Cristofori, cha đẻ của đàn piano

10:30 20/05/2015

Mặc dù tên tuổi của Cristofori ít được phổ biến rộng rãi, nhưng cây đàn piano do ông tạo ra đã trở thành nhạc cụ có tầm ảnh hướng rất lớn đến nền âm nhạc và xã hội loài người.

Ảnh chụp lại bức tranh duy nhất vẽ Bartolomeo Cristofori vào năm 1726. Bức tranh đã bị thất lạc trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai.

Ngày 4/5 vừa qua, trang tìm kiếm Google đã giới thiệu doodle mới để kỷ niệm 360 năm ngày sinh của Bartolomeo Cristofori di Francesco, nhà phát minh nhạc cụ vĩ đại người Ý. Doodle này mô tả Cristofori ngồi trước đàn piano và chơi một đoạn trong bài “Jesu, Joy of Man's Desiring” của nhà soạn nhạc Johann Sebastian Bach (1685-1750), một nhạc phẩm nổi tiếng ra đời vào thời đại của Cristofori. Mặc dù tên tuổi của Cristofori ít được phổ biến rộng rãi, nhưng cây đàn piano do ông tạo ra đã trở thành nhạc cụ có tầm ảnh hướng rất lớn đến nền âm nhạc và xã hội loài người.

Cách đây khoảng 10 năm, tôi tình cờ biết đến nhà phát minh Cristofori khi thưởng thức bản nhạc “Cristofori’s Dream” của nghệ sĩ dương cầm người Mỹ David Lanz, một trong những người tiên phong của thể loại âm nhạc New Age. Bản nhạc này được David Lanz viết tặng Cristofori, nhà phát minh vĩ đại mà lịch sử đã vô tình lãng quên. “Dương cầm là nhạc cụ tuyệt vời, đầy cảm hứng và có sức lôi cuốn kỳ diệu nhất trên trái đất này. Sẽ khó có thể tưởng tượng được thế giới âm nhạc ngày nay mà không có dương cầm, bởi vì trong tâm khảm của nhiều người yêu nhạc, nó là loại nhạc cụ có khả năng khơi nguồn cảm xúc tốt nhất. Bằng những giai điệu của dương cầm, người nghệ sĩ có thể truyền đạt tâm tư, tình cảm của mình đến với người nghe một cách trực tiếp và gần gũi”, David Lanz nhận xét.

Bản nhạc “Cristofori’s Dream” nằm trong album cùng tên phát hành năm 1988 được đánh giá là đỉnh cao trong sự nghiệp âm nhạc của David Lanz. Album này đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard (đề mục “những album âm nhạc New Age được yêu thích nhất”) trong 27 tuần liền và dành được đĩa Bạch kim. Xuyên suốt toàn bộ nhạc phẩm “Cristofori's Dream” là tiếng đàn piano mộc mạc, làm dâng lên trong lòng người nghe những cảm xúc yêu thương. Khi lắng nghe bản nhạc này, tôi có cảm giác David Lanz đã thổi sức sống vào dương cầm. Ông để âm thanh của dương cầm cùng trò chuyện với những người bạn là đàn violin và đàn violoncello. Hồi ấy, tôi đã tự hỏi Cristofori là ai mà lại được David Lanz trân trọng đến vậy. Rồi tôi tìm hiểu về cái tên này và khám phá một câu chuyện rất thú vị ở phía trước...

Cristofori (tên đầy đủ là Bartolomeo Cristofori di Francesco), sinh ngày 04/5/1655 tại thành phố Padua nước Cộng hòa Venice (nằm ở phía Đông Bắc nước Ý ngày nay). Câu chuyện về Cristofori đưa ta đến với xứ Tuscany vào những năm cuối thế kỷ XVII. Ở nơi ấy có Đại quận công Ferdinando de’ Medici (1670-1713), con trai của Đại công tước xứ Tuscany, là một người yêu thích và bảo trợ cho các hoạt động âm nhạc đương thời. Năm 1688 khi đi ngang qua thành phố Padua, ngài đã gặp gỡ Cristofori. Đây là thời điểm nhà quý tộc tìm kiếm kỹ thuật viên mới để chăm sóc các nhạc cụ của ông, thay thế cho người tiền nhiệm đã mất. Tuy nhiên, ngài không chỉ mong đợi Cristofori ở vai trò kỹ thuật viên, mà còn phải là người có thể cải tiến và chế tạo ra các loại nhạc cụ mới. Cristofori, lúc này 33 tuổi, chưa có phát minh gì đáng kể. Mặc dù có rất nhiều sự lựa chọn, nhưng với nhãn quan sắc sảo của mình, Đại quận công Ferdinando đã thấy được tiềm năng ở Cristofori và quyết định thuê ông.

Từ đó Cristofori chuyển đến thành phố Florence để sống và làm việc, rồi tạo nên những kiệt tác cho đời. Ở đây ông được đặc cách cấp cho một phân xưởng riêng, vài người giúp việc và được trả mức lương cao hơn người tiền nhiệm với khoảng 12 đồng Scudo mỗi tháng. Tại phân xưởng của mình, Cristofori làm công việc lên dây đàn, vận chuyển và cải tiến các nhạc cụ. Đặc biệt, ông còn được giao trùng tu những cây đàn cla-vơ-xanh (clavecin / harpsichord) quý giá. Lúc bấy giờ, phần lớn âm nhạc được sáng tác bằng cla-vơ-xanh và cla-vi-co (clavichord), là những loại đàn trông khá giống với dương cầm nhưng âm thanh lại không linh hoạt bằng. Ví dụ, đàn cla-vơ-xanh có bàn phím và âm thanh được phát ra bằng một hệ thống cần có móc ở đầu để gảy vào dây đàn, tuy nhiên nó có một nhược điểm lớn là không thể phát tiếng to, nhỏ theo lực nhấn phím mạnh, nhẹ của người chơi.

David Lanz tâm sự rằng, qua bản nhạc “Cristofori’s Dream”, ông tưởng tượng hình ảnh Cristofori đang ở phân xưởng của mình khi đêm đã về khuya. Nhà phát minh cất những dụng cụ chế tác, thổi tắt các ngọn nến để đi nghỉ sau một ngày làm việc dài. Ông phân vân tự hỏi về những âm thanh của loại nhạc cụ mới do ông tạo ra sẽ như thế nào đây? Rồi ông chìm dần vào giấc ngủ và trong giấc mơ, ông đã nghe thấy chiều sâu âm thanh tuyệt vời của dương cầm. Theo sử sách ghi chép lại, những ý tưởng đầu tiên về dương cầm của Cristofori được hình thành vào năm 1698, tuy nhiên phải hai năm sau mới xuất hiện những bản ghi chép về nó.

Chẳng ai biết được Cristofori đã đổ bao nhiêu công sức, trải qua bao nhiêu phép thử để đi đến quyết định có ý nghĩa bước ngoặt, đó là thay các cần có móc để gảy vào dây đàn trong hộp đàn bằng một hệ thống gồm các búa nhỏ có bọc nỉ ở đầu để gõ vào dây đàn. Hệ thống này đã tạo nên một trong những tính năng quan trọng nhất của dương cầm là phát ra những âm thanh to, nhỏ khác nhau tùy thuộc lực nhấn phím của người chơi mạnh hay nhẹ. Bạn có thể trải nghiệm điều này ở doodle được nhắc đến ở đầu bài viết. Năm 1709, Cristofori chế tạo ra chiếc đàn piano đầu tiên, tuy nhiên phải đến 17 năm sau phiên bản hoàn thiện như dương cầm ngày nay mới được xuất hiện.

Ban đầu, Cristofori đặt tên cho loại đàn này là: “Gravicembalo col piano e forte” (tiếng Ý), nghĩa là “Đàn cla-vơ-xanh với âm thanh nhỏ và to”. Theo thời gian trôi, tên của cây đàn được rút ngắn lại còn “Pianoforte”, và cuối cùng là “Piano” như ngày nay. Hiện nay trong số chín loại nhạc cụ do chính tay Cristofori chế tạo còn tồn tại thì có ba cây dương cầm, bao gồm:

- Cây đàn sản xuất năm 1720, có bàn phím 54 nốt với miếng gỗ tăng âm được đặt thêm vào năm 1938, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Metropolitan ở New York, Mỹ.
- Cây đàn sản xuất năm 1722, có âm vực 4 octave (quãng tám), hiện ở Bảo tàng Nhạc cụ Quốc gia ở Rome, Ý.

- Cây đàn sản xuất năm 1726, có âm vực 4 octave, hiện ở Bảo tàng nhạc cụ của Đại học Leipzig, Đức.

Trên các cây đàn đều được khắc dòng chữ: “BARTHOLOMAEVS DE CHRISTOPHORIS PATAVINUS INVENTOR FACIEBAT FLORENTIAE [date]”, nghĩa là: “Nhà phát minh Bartolomeo Cristofori của Padua tạo ra chiếc đàn này ở Florence vào [ngày] (được ghi bằng chữ số La Mã)”.

Cristofori tiếp tục chế tạo và cải tiến dương cầm cho đến cuối đời. Trước khi mất, ông để lại toàn bộ công cụ chế tác của mình cho người trợ lý Giovanni Ferrini, người đã tiếp tục công việc của ông và tạo dựng được tên tuổi riêng.

Hơn 300 năm qua, dương cầm đã được các nghệ nhân cải tiến và ngày càng hoàn thiện, nhưng tất cả đều dựa trên nguyên lý cấu tạo của Cristofori. Âm thanh của dương cầm ngày càng đẹp, âm vực ngày càng được nâng cao. Hiện nay âm vực của dương cầm thường là 8 octave, đặc biệt có cây đàn đạt đến 9 octave và đáp ứng được những yêu cầu nghệ thuật cao.

Với ưu thế tạo được những âm thanh nghe êm ái như tiếng mưa rơi, tiếng suối chảy, hay hùng tráng như tiếng sấm rền, tiếng thác đổ, dương cầm dần chiếm được cảm tình của các nhà soạn nhạc, nghệ sĩ diễn tấu và đông đảo khán thính giả. Tuy nhiên khi mới xuất hiện, dương cầm ít được phổ biến vì mọi người cảm thấy quá khó chơi. Những nhạc phẩm đầu tiên được soạn cho dương cầm là 12 bản sonata của nhạc sĩ Ludovico Giustini (1685-1743). Ưu thế tuyệt vời của dương cầm so với đàn cla-vơ-xanh được khẳng định là nhờ những nhạc sĩ lớn của trường phái Cổ điển Vienne, đặc biệt là Franz Joseph Haydn (1732-1809), Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791) và Ludwig van Beethoven (1770-1827)... Dương cầm cũng gắn liền với tên tuổi của nhạc soạn nhạc người Ba Lan thuộc trường phái lãng mạn là Frédéric Chopin (1810-1849). Ngày nay, dương cầm được mệnh danh là “Vua của các loại nhạc cụ”.

Bartolomeo Cristofori di Francesco, nhà phát minh nhạc cụ kiệt xuất, mất trong thầm lặng vào ngày 27/01/1731 tại Florence, một năm trước khi tờ nhạc bướm (sheet music) đầu tiên viết cho dương cầm xuất hiện. Tên tuổi của ông chỉ được nhắc đến khi được đưa vào những cuốn từ điển âm nhạc của Đức. Để ghi nhận công lao của ông, 150 năm sau khi ông mất, người ta đã cho dựng một tượng đài tưởng niệm tại thành phố Padua quê hương ông. Hiện nay trên thế giới, nhiều học viện âm nhạc mang tên ông được thành lập để đào tạo và bồi dưỡng những tài năng cho tương lai.

“Đàn piano có sức cuốn hút thật kỳ lạ”, Stuart Isacoff, tác giả của cuốn “Quá trình phát triển tự nhiên của Dương cầm” từng tâm sự. “Đã có thời mỗi gia đình đều có một cây đàn piano trong nhà, ban đầu là ở nước Anh rồi sau đó là ở các nước châu Mỹ. Gần như mọi người dân ở phương Tây đều học và chơi dương cầm tốt. Điều này góp phần vào sự phát triển của âm nhạc cổ điển nói riêng và làm tăng ý thức cộng đồng về âm nhạc nói chung”. Dương cầm cũng là nhạc cụ thường được dùng để giảng nhạc lý và dạy nhạc cho trẻ nhỏ.

“Chúng tôi luôn cố gắng tìm kiếm đề tài có tính giáo dục, hài hước, thú vị và Cristofori là một chủ đề tốt,” nhà thiết kế doodle nổi tiếng Leon Hong đã tâm sự như vậy. “Hy vọng rằng từ khi doodle này ra đời, mọi người sẽ nhớ đến Cristofori mỗi khi họ nhìn thấy dương cầm”.

Ở thế giới bên kia, nhà phát minh Bartolomeo Cristofori hẳn sẽ mỉm cười khi biết rằng giấc mơ của mình đã trở thành sự thật...

Nguồn: Nor Trần Anh Tuấn - Tia Sáng
 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN VIỆT ĐỨC1.Về bản sắc văn hoá dân tộc.Mỗi dân tộc đều có một tiếng nói riêng, một cốt cách riêng được phản ánh thông qua những giá trị tinh thần và vật chất cụ thể, đó là bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc đó.

  • VĨNH PHÚCNghiên cứu, phê bình, giới thiệu Dân ca Nam Bộ trong giai đoạn này chúng tôi chỉ sưu tập được 15 bài, tuyển chọn và sử dụng 9 bài. Hầu như đều nổi trội lên 2 thể loại chủ yếu là Hò và Lý, kể cả những bài viết mang tính tổng quan về vùng dân ca này.

  • MẶC HY                Hồi ký "Lúa vàng! Lúa vàng trên cánh đồng làng, tang tình tang, tang tình tang... Đêm nay, gặt mà lúa về... ta đập mà ta xay, ta giã mà ta giần..."

  • MAI VYSự sáng tạo nghệ thuật của giới nghệ sĩ biểu diễn xuất phát từ cảm xúc trước tác phẩm, trước cuộc sống. Đó là đặc thù trong quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Mối quan hệ đó bao giờ cũng là mối quan hệ có tính chất cảm tính. Người nghệ sĩ chân chính nào cũng có khả năng cảm xúc rất nhạy bén trước đối tượng được thể hiện. Họ có khả năng lồng trí tưởng tượng vào trong quá trình sáng tạo cốt để thâm nhập sâu hơn vào bản chất của các sự vật.

  • NGUYỄN THỤY KHACó thể nói, khi có loài người là có âm nhạc. Thực ra những âm thanh trong thiên nhiên, vũ trụ có trước loài người. Nhưng loài người không chỉ nghe được nó như loài thú chỉ đạt tới cảm xúc, mà còn nhận thức nó, bắt chước nó để tạo ra những âm thanh của mình. Một cành cây hay một khúc xương, người làm ra cây sáo. Sợi dây cung trở thành dây đàn. Một tấm da thú căng ra là thành cái trống.

  • MAI VYÂm nhạc là một bộ môn nghệ thuật có nhiều loại hình phong phú và đa dạng, từ làn điệu dân ca mộc mạc, từ nét nhạc tấu đơn giản của cây đàn nghiệp dư, đến những bản a-ri-a hết sức phức tạp trong ô-pê-ra hay các hình thức âm nhạc giao hưởng khác nhau như liên khúc giao hưởng, Trường ca giao hưởng.

  • NGUYỄN THỤY KHAVới độ dày gần nửa mét, gồm 7 quyển sách chia làm 5 tập (có tập 2 và tập 5 gồm 2 quyển) và bìa sách trình bày đẹp, trang trọng, bộ sách “Hợp tuyển tài liệu Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX” là bộ sách âm nhạc đồ sộ và công phu nhất của ngành âm nhạc từ trước đến nay do Viện Âm nhạc Việt chủ biên và ấn hành vừa giới thiệu trước công luận gần đây.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã gần một năm, Anh từ biệt trần gian về cõi vĩnh hằng, tâm tưởng tôi vẫn vấn vương với Anh, vẫn luôn mường tượng thấy Anh với nụ cười tươi tắn, rất hồn nhiên, lại nhiều lúc thấy Anh đang mơ màng chìm trong một thế giới riêng tư xa thẳm nào đó.

  • NHẤT LÂMVâng.Ca khúc thời ấy thật hào hùng, sôi sục và đầy lãng mạn.Đó là đêm trước của tháng Tám năm 1945, những năm tháng của phong trào Việt Minh chuẩn bị cho ngày toàn dân vùng lên đánh đổ mọi thế lực thù địch để giải phóng dân tộc, đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do. Và cái mốc đó, theo tôi là từ ngày cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) năm 1941.

  • VIỆT ĐỨCVề với Trường Sơn, về với kỷ niệm của một thời khói lửa đạn bom là tiếng lòng, là tâm nguyện của nhiều hội viên Hội nhạc sỹ Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế kể từ sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam 30/4/1975. Và sau gần 30 năm, mùa xuân 2004, tâm nguyện ấy đã trở thành hiện thực khi kỷ niệm của một thời chiến tranh cứ ào ạt ùa về theo bước chân các nhạc sỹ trở lại tuyến biên giới miền Tây A Lưới.

  • PHAN THUẬN THẢOGagaku - Nhã nhạc - là loại hình âm nhạc cung đình của Nhật Bản, đối lập với Zokugaku, tức âm nhạc dân gian. Thuật ngữ Gagaku được tiếp thu từ Trung Hoa cùng với sự tiếp nhận một bộ phận các nhạc khí và bài bản từ hệ thống âm nhạc cung đình phong phú và đặc sắc của đất nước Trung Hoa rộng lớn và giàu truyền thống văn hoá.

  • LÊ PHÙNGThế là không còn phút giây mong ngóng, đợi trông - “Ngày em đến đôi mắt long lanh, thơ ngây mơ màng, ngày em đến đôi má hây hây hương thơm nồng nàn...” Bởi chàng nhạc sĩ lãng tử ấy đã ra đi, về với cõi vĩnh hằng. Còn đâu nữa bóng hình của gã si tình say mê, đợi chờ ngày em đến.

  • Nhà thơ - Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là một tên tuổi nổi tiếng như một nghệ sĩ đa tài Cầm Kỳ Thi Họa trong làng văn học nghệ thuật Việt . Ông là Ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà Văn Việt Nam, người sáng lập và phụ trách tờ báo Thơ, nay là tạp chí Thơ; ông cũng là một trong những ngưới sáng lập ra Ngày Thơ VN.

  • DƯƠNG BÍCH HÀĐến hẹn lại lên - Festival Huế 2006 đã cận kề. Năm nay, ngoài các loại hình dân ca, dân nhạc, dân vũ; các lễ hội, kịch, tuồng... đặc sắc của Huế, ban tổ chức (BTC) Festival nhấn mạnh một số trọng tâm như: Giao lưu nhã nhạc Việt Nam - Nhật Bản - Hàn Quốc; không gian văn hoá cồng chiêng (nhân cồng chiêng được công nhận là di sản văn hoá); có dàn giao hưởng dân tộc; chương trình thử nghiệm đưa âm nhạc điện tử, nhạc Jar của Pháp kết hợp với âm nhạc truyền thống Huế, âm nhạc Phật giáo; và chương trình âm sắc Việt...

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGCó ngày bỗng dưng thấy lòng thật quạnh hiu. Một nỗi cô đơn nào đó khôn tả xâm chiếm tâm hồn. Tôi đi hoài, lang thang vô định trên những con đường phố Huế xanh xao ánh đèn vàng, bất chợt lòng vang lên giai điệu quen thuộc một ca khúc nào đó của Trịnh Công Sơn. Tự hát cho riêng lòng mình và thấy nỗi buồn vơi đi, lòng cơ hồ bằng an và niềm vui trở lại.

  • NGUYỄN VIỆT ĐỨCQua tiến trình phát triển của lịch sử âm nhạc thế giới, riêng trong lĩnh vực ca khúc chúng ta đều biết có những ca khúc là của mọi thời đại, có những ca khúc chỉ của một thời, có những ca khúc chỉ của một dòng nhạc phục vụ cho nhu cầu của một lớp công chúng riêng nào đó, có những ca khúc lại phù hợp với khá nhiều lứa tuổi và đông đảo công chúng, có những ca khúc chỉ của một vài ngày, có những ca khúc mãi mãi nằm trên giấy...

  • NGUYỄN THỤY KHAĐọc Dòng nước trong (Ca khúc Bích Anh), Nxb Đà Nẵng, 2006

  • HOÀNG DIỆP LẠCCó sự gắn kết nào đó gần như là định mệnh giữa hai con người Trịnh Công Sơn và Nguyễn Xuân Hoàng. Sơn và Hoàng có cùng quê quán ở huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Và cả hai đã sinh ra ở miền cao nguyên, nơi bụi đỏ và sương mù hoà trộn, tạo thành những hạt huyết dụ trôi chảy theo các mạch máu trong thân thể của những con người xứ bụi mịt mùng.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG(Kỷ niệm 6 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn 1/4/2001 - 1/4/2007)Với dòng - sông - Trịnh, đi về biển rộng là một cuộc hành trình trở về với nguồn cội. Dòng sông tìm về biển cả để thấy được sự mệnh mông, hùng vĩ và tuôn trào của biển cả. Tuy nhiên đấy cũng là sự bắt nguồn cho những vết xước trầm tích trong lòng người ở lại - như cọng rễ hoang nay mới đủ sức đâm lên một mầm nhói!

  • NGUYỄN THỤY KHAVào khoảng năm 1962 ở miền Bắc, bỗng rộ lên một bài tình ca ngắn mang tên “Giã từ”. Bài hát được truyền miệng rộng rãi và nếu có ai đó ký âm thành văn bản thì đều ghi là bài hát Liên Xô (CCCP).