa lãnh vực cảm quan của chúng ta với cái vô-sinh, đó là vô-sinh-siêu-hình. Vì vô-sinh của Bankei là gốc rễ của vạn hữu và bao hàm tổng thể của tất cả những thực thể, hiện tại, quá khứ, vị lai bao phủ khắp mười phương thế giới Phật. Nói theo quan niệm Thiền Phật Giáo dù bình-thường- tâm hay kinh nghiệm thường ngày hay bất cứ mọi hành động nào đi nữa, xét nơi ta chẳng để lại một giá trị nào cả. Cái giá trị đó chỉ quy về cái nghĩa vô- sinh hay còn gọi là vô-thức-vũ-trụ. Cho nên vô-sinh là suối nguồn của tất cả mọi khả năng sáng tạo. Thì khi ăn không phải là ta đang ăn và khi mệt ta ngủ là ta đang ngủ mà tất cả thuộc về cái vô-sinh-vũ-trụ trong vô-thức-vũ-trụ.

Suzuki nhận định như sau: “Khi ý thức Thiền hoàn toàn chín muồi, chắc chắn sẽ bung vỡ để trở thành ngộ (satori), đó là cái nhìn thấu suốt của Vô-thức”. Cái nhìn vô-thức của Suzuki có giống như khái niệm của tâm lý học chiều sâu? Đó là khái niệm của Thiền, nói một cách chính xác hơn là Vô-tâm (Mushin/No-mind) một kiểu vô-tự-thức của Thiền. D.T.Suzuki viết: “Sự thật, trong ý thức chúng ta không hề có ý thức “vượt ra ngoài”,”dưới” hay “trên”. Tâm là một tổng thể bất khả phân và ta không thể xé nó ra từng mảnh…”, vì vậy trong kinh nghiệm NGỘ chức năng của tư duy bị phá vỡ và trống không nhưng không hề tiêu vong. Nó được hồi sinh như một năng động của Ngộ đó là cái tư duy không tư duy, lý của phi lý, phân biệt và vô phân biệt, nhờ vào những nghịch lý đó mà sáng tỏ ý nghĩa của Ngộ, một tư tưởng có tính khả dụng của thiền.

Như đã nói ở trên Vô-thức-vũ-trụ vốn có trước mọi sự rẽ nhánh hay phân đoạn cần thiết cho quá trình tư duy. Vô thức vũ trụ như thế mới thực sự là nền tảng của hiện thực, cái vô thức này vượt ngoài những giới hạn của lãnh vực trí năng, con người sở đắc được từ trước đến nay nên đôi khi còn được gọi là “huyền bí” hay “siêu nhiên”. Ấy là lúc Thiền gọi là ý thức của con người bừng tỉnh trước chân tính của mình - là Ngộ. Chính nguồn gốc của Ngộ là ý thức, thức tỉnh sau khi đã một lần trải qua của vô thức vũ trụ, đó là sự hồi phục giữa ý thức vô thức hay vô thức ý thức. Ở đây chúng ta có thể thấy được cái tăm tối của vô thức vũ trụ trong thoáng chốc biến thành ánh sáng tức giác-ngộ-tối-thượng. Cái đó gọi là tâm uyên áo của Thiền. Tuy nhiên Thiền vẫn chủ trương loại bỏ văn tự và học thuyết, nhưng thật ra không hẳn như thế, ý của Thiền là tránh mình như một giáo phái, cái chủ đích của Thiền là tạo được một triết lý “bản lai diện mục” bởi Thiền thiếu triết lý thì mất đi tính sáng tạo, một cái xác không hồn.

Đó là bản tính vô thức. Vậy thì vô thức trong Thiền Phật Giáo có phải nằm trong phạm vi triết học? Dù trong ý nghĩa rộng nhất của từ ngữ này, tuy thế nó vẫn có liên hệ phần nào với ngọn nguồn của vạn hữu như là lý tính giữa Trời và Đất hay một cái gì khác được nêu lên trong tính thể luận mà các nhà tư tưởng Tây phương đã có lần đề cập đến. Chúng ta có thể gọi một danh xưng khác thích hợp hơn “Đại Viên Cảnh Trí” (Adarsánajnãna) như các thiền sư thường gọi. Cho nên chi mỗi khi chúng ta gọi cái này là gì hay ai, bởi tất cả ngoài phạm vi bình thường của ý thức, chúng ta không còn một danh từ nào khác để gọi nó ngoài cách cho nó một danh hiệu tiêu cực hoặc gọi nó là X hoặc là Vô-Thức, Vô-Tri hay là X đi nữa thì rõ ràng quá mơ hồ và như thể nó tiếp dẫn được với ý thức tức là sử dụng được tất cả những gì khéo léo một cách hữu thức thì điều đó được coi như là vô-thức.

Nói tóm lại, tất cả dữ kiện xảy ra của Thiền Phật giáo đi từ vô thức đến hữu thức, từ ngã đến vô ngã tất cả do từ tâm thức mà ra. Bởi trong Thiền nó có tính siêu hình và trí năng thông qua tuệ giác và tánh không. Cõi vô thức đối diện trực tiếp với Hữu-Thể-Tuyệt-Đối, Tình- Yêu-Tuyệt-Đối và Tánh-Không-Tuyệt-Đối bằng sự dấn thân trực tiếp để hoàn toàn thức tỉnh trong đời sống thường nhật và vĩnh cữu giữa vô-sinh và hữu sinh, giữa tử và bất-tử.

V.C.L
(SHSDB24/03-2017)

...............................................
(1) Daisetz Teitaro Suzuki: Sanh 18/10/1870 Mất 12/7/1966. Sanh và chết ở Nhật Bản. Ông không phải là thiền sư. Ông là một nhà giáo, đi thuyết giảng khắp nơi về chân lý Thiền học. Ông để lại nhiều bộ sách Thiền Phật giáo có giá trị đến ngày nay, kể cả sách Thiền bằng Anh ngữ.
(2) Bankei (Bàn Khê), (1622-1693), thiền sư Nhật Bản. Không tông phái.
(*) TAO được dịch là ĐẠO. Chữ của học giả Wilhem.

Tài liệu tham khảo:

- Zen Buddhism & Psychoanalysis by D.T.Suzuki,Erich Fromm and Richard De Martino. Harper Colophone Books. Published 1970 USA.
- The Essentials of Zen Buddhism by Daisetz T.Suzuki. Greenwood Press, Publishers 1973.USA
- The Zen Koan by D.T.Suzuki.Rider&Company. Published 1950 USA
- Quan Niệm Giải Thoát Trong Phật-Giáo Cũ của Linh mục Thiện Cẩm, Nxb. Đại Nam, SàiGòn, 1970.
- Tưởng Niệm Daisetz Teitaro Suzuki, Nxb. Văn Hóa Sài Gòn 2001/2008, Tp HCM/ VN.






 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN THIỆN KHANH Inrasara nhập cuộc văn chương từ rất sớm. Ngòi bút của Inrasara chạm được vào những vấn đề cốt tử của nghệ thuật. Inrasara đã sống thực sự với đời sống văn chương đương thời.

  • HUYỀN SÂM - NGỌC ANH 1. Umberto Eco - nhà ký hiệu học nổi tiếng.Umberto Eco chiếm một vị trí rất đặc biệt trong nền lý luận đương đại của Châu Âu. Ông là một triết - mỹ gia hàn lâm, một nhà ký hiệu học uyên bác, một tiểu thuyết gia nổi tiếng và là giáo sư danh dự của trường Đại học Bologne ở Italia. Tư tưởng học thuật của ông đã tác động mạnh mẽ, tích cực đến đời sống trí tuệ của sinh viên và giới nghiên cứu trong suốt nửa thế kỷ qua. Ông có mặt trong danh sách của hai mươi nhà tư tưởng đương đại lớn nhất thế giới, và cũng là ứng cử viên thường trực của Viện Hàn lâm Thụy điển về việc bình chọn giải Nobel văn học.

  • ĐỖ NGUYỄN VIỆT TƯ         (Nhân đọc thơ Hoàng Vũ Thuật)Trong con người cũng như trong vũ trụ luôn luôn hiện diện một mâu thuẫn bất biến, nhờ cái khối mâu thuẫn này mà nó tồn tại, phát triển và trở nên thống nhất. Con người luôn đi tìm chính mình trong một cuộc phiêu lưu vô định, không bao giờ bằng lòng với những cái đã có, bản ngã lúc nào cũng thôi thúc sáng tạo để tìm ra cái mới. Nhà thơ luôn đồng hành với cuộc phiêu lưu của những con chữ để đi đến những miền đất lạ, những vùng cảm xúc.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LANSau mấy tháng mưa tầm tã và lạnh thấu xương, qua đầu tháng chạp âm lịch, toàn khu Hạ Lào bắt đầu tạnh. Mặt trời lại hiện ra đem ánh sáng sưởi ấm những khu rừng bạt ngàn từ Trường Sơn lượn xuống. Ở các suối nước không còn chảy như thác đổ, ở Xê Công dòng nước cũng đã trở lại hiền hòa. Các con đường lớn, đường nhỏ bắt đầu khô ráo.

  • TRẦN ĐƯƠNGTôi được làm quen và có quan hệ cởi mở với nhà thơ Tố Hữu từ mùa thu năm 1973, sau khi ông dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng ta đi dự Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đức (DKP) họp tại thành phố cảng Hăm-bugr). Từ  miền Tây, ông sang Béc-lin, Cộng hòa Dân chủ Đức, theo lời mời của Bộ chính trị Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức (SED) với mục đích thăm, nghiên cứu và trao đổi về công tác tư tưởng giữa hai Đảng.

  • TRẦN THÁI HỌCĐến nay, vấn đề giá trị nghệ thuật không còn là vấn đề thời sự được nhiều người trong giới phê bình quan tâm bàn cãi. Sự lắng lại trong không khí phê bình về vấn đề này, vốn đã trải qua một thời kì tranh luận sôi nổi kéo dài hàng chục năm trên văn đàn gắn liền với những quan điểm triết học và mỹ học khác nhau, thậm chí đối lập nhau.

  • HÀ VĂN THỊNH Trên trái đất này, có lẽ chỉ có các nhà thơ mới quan niệm cuộc đời là một trò chơi. Ngay cả Thánh Kinh, khi bàn về lẽ khởi - tận của kiếp người cũng phải than: thân cát bụi trở về cát bụi. Lời nguyền đó là tiếng kêu bi thương từ sâu thẳm của hàng triệu năm đau đớn để sống và, để chết. Từ ngày đầu tiên sinh ra loài người, Adams  đã phải dắt díu Éva trốn chạy khỏi Thiên Đường trong nước mắt và uất hận; đau đớn và tuyệt vọng; cô đơn và sỉ nhục... Đó là những điều ngăn cản việc biến cuộc đời thành một trò chơi.

  • NGUYỄN THAM THIỆN KẾ... Đức Phật, nàng Savitri và tôi sẽ là cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất của Hồ Anh Thái, đồng thời nó sẽ giữ ngôi vị lâu dài là tiểu thuyết duy nhất trong văn học Việt lấy cuộc đời giáo chủ Phật giáo làm nguồn cảm hứng. Và sẽ còn lâu lắm văn chương Việt mới có một nhà văn đủ tự tin cũng như tài năng để động vào bàn phím viết về đề tài này. Nó cũng sẽ là thời gian cộng trừ 20 năm, nếu như nhà văn nào đó bây giờ mới bắt đầu tìm hiểu văn hóa Ấn...

  • HOÀNG NGỌC HIẾNNhan đề của tập thơ khiến ta nghĩ Trần Tuấn đặc biệt quan tâm đến những ngón tu từ, mỹ từ của thi ca, thực ra cảm hứng và suy tưởng của tác giả tập trung vào những vấn đề tư tưởng của sự sáng tạo tinh thần: đường đi của những người làm nghệ thuật, cách đi của họ và cả những “dấu chân” họ để lại trên đường.

  • TRẦN ĐÌNH SỬTrong sáng tác văn học của nhà văn Lỗ Tấn, Cỏ dại  là tập thơ văn xuôi giàu tính hiện đại nhất xét về tư duy, tư tưởng và hình ảnh. Tuy nhiên trong một thời gian dài, phẩm chất nghệ thuật này đã không được nhìn nhận đúng mức.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN(Trích đăng Lời giới thiệu “Tuyển tập Minh triết phương Đông - Triết học phương Tây” của Hoàng Ngọc Hiến)

  • NGUYỄN GIA NÙNGCả cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của Cao Bá Quát là một chuỗi dài những bi kịch của cuộc tìm kiếm không ngừng, không nghỉ về lẽ sống ở đời, về vai trò của văn thơ nói riêng, về kẻ sĩ nói chung. "Mình là ai?" "Mình có thể làm được gì? Làm thế nào để có thể tự khẳng định mình và có thể giúp ích được cho đời?" Có thể nói những câu hỏi ấy luôn trăn trở, dằn vặt trong con người Cao Bá Quát từ khi tự ý thức được tài năng của mình cho đến lúc từ giã cõi đời mà vẫn chưa tìm được lời giải đáp trong một chế độ đầy rẫy bất công, phi lý mà mọi con đường để thoát ra, với ông, đều mờ mịt và chính ông, dù đã cố công tìm, bế tắc vẫn hoàn toàn bế tắc.

  • THẠCH QUỲBài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được tuyển chọn để giảng dạy ở trường phổ thông vài chục năm nay. Đó cũng là bài thơ xuất sắc được bạn đọc cả nước yêu mến. Tuy vậy, cho đến hôm nay, cái hình ảnh “Mặt chữ điền” đầy sức quyến rũ và ám ảnh ấy vẫn chưa được nhận chân, nhận diện một cách chính xác.

  • HỒ THẾ HÀNhư một quy luật hiển nhiên, có sáng tác văn học thì sớm muộn gì cũng có phê bình văn học và lý luận văn học, càng về sau, có thêm các phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học - với tư cách là trường phái, trào lưu nối tiếp nhau nhằm tiếp cận và giải mã tác phẩm ngày một đa dạng, tối ưu, hiện đại để không ngừng làm đầy những giá trị và ý nghĩa chỉnh thể của tác phẩm văn học.

  • PHONG LÊTrong văn học Việt Nam, trước trào lưu hiện thực, hình ảnh người trí thức đã có mặt trong khuynh hướng lãng mạn của Tự lực văn đoàn. Đó là các nhân vật trong vai điền chủ, luật sư, quan lại - có vốn tri thức và có chút băn khoăn, muốn nhìn xuống nỗi khổ của những người dân quê, và mong thực hiện một ít cải cách cho đời sống họ đỡ tối tăm và đỡ khổ.

  • MÃ GIANG LÂNCách nhân bản thơ, xuất bản thơ bằng "công nghệ sạch" của loài người có từ ngày xửa ngày xưa dưới hình thức ngâm thơ và đọc thơ. Người Việt chúng ta ngâm thơ là truyền thống. Tiếng Việt nhiều thanh, giàu tính nhạc, giọng ngâm có sức vang, sức truyền cảm.

  • TRIỀU NGUYÊN1. Chương trình Văn học lớp 11, chỉnh lí năm 2000, phần tác giả Cao Bá Quát, bài Đề sau khúc Yên Đài anh ngữ của ông đô sát họ Bùi, giảng một tiết, được thay bằng bài Dương phụ hành (Bài hành về người thiếu phụ phương Tây). Cả sách học sinh và sách giáo viên đều không có chú thích gì về "hành", ngoài cách chuyển y khi dịch sang tiếng Việt như vừa ghi.

  • ĐIỀN THANHAndy Warhol nổi tiếng là người đùa rỡn với chuyện danh tiếng, nhưng niềm say mê của ông với sinh hoạt hiện đại có hàm chứa một không gian tối xám hơn nhiều. Đó là việc ông bị ám ảnh bởi cái chết, điểm này cho mỗi chúng ta biết nhiều nhất về tinh thần của thời đại ngày nay…

  • ĐINH VŨ THUỲ TRANGThời Đường là thời đại cực thịnh của dân tộc Trung Hoa về mọi mặt, trong đó có thơ ca. Câu nói này có vẻ sáo mòn nhưng không thể không nhắc đến khi nhìn vào những trang sử vàng son ấy. Chúng ta biết đến ba nhà thơ lớn đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị... Nhưng phải nói rằng, chỉ đọc thơ của họ thì chưa thấy hết được cái hay của thơ Đường. Bởi lẽ, các nhà thơ tuy cùng khuôn luật, cùng chủ đề... nhưng mỗi người đều riêng khác nhau.

  • LÝ HOÀI THUSự vận động và phát triển của một giai đoạn văn học luôn diễn ra song hành cùng sự vận động và phát triển của các loại thể văn học. Nói một cách khác: sức sống của một giai đoạn văn học được biểu hiện rõ rệt nhất qua diện mạo thể loại. Chính vì vậy, thể loại vừa là sự "phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững của văn học" (1) vừa là sự hồi sinh và đổi mới liên tục qua mỗi chặng đường phát triển.