Tuổi đá buồn (Chân dung Trịnh Công Sơn)- Tranh sơn dầu Bửu Chỉ
Nhiều người, trong đó có cả những người nước ngoài như John C.Schafer (Giáo sư Anh ngữ, Đại học Humboldt, Hoa Kỳ) đã định danh cho sự nổi tiếng của nhạc Trịnh là “hiện tượng Trịnh Công Sơn”. Nhiều bài viết, tập sách được công bố, xuất bản đã tìm cách giải mã hiện tượng âm nhạc Trịnh Công Sơn nhằm dò thấu căn nguyên của sức hấp dẫn lạ lùng, đầy “ma lực” của nhạc Trịnh. Người ta đã và sẽ còn tiếp cận căn nguyên quyến rũ kỳ diệu của nhạc Trịnh từ nhiều cách, từ nhiều giác độ khác nhau. Ở đây, xin đưa ra cách tiếp cận căn nguyên này từ một trong những phương diện nổi bật nhất của thế giới nghệ thuật Trịnh Công Sơn, đó là con người minh triết trong nhạc Trịnh Công Sơn. Sức hấp dẫn của thế giới nghệ thuật Trịnh Công Sơn chính là sức hấp dẫn của con người minh triết được xưng tụng, nâng niu và “phát sáng” ở trong đó. Minh triết của con người ấu thơ, của “nhân chi sơ” Con người minh triết trong nhạc Trịnh trước hết là một con người thuần khiết, chưa hề “vướng bụi trần”, đó là con người thuở ấu thơ, thuở “nhân chi sơ” vui sống hồn nhiên, yêu thương thật lòng: “Ngày xưa khi còn bé, tôi yêu quá cuộc đời, tôi yêu thương loài người, ngồi vẽ lấy tương lai” (Ngày nay không còn bé), “Hôm nay tôi nghe tôi cười như đứa bé, mới lớn lên giữa đời sống kia. Tôi thấy màu xanh hát trong lời gió và thấy bình minh thắp trên ngọn lá. Tôi thấy ngày thật lạ, xao xuyến từng nỗi nhớ, cho nên tôi yêu trái tim không nặng nề những con tim bạn bè bao la” (Hôm nay tôi nghe). Sự minh triết của con người thuở ấu thơ, thuở đầu đời trong nhạc Trịnh có gốc rễ từ trong minh triết phương Đông. Mạnh tử từng đề ra thuyết tính thiện nổi tiếng: “Nhân chi sơ, tính bổn thiện” (Người ta lúc bắt đầu có sự sống, tính vốn thiện). Mạnh tử bảo: “Bậc có đức lớn vẫn giữ được lòng mình khi mới sinh ra” (Đại nhân bất thất kỳ xích tử chi tâm - Li Lâu hạ, bài 12)(1). Các bậc hiền triết thường có những tư tưởng lớn gặp nhau. Trong tác phẩm “Đạo đức kinh”, Lão tử khẳng định: “Người nào có đức dày thì như con đỏ” (Hàm đức chi hậu, tỉ ư xích tử)(2). Nhưng tại sao người đời khi “lớn lên” không phải ai cũng giữ mãi được sự minh triết của “con đỏ” như các bậc có đức dày? Đó là vì cùng với sự lớn lên về trí năng thì trí xảo, cơ mưu có khi đi kèm là nguy cơ, là tai hoạ mà nhân loại xưa nay không phải bao giờ cũng biết cách phòng tránh, diệt trừ triệt để, hiệu quả. Lão tử trong “Đạo đức kinh” từng phân tích, cảnh báo về điều này: “Thời xưa, người khéo dùng đạo trị nước thì không làm cho dân khôn lanh cơ xảo, mà làm cho dân đôn hậu chất phác. Dân sở dĩ khó trị là vì nhiều trí mưu” (Cổ chi thiện vi đạo giả, phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi. Dân chi nan trị, dĩ kỳ trí đa)(3), “Trí xảo xuất hiện rồi mới có trá ngụy” (Trí tuệ xuất, hữu đại nguỵ)(4). Cùng chung mối ưu tư trĩu nặng tự nghìn xưa của các triết nhân, nhạc Trịnh đã soi chiếu, cảnh tỉnh về những mặt trái, mặt tối của lòng người: “Đời đã cho tôi một ngày, nhìn thấy gian manh loài người, từ đó tôi hằng biếng vui chơi” (Chỉ có ta trong một đời), “Những con mắt thù hận, cho ta đời lạnh căm… Những con mắt bạc tình, cháy tan ngày thần tiên” (Những con mắt trần gian). Bởi vậy, nhạc Trịnh mang nỗi tiếc nuối, ngậm ngùi da diết khi con người đã xa dần với thuở “nhân chi sơ”, thuở ấu thơ: “Ngày nay không còn bé, tôi quên sống thật thà, tôi đã không còn là, là hạnh phúc ngu ngơ. Ngày nay sao buồn thế, những sáng hay đêm về vẫn thấy rất ơ hờ, bình yên như kiếp đá. Ngày nay thôi đành nhé, tôi như đá nặng nề, trong giây phút tình cờ rớt xuống mịt mù” (Ngày nay không còn bé), “Ôi hư vô phong kín, tuổi thơ ngây mong manh” (Lời của dòng sông). Trước vấn nạn “lớn lên” về trí xảo, con người phải tìm giải pháp gì, phương thuốc gì để chữa trị hữu hiệu? Lão tử khuyên nên quay về với đạo, cụ thể là quay về với cái gốc của đạo. Xuất phát từ khái niệm “đạo” được nêu lên trong “Đạo đức kinh”: “Đạo vĩnh viễn không có tên, nó chất phác” (Đạo thường vô danh, phác)(5), Lão tử đã đưa ra phép chữa trị là dùng cái “chất phác” này để ngăn chặn trí xảo: “Trong quá trình biến hoá, tư dục của vạn vật phát ra thì ta dùng cái mộc mạc vô danh (tức bản chất của đạo) mà trấn áp hiện tượng đó, khiến cho vạn vật không còn tư dục nữa” (Hoá nhi dục tác, ngô tương trấn chi dĩ vô danh chi phác. Phù diệc tương vô dục)(6). Do đó, Lão tử khuyên con người “trở về mộc mạc” (phục quy ư phác), “trở về trẻ thơ” (phục quy ư anh nhi)(7), tức là trở về với bản tính tự nhiên, chất phác ban đầu, chưa bị đánh mất. Trong nhạc Trịnh, con người có những lúc được “trở về trẻ thơ” như vậy, được tìm lại “thời gian đã mất”, được sống trọn vẹn với bản tính hồn nhiên nguyên sơ: “Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà” (Đêm thấy ta là thác đổ), “Tôi đã yêu em như trẻ thơ” (Trong nỗi đau tình cờ). Đời người ai chẳng từng có một tuổi thơ được chắp cánh mộng vút bay theo từng cánh diều vui: “Thằng bé xinh xinh ra đồng giữa ngọ, thả con diều nhỏ bay giữa mênh mông. Mênh mông là trời bầu trời mênh mông. Mênh mông lòng người lòng người mênh mông. Mênh mông nụ cười rạng ngời tim non. Tim non rạng ngời” (Ra đồng giữa ngọ). Cánh diều trong nhạc Trịnh tan trong cội nguồn hay chính đó là giấc mơ được tái sinh trở lại của con người với cội nguồn uyên nguyên, cội nguồn minh triết của vũ trụ, của Đạo Trời: “Thằng bé xinh xinh ra đồng giữa ngọ, ngờ đâu hội ngộ tan giữa hư không. Tan trong trời hồng làm giọt mưa trong. Tan trong cuộc đời làm lời ru trong. Tan trong nụ cười gọi mời yêu thương. Tan trong cội nguồn” (Ra đồng giữa ngọ). Quả là như thế, vì Trịnh Công Sơn đã từng viết khi nhớ đến cõi “Thiên Thai” của Văn Cao: “Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi”(8). “Trở về trẻ thơ” là phép màu để diệt trừ trí xảo, dối gian. Còn để diệt trừ phiền não, nhạc Trịnh có phép màu nào? Minh triết về giải thoát phiền não Vì đứa trẻ trong nhạc Trịnh có khi là do người lớn hoá thân, nên khi đó, ở đứa trẻ này, sự hồn nhiên thơ trẻ đã dần nhường chỗ cho những suy tư nặng lòng về nhân thế và phận người: “Tôi như trẻ nhỏ, ngồi bên hiên nhà, chờ xem thế kỷ tàn phai. Tôi như trẻ nhỏ tìm nơi nương tựa, mà sao vẫn cứ lạc loài” (Tự tình khúc). Ngay cả tiếng khóc ban đầu thuở sơ sinh của đời người cũng được nhạc Trịnh nghiệm ra là tiếng ưu phiền, là “tin buồn”, la “phúc âm buồn”: “Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi, tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người” (Gọi tên bốn mùa), “Tiếng khóc ban đầu, ban đầu còn đau, còn đau, còn đau” (Lời mẹ ru). Điều này, thuở trước, ở thế kỷ XVIII, nhà thơ Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) qua tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” đã từng nghiệm thấy: “Thảo nào khi mới chôn nhau Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra!”. Vậy Trịnh Công Sơn không phải là người đầu tiên suy nghiệm về những phiền não của đời người bắt nguồn từ tiếng khóc lọt lòng. Nhưng Trịnh Công Sơn với dòng nhạc “hát kinh” về phận người đã miệt mài tìm cách hoá giải tiếng khóc, hoá giải phiền não. Đây là đóng góp độc đáo đã làm nên hiệu ứng nghệ thuật mạnh mẽ của nhạc Trịnh. Trước hết, muốn hoá giải niềm đau, hoá giải phiền não thì không nên xa lánh nó mà phải sống với nó, “lắng nghe” nó, chịu đựng nó: “Đôi khi thấy trăm vết thương rồi như đá ngây ngô” (Rồi như đá ngây ngô), “Đôi khi ta lắng nghe ta, nghe sóng âm u dội vào đời buốt giá, hồn ta gió cát phù du bay về” (Tình xa), “Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ, dưới chân ngày cỏ xót xa đưa” (Cỏ xót xa đưa), “Với những cuộc tình bão tố lênh đênh, xin có một lần uống chén muộn phiền” (Vườn xưa), “Cho tôi đi qua tận gập ghềnh, nhìn dòng máu trong tim anh” (Xin cho tôi). Chịu đựng nỗi buồn, nỗi cô đơn da diết, chịu đựng cả nỗi chết đang “ăn lan” từng giờ vào đời người: “Tôi như mọi người mong ngày sẽ tới, nhưng khi về lại thu mình góc tối, trong tôi rụng đầy bao nhiêu nụ cười, có nói được gì những tiếng bi ai, có tiếng tù và hối thúc trong tim, có đếm từng giờ trong khi nằm bệnh, có nhớ vài lần những má môi xinh” (Bay đi thầm lặng). Con người minh triết trong nhạc Trịnh đã coi sống là một sự trải nghiệm như vậy, trong đó có trải nghiệm nỗi khổ, điều mà Phật giáo gọi là “khổ đế” - chân lý về sự khổ, chân lý thứ nhất trong bốn chân lý giác ngộ của Phật giáo (tứ diệu đế), điều mà triết học hiện sinh gọi là sự nghiệm sinh. Giá trị của sự trải nghiệm này được Trịnh Công Sơn nói đến trong bài viết “Hư vô”: “Hãy đau đớn đi. Biết đau nỗi đau của người khác và của chính mình là dấu hiệu của lòng nhân ái. Cái tín hiệu ấy phát đi và mọi người nhận được”(9). Và Trịnh Công Sơn khẳng định điều đã “ngộ” được: “Vì có khổ đau nên có âm nhạc” (Để bắt đầu một hồi ức - Thế giới âm nhạc, tháng 1/1997). Như vậy, khổ là một “động lực” của cuộc đời, một “động lực” của sáng tạo nghệ thuật, của thăng hoa, vấn đề là tìm cách chuyển hoá nó thành “động lực”. Không thể giải thoát phiền não bằng cách xa lánh phiền não được, vậy làm sao chuyển hoá nó? Phật giáo Đại thừa khẳng định, phiền não tức bồ đề (bodhi, nghĩa là tỉnh thức, giác ngộ), phiền não tức là giác ngộ. Tại sao hai khái niệm đối nghịch nhau là “phiền não”, “giác ngộ” lại có gốc rễ liên quan với nhau? Theo nhà Phật, mầm của giải thoát mọc ngay trong sự phiền não. Bồ đề, giải thoát sẵn có nơi mỗi người, nhưng do phiền não dấy lên che khuất, khi ta làm cho phiền não lắng xuống, bồ đề, giải thoát sẽ xuất hiện. Như một ly nước đục, khi lọc hết chất bẩn, nước sẽ trong trở lại. Nhà Phật cho rằng sự giải thoát không phải từ nơi nào khác đến mà nó nằm ngay trong phiền não, nên mới nói phiền não tức là bồ đề. Tinh thần sống chung với phiền não, tìm cách chuyển hoá phiền não được Trịnh Công Sơn đề cập trong bài viết “Tin vào niềm tuyệt vọng”: “Phải chăng thở than cũng là niềm bí ẩn của con người”, “Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa”, “Tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng”. Trong nhạc Trịnh, ta bắt gặp không ít trạng huống sống chung với phiền não, lắng cặn phiền não để cho tâm hồn được giải thoát, thăng hoa. Này là cách thể nhập với hồn thiền của núi cao để nỗi buồn lắng xuống: “Một hôm buồn lên núi nằm xuống” (Tự tình khúc), lời hát gợi nhớ đến câu của triết gia Nietzsche: “Triết lý, đó là đời sống trong băng lạnh và trong núi cao”. Này là giọt nước mắt đau thương làm mềm chăn gối, làm lay động cỏ cây, hồn người: “Hãy khóc hãy khóc đi em, hãy khóc hãy khóc đi em, dòng nước mắt sẽ bay trong trời, làm cơn mưa rớt trên chăn gối, lời cỏ cây hát trên da người” (Hãy khóc đi em). Này là trái tim biết chữa lành vết thương để tấu nên khúc nhạc dâng đời: “Trong trái tim con chim đau nằm yên, ngủ dài lâu mang theo vết thương sâu, một sớm mai chim bay đi triền miên, và tiếng hót tan trong trời gió lên” (Để gió cuốn đi). Và như thế, xuất hiện với tần suất dày đặc trong nhạc Trịnh là các trạng huống giải thoát nằm trong phiền não, niềm vui mọc cánh từ trong nỗi buồn, tình yêu, tình người nảy nở từ trong đau thương, cuộc chơi vút lên từ hữu hạn và nghiệt ngã của thời gian, của phận người: “Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người. Còn cuộc đời ta cứ vui, dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai” (Để gió cuốn đi), “Hãy cứ vui chơi cuộc đời, dù ngày mai em như chim bay, bỏ quên đây một người, hát bên trời gian dối, dù ta như con đường dài vắng người. Hãy cứ vui như mọi ngày, nhìn người đi như mây vô danh, dù chân xưa dặm nghìn, vẫn như còn thấp thoáng, dù trong ta đêm thì thầm tiếng buồn” (Hãy cứ vui như mọi ngày), “Đêm ta nằm bóng tối che ngang, đêm ta nằm nghe tiếng trăm năm gọi thì thầm, gọi thì thầm, gọi thì thầm. Đêm nghe trời như hú như than, ta nghe đời như có như không, còn lại mình đời bồng bềnh, đời buồn tênh. Còn đây có bao ngày, còn ta cứ vui chơi, rồi mai sẽ ra đi, dù nhớ thương con người. Còn đây những đêm này, còn em hãy yêu tôi, đời đốt nến chia phôi, dù nhớ thương cũng hoài” (Còn có bao ngày), “Hãy yêu nhau đi quên ngày u tối, dù vẫn biết mai đây xa lìa thế giới, mặt đất đã cho ta những ngày vui với, hãy nhìn vào mặt người lần cuối trong đời” (Hãy yêu nhau đi), “Ru đời đi nhé, cho ta nương nhờ lúc thở than” (Ru đời đi nhé), “Dù còn phút cuối, xin em nụ cười” (Vẫn nhớ cuộc đời), “Những con mắt trần gian, xin nguôi vết nhục nhằn, những con mắt muộn phiền, xin cấy lại niềm tin” (Những con mắt trần gian). Minh triết của thiền Nhạc Trịnh thấm đẫm chất thiền cả trong giai điệu lẫn ca từ. Một trong những sức mạnh nghệ thuật của nhạc Trịnh là đã tạo nên hình tượng người thiền minh triết. Người thiền nhìn đời bằng con mắt thiền. Con mắt thiền không nhìn đời theo lối phân chia “nhị nguyên”: âm/dương, có/không, được/mất, buồn/vui, yêu thương/thú dữ: “Con mắt còn lại nhìn một thành hai, nhìn em yêu thương nhìn em thú dữ. Con mắt còn lại ngờ vực tình tôi cuồng điên yêu thương cuồng điên nỗi nhớ” (Con mắt còn lại). Con mắt thiền nhìn theo phép “nhất nguyên”, nói theo ngôn ngữ nhà Phật là “pháp bất nhị” (Atvatya - không hai), nói theo ngôn ngữ triết học là nhìn thấy “hai mặt của một vấn đề”, nói theo ngôn ngữ đời thường là nhìn thấy “hai trong một”. Dưới cái nhìn minh triết của thiền cũng như minh triết của phương Đông, trong âm có dương, trong dương có âm, trong phúc có hoạ, trong hoạ có phúc, trong mùa đông có chồi lộc tiềm tàng của mùa xuân, trong nỗi buồn có mầm mống của niềm vui. Vì thế nên Trịnh Công Sơn đã viết: “Buồn vui kia là một” (Nguyệt ca). Người thiền minh triết trong nhạc Trịnh vượt lên lối phân chia “nhị nguyên”, sống và trải nghiệm cùng lúc với các hiện tượng đối nghịch, các trạng huống tâm lý trái ngược nhau: “Không xa ngậm ngùi và cũng không xa nụ cười …Không xa đời và cũng không xa mộ người Không xa rạng ngời và cũng không xa đọa đày …Không xa người và cũng không xa mặt trời Không xa tình đầy và cũng không xa lạc loài …Không xa tình và cũng không xa thù hận Không xa nồng nàn và cũng không xa lạnh lùng …Không xa bờ và cũng không xa mịt mù Không xa cửa nhà và cũng không xa ngục tù …Không xa trời và cũng không xa phận người Không xa một ngày và cũng không xa một đời” (Đời cho ta thế). Con mắt thiền nhìn sâu vào thế giới hiện hữu: “Con mắt còn lại nhìn đời là không, nhìn em hư vô nhìn em bóng nắng. Con mắt còn lại nhẹ nhàng từ tâm” (Con mắt còn lại). “Đời là không”, chữ “không” ở đây Trịnh Công Sơn mượn từ một khái niệm chính yếu của Phật giáo, khái niệm “Tính Không”. Chữ “không” (empty) này không có nghĩa là “không” (no) có, mà nghĩa là “trống rỗng”, chỉ một thể tính vô biên, nằm ngoài lối phân chia nhị nguyên, lối phân biệt có và không. Theo Phật giáo, mọi sự vật vốn có, nhưng không có tự tính độc lập, không có bản thể riêng biệt mà do những thứ khác, tức là do duyên hợp thành, nên gọi là “không”, “không” không có nghĩa là “không có” mà cái “có” nhìn thấy bằng mắt thường không phản ánh đúng thể tính của sự vật. Ví dụ thân thể con người được hình thành từ bốn cái lớn (tứ đại) trong vũ trụ: đất (tạo nên thịt xương), nước (máu, chất lỏng), gió (hơi thở), lửa (năng lượng), nghĩa là vay mượn của trời đất, không có tự tính độc lập, một ngày kia sẽ trả lại đất trời. Cái nhìn của Phật giáo ở đây có sự gặp gỡ với cái nhìn của các nhà khoa học về sau này. Đó là cái nhìn vào thể tính của sự vật, giống như nhà khoa học nhìn cái bàn, thấy cái bàn “có” đó là “không”, cái bàn đó “không có bản thể riêng” mà đó chính là sự liên kết của các hạt điện tử (electron, proton, neutron) tạo thành. Nhà Phật và nhà khoa học đều nhìn thấy thân thể con người, cái bàn… là “trống rỗng”, là “không”, nhưng là “không mà có, có mà không”, (sắc tức là không, không tức là sắc). Dưới cái nhìn xoáy sâu vào bản thể đó, Phật giáo cho rằng con người dứt được những tri kiến sai lầm, vọng tưởng, đạt đến một tâm thể thanh tịnh, tỉnh thức, giác ngộ, gọi là Phật tính, thấy rằng có với không là một, ta với người là một. Tâm từ bi do đó phát nguyện: “Con mắt còn lại nhẹ nhàng từ tâm”. Trải nghiệm đời, hiểu bản chất của đời: “Đời cho ta thế”, người hành thiền có sự ung dung, tự tại, sự vững tâm trong bất luận hoàn cảnh nào: “Đời cho ta thế cứ hãy cất bước đi mọi nơi, gặp nhau trong phố xin yêu khôn nguôi những thân người. Đời cho ta thế hãy cứ sống tới như mọi ai, mặc dòng sông kia sẽ cuốn đất cát ra biển khơi… Đời cho ta thế đứng giữa bão tố không buồn vui, tự nghìn năm xưa bao nhiêu chim muông đã xa bầy” (Đời cho ta thế). Thiền là trạng thái sâu lắng của tâm thức, khi tâm thức chỉ tập trung chú ý đến một đối tượng thuộc tâm hay vật. Người thiền trong nhạc Trịnh có khi “nhìn suốt một mối tình”: “Hãy nghiêng đời xuống, nhìn suốt một mối tình, chỉ lặng nhìn không nói năng, để buốt trái tim, để buốt trái tim” (Để gió cuốn đi). Có khi nhìn sâu vào tâm cảm của mình và chứng nghiệm được một trạng thái thăng hoa thật lạ lùng, thần diệu: “Nhiều đêm thấy ta là thác đổ, tỉnh ra có khi còn nghe” (Đêm thấy ta là thác đổ). Hoàng Ngọc Hiến đã viết bài “Một bài thơ hay của Trịnh Công Sơn”, tiến cử bài “Đêm thấy ta là thác đổ” là bài thơ tình hay của thế kỷ và bình rất sâu về tiếng thác đổ trong nhạc Trịnh: “Sự mãnh liệt của tình yêu thường được so sánh với bão táp (Cơn bão tới rồi, tiếng rì rầm nước, lửa..., Maiacopxki). Cơn bão nào rồi cũng tan. Trận bão nào cũng để lại tan hoang, phá phách. Thác đổ cũng mãnh liệt. Nhưng đây là sự mãnh liệt vĩnh cửu và không hề có sự phá phách. Thác đổ là “tình yêu vô cùng””(10). Đúng vậy, trái tim yêu đập nhịp bằng mãnh lực của thác đổ và trái tim-ngọn thác đó đang thiền về chính nó, một cuộc thiền bất tận “tỉnh ra có khi còn nghe”. Đó là nghe hữu thanh. Để rèn tâm tĩnh lặng tuyệt đối, người thiền nghe được cả vô thanh. Có câu chuyện thiền “Tiếng vỗ của một bàn tay”. Thiền sư Nhật Bản Mokurai trụ trì chùa Kennin có một đệ tử nhỏ mới 12 tuổi tên là Toyo. Thấy các đệ tử đàn anh vào phòng thầy để được hướng dẫn về cách dùng công án chặn tâm trí đi lang thang, Toyo cũng muốn được học. Thầy bảo: “Đợi một thời gian đã. Con còn nhỏ”. Nhưng vì Toyo xin mãi, rốt cuộc thầy cũng đồng ý. Thầy nói: “Con có thể nghe âm thanh của hai bàn tay khi hai tay vỗ vào nhau. Bây giờ, con chỉ cho thầy tiếng vỗ của một bàn tay”. Toyo cúi chào thầy và về phòng suy nghĩ. Có tiếng nhạc của các cô geishas vọng đến. “A, tôi có rồi!” - Toyo mừng thầm. Sáng hôm sau, khi thầy bảo Toyo trình bày tiếng vỗ của một bàn tay, Toyo diễn tả lại tiếng nhạc của geishas. Thầy bảo: “Không, không. Không bao giờ được. Đó không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Con chẳng hiểu gì cả”. Toyo bèn tìm đến một nơi yên lặng hơn để thiền định. Nghe tiếng nước nhỏ giọt, Toyo thầm nghĩ: “Tôi có rồi”. Khi đến gặp thầy, Toyo diễn tả tiếng nước nhỏ giọt. Thầy hỏi: “Cái gì vậy? Đó là tiếng nước nhỏ giọt, nhưng không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Cố thêm đi”. Toyo lại nghe tiếng thở dài của gió. Thầy cũng gạt đi âm thanh ấy. Tiếng ve kêu ư, lại cũng không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Hơn mười lần vào thăm thầy, Toyo dẫn thêm những âm thanh khác nhau nhưng thầy đều bác đi. Suốt năm, Toyo trăn trở tìm câu trả lời. Cuối cùng, Toyo thiền định thật sự và vượt lên trên tất cả mọi âm thanh. Toyo chứng ngộ: “Tôi chẳng còn tìm được tiếng nào nữa, vì vậy tôi đạt được âm thanh im lặng”. Toyo đã nghe được tiếng vỗ của một bàn tay. Sự nghe được âm thanh của vô thanh, nghe được “âm thanh im lặng” này được thể hiện sâu sắc qua ca khúc đậm chất thiền “Tôi đang lắng nghe” của Trịnh Công Sơn: “Im lặng dòng sông, tôi đã lắng nghe. Im lặng ngọn đồi, tôi đã lắng nghe. Im lặng thở dài, tôi đã lắng nghe. Tôi đã lắng nghe im lặng thở dài. Sau cơn bão qua im lặng mặt người, nghe bao nỗi đau trên một bàn tay. Tôi đang lắng nghe im lặng cuộc tình. Sau một cuộc tình tôi đang lắng nghe, khi hoa héo khô im lặng nụ tàn. Tôi đang lắng nghe, tôi đang lắng nghe, tôi đang lắng nghe im lặng đời mình”. Khi lắng nghe được cái vô cùng của vô thanh, lắng nghe được “tiếng vỗ của một bàn tay” như vậy, người thiền trong nhạc Trịnh đạt đến tâm tĩnh lặng tuyệt đối. Khoa học ngày nay đã đo được tâm tĩnh lặng bằng điện não đồ EEG. Khi con người đạt được tâm tĩnh lặng, tần số rung động của não bộ giảm xuống còn 8 - 10 Hz, gọi là tần số Alpha. Ở tần số này, não bộ hoạt động rất hữu hiệu, minh mẫn, sáng suốt, có nhiều năng lực lắng nghe và thấu hiểu, thấu cảm, hoà hợp với mọi người, nói như Trịnh Công Sơn là “lòng chợt từ bi bất ngờ”. Minh triết của trái tim Bên cạnh trí tuệ duy lý (với chỉ số đo là IQ), khoa học ngày nay đánh giá cao vai trò của trí tuệ cảm xúc (với chỉ số đo là EQ). Cùng với sự thông minh của lý trí (trí tuệ duy lý), con người cần có sự thông minh của tâm hồn (trí tuệ cảm xúc) mới đạt đến sự phát triển toàn diện, hài hoà về phẩm người. Âm nhạc có khả năng làm cho con người thông minh thêm, trong đó có sự thông minh của tâm hồn (do đó mà các bà mẹ mang thai thường nghe nhạc Moda, Betthoven, Traicopxki… để “thai giáo” cho con, giúp cho đứa con trong bào thai phát triển trí não). Những cảm xúc mạnh mẽ, dâng trào của lòng người thường được nghệ thuật biểu đạt thông qua hình ảnh biển, vì biển thể hiện được cái lớn lao, mênh mông, cái nhân văn vô cùng của tình người: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào” (“Lòng mẹ”, Y Vân), “Những ngày không gặp nhau, biển bạc đầu thương nhớ” (“Thuyền và biển”, thơ Xuân Quỳnh, nhạc Phan Huỳnh Điểu)… Nhạc Trịnh đã dâng đời ca khúc lừng danh “Biển nhớ” thể hiện nỗi nhớ tình yêu chứa chan như hồn biển dâng trào: “Ngày mai em đi, biển nhớ em quay về nguồn, gọi trùng dương gió ngập hồn”. Tuy nhiên, hình ảnh biển trong nhạc Trịnh vừa giống, vừa không giống với biển trong các thi phẩm, nhạc phẩm của các thi sĩ, nhạc sĩ khác. Mối tương quan giữa biển và bờ thường được dùng để chỉ khát vọng tình yêu dạt dào, mãnh liệt vô cùng như trong bài thơ “Biển” nổi tiếng của ông hoàng thơ tình Xuân Diệu: Anh xin làm sóng biếc Hôn mãi cát vàng em Hôn thật khẽ, thật êm Hôn êm đềm mãi mãi Đã hôn rồi, hôn lại Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt... Cũng có khi ào ạt Như nghiến nát bờ em Là lúc triều yêu mến Ngập bến của ngày đêm hay trong ca khúc “Biển khát” của Trương Ngọc Ninh: “Biển khát, biển khát bờ”. Với nhạc Trịnh thì khác. Trịnh Công Sơn không chỉ thấy cái “vô cùng” mà còn thấy cả cái “giới hạn” của biển. Trong ca khúc “Lặng lẽ nơi này”, một ca khúc mà tiết tấu thể hiện nhịp vỗ dập dồn, đưa đẩy của biển, sau khi hát về “Tình yêu như biển, biển rộng hai vai”, Trịnh Công Sơn đã hạ một câu nghe sửng sốt, bàng hoàng: “Tình yêu như biển, biển hẹp tay người, biển hẹp tay người lạc lối”. Ít ai viết “biển hẹp”. Vì âu lo biển hẹp nên nhạc Trịnh có nhiều ca khúc nhắn nhủ biển như “Biển nghìn thu ở lại”: “Biển đánh bờ, xôn xao bờ đánh biển. Đừng đánh nhau… Ơi biển sẽ tàn phai. Đừng gạch tên vì yêu đừng xé nát. Biển là em ngọt đắng trùng khơi”, đặc biệt là ca khúc “Sóng về đâu”: “Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã dưới chân người. Biển sóng biển sóng đừng xô nhau. Ta xô biển lại sóng về đâu”, “Biển sóng biển sóng đừng xô nhau. Ta xô biển lại sóng nằm đau. Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã giữa tim người”, “Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng cho tôi thấy hết tim người”, “Biển sóng biển sóng đừng âm u, đừng nuôi trong ấy trái tim thù”. Cả giai điệu và ca từ ca khúc “Sóng về đâu” đều nhấn mạnh nhiều lần và đẩy lên cao trào lời nhắn nhủ: “Đừng xô nhau”. Cấp độ của lời nhắn mỗi lúc một gia tăng, riết róng và giá trị cảnh báo, lay động, thức tỉnh nhân tâm của lời nhắn sau vì thế càng cao hơn, mạnh hơn lời nhắn trước. Từ câu đầu: “Đừng xô tôi ngã dưới chân người” chuyển sang câu sau đã là: “Đừng xô tôi ngã giữa tim người”, ngã dưới chân người chắc chắn là không đau đớn, xót xa, tê tái bằng ngã giữa tim người. Từ câu đầu lời nhắn còn e ấp, tế nhị: “Đừng cho tôi thấy hết tim người” đến câu sau đã là lời cảnh tỉnh thẳng thắn và mạnh mẽ: “Đừng nuôi trong ấy trái tim thù”. Từ câu đầu chỉ mới là câu hỏi: “Ta xô biển lại sóng về đâu” đến câu sau đã là câu trả lời khẳng định: “Ta xô biển lại sóng nằm đau”. Ca khúc “Sóng về đâu” mang đậm tính minh triết, đó là minh triết của trái tim, của trí tuệ cảm xúc (EQ). Trí tuệ cảm xúc thể hiện ở năng lực làm chủ cảm xúc và năng lực thông cảm với người khác. Năng lực làm chủ cảm xúc (phân tích cảm xúc, kìm chế những dục vọng xung động…) thể hiện tập trung qua hàng loạt từ “đừng” trong các ca khúc “Biển nghìn thu ở lại”, “Sóng về đâu”… Biển đừng đánh bờ, sóng “đừng xô tôi”, sóng đừng xô nhau, đó là lời kêu gọi đánh thức năng lực thông cảm, thấu cảm với người khác, để cho biển và bờ giao cảm, để cho lớp lớp sóng biển giao hoà, để cho giữa người với người không còn hơn, thua, được, mất, nói theo ngôn ngữ hiện đại là để cho các bên cùng được, cùng thắng - thắng. Minh triết nào đã khơi nguồn cho Trịnh Công Sơn viết nên ca khúc tuyệt vời “Sóng về đâu”? Trong bài “Phải biết sống hết mình trong mỗi sát na của hiện tại” viết cho Nguyệt san Giác ngộ 4/2001, Trịnh Công Sơn cho biết: “Cuối năm 1995, tôi có viết được một bài hát mà tôi rất thích và bạn bè ai cũng thích. Đó là bài “Sóng về đâu”. Bài này lấy cảm hứng từ câu kệ: “Gaté Gaté. Paragaté. Parasamgaté. Bodhi svaha””. Câu kệ mà Trịnh Công Sơn đã dẫn lấy từ “Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm-Kinh” của Phật giáo Đại thừa: “Yết đế Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha”, nghĩa là: Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó. Qua bên kia rồi tức là vượt qua bến mê để đến bờ giác. Con người minh triết là con người biết vượt qua chính mình, vượt qua những mê lầm, phiền não để giữ được chân tâm của mình, đó là chân tâm của đứa trẻ minh triết, của người thiền giải thoát phiền não, đó là chân tâm giàu “trí tuệ cảm xúc”. Nhạc Trịnh đã góp phần nâng đỡ tâm hồn con người trong những cuộc vượt qua như vậy, chống chọi tuyệt vọng, chiến thắng chính mình, vì thế, nhạc Trịnh luôn chứa đầy hấp lực cứu rỗi của “bài kinh cầu bên vực thẳm” (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Vì thế, hát nhạc Trịnh cần một sự thể nhập sâu lắng vào bản nhạc và cần một nội lực thâm hậu của thiền tâm, hát như người tình trong “Đoá hoa vô thường”: “Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông”. N.H (263/01-11) --------------------------------- (1) Dẫn theo Nguyễn Hiến Lê (chú dịch và giới thiệu), Lão tử Đạo đức kinh, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1994, tr. 119. (2), (3), (4), (5), (6), (7) Nguyễn Hiến Lê (chú dịch và giới thiệu), Lão tử Đạo đức kinh, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1994, tr. 244, 257, 190, 213, 219 - 220, 206 - 207. (8) Trịnh Công Sơn, Trong âm nhạc,Văn Cao sang trọng như một ông hoàng, dẫn theo Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội, 1996, tr. 247. (9) Nguồn: http://www.suutap.com. (10) Bài của Hoàng Ngọc Hiến đăng lần đầu trên báo “Người đẹp Việt Nam”, số Tết năm 2000. |
Tải mã QRCode
TRẦN THANH HÀTrong giới học thuật, Trương Đăng Dung được biết đến như một người làm lý luận thuần tuý. Bằng lao động âm thầm, cần mẫn Trương Đăng Dung đã đóng góp cho nền lý luận văn học hiện đại Việt đổi mới và bắt kịp nền lý luận văn học trên thế giới.
PHẠM XUÂN PHỤNG Chu Dịch có 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào. Riêng hai quẻ Bát Thuần Càn và Bát Thuần Khôn, mỗi quẻ có thêm một hào.
NGÔ ĐỨC TIẾNPhan Đăng Dư, thân phụ nhà cách mạng Phan Đăng Lưu là người họ Mạc, gốc Hải Dương. Đời Mạc Mậu Giang, con vua Mạc Phúc Nguyên lánh nạn vào Tràng Thành (nay là Hoa Thành, Yên Thành, Nghệ An) sinh cơ lập nghiệp ở đó, Phan Đăng Dư là hậu duệ đời thứ 14.
HỒ THẾ HÀLTS: Văn học Việt về đề tài chiến tranh là chủ đề của cuộc Toạ đàm văn học do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức ngày 20 tháng 12 năm 2005. Tuy tự giới hạn ở tính chất và phạm vi hẹp, nhưng Toạ đàm đã thu hút đông đảo giới văn nghệ sĩ, nhà giáo, trí thức ở Huế tham gia, đặc biệt là những nhà văn từng mặc áo lính ở chiến trường. Gần 20 tham luận gửi đến và hơn 10 ý kiến thảo luận, phát biểu trực tiếp ở Toạ đàm đã làm cho không khí học thuật và những vấn đề thực tiễn của sáng tạo văn học về đề tài chiến tranh trở nên cấp thiết và có ý nghĩa. Sông Hương trân trọng giới thiệu bài Tổng lược và 02 bài Tham luận đã trình bày ở cuộc Toạ đàm.
TRẦN HUYỀN SÂM1. Tại diễn đàn Nobel năm 2005, Harold Pinter đã dành gần trọn bài viết của mình cho vấn đề chiến tranh. Ông cho rằng, nghĩa vụ hàng đầu của một nghệ sĩ chân chính là góp phần làm rõ sự thật về chiến tranh: “Cái nghĩa vụ công dân cốt yếu nhất mà tất cả chúng ta đều phải thi hành là... quyết tâm dũng mãnh để xác định cho được sự thật thực tại...
NGUYỄN HỒNG DŨNG"HỘI CHỨNG VIỆT NAM"Trong lịch sử chiến tranh Mỹ, thì chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh mà người Mỹ bị sa lầy lâu nhất (1954-1975), và đã để lại những hậu quả nặng nề cho nước Mỹ. Hậu quả đó không chỉ là sự thất bại trong cuộc chiến, mà còn ở những di chứng kéo dài làm ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống Mỹ, mà người Mỹ gọi đó là "Hội chứng Việt Nam".
BÍCH THUNăm 2005, GS. Phong Lê vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học với cụm công trình: Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu (Nxb ĐHQG, H, 2001, 540 trang); Một số gương mặt văn chương - học thuật Việt hiện đại (Nxb GD, H, 2001, 450 trang); Văn học Việt hiện đại - lịch sử và lý luận (Nxb KHXH. H, 2003, 780 trang). Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học say mê, tâm huyết và cũng đầy khổ công, vất vả của một người sống tận tụy với nghề.
THÁI DOÃN HIỂU Trong hôn nhân, đàn bà lấy chồng là để vào đời, còn đàn ông cưới vợ là để thoát ra khỏi cuộc đời. Hôn nhân tốt đẹp tạo nên hạnh phúc thiên đường, còn hôn nhân trắc trở, đổ vỡ, gia đình thành bãi chiến trường. Tình yêu chân chính thanh hóa những tâm hồn hư hỏng và tình yêu xấu làm hư hỏng những linh hồn trinh trắng.
NGUYỄN THỊ MỸ LỘCLà người biết yêu và có chút văn hóa không ai không biết Romeo and Juliet của Shakespeare, vở kịch được sáng tác cách ngày nay vừa tròn 410 năm (1595 - 2005). Ngót bốn thế kỷ nay Romeo and Juliet được coi là biểu tượng của tình yêu. Ý nghĩa xã hội của tác phẩm đã được thừa nhận, giá trị thẩm mĩ đã được khám phá, hiệu ứng bi kịch đã được nghiền ngẫm... Liệu còn có gì để khám phá?
NGUYỄN VĂN HẠNH1. Từ nhiều năm nay, và bây giờ cũng vậy, chúng ta chủ trương xây dựng một nền văn nghệ mới ngang tầm thời đại, xứng đáng với tài năng của dân tộc, của đất nước.
HỒ THẾ HÀ(Tham luận đọc tại Hội thảo Tạp chí văn nghệ 6 tỉnh Bắc miền Trung)
LÊ GIA NINHNgày 10 tháng 10 năm 1955, Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bừng lên niềm vui, ngập trong cờ, hoa và nắng thu. Những chàng trai ngày “ra đi đầu không ngoảnh lại”, trải qua cuộc trường chinh ba ngàn ngày trở về trong niềm vui hân hoan và những dòng “nước mắt dành khi gặp mặt” (Nam Hà).
THANH TÙNGChống tham nhũng, đục khoét dân lành không chỉ là công việc của nhà chức trách mà còn ở tất cả mọi người dù ở chế độ xã hội nào. Các thi sĩ không chỉ làm thơ ca ngợi cuộc sống tình yêu, đất nước con người mà còn dùng ngọn bút thông qua nước thi phẩm của mình để lên án, vạch mặt bọn quan tham này.
NGÔ ĐỨC TIẾNTrong lịch sử các nhà khoa bảng ở Việt , ít có gia đình nào cả ba ông cháu, cha con đều đỗ Trạng nguyên. Đó là gia đình Trạng nguyên Hồ Tông Thốc ở Kẻ Cuồi, Tam Công, Thọ Thành, Yên Thành, Nghệ An.
PHẠM XUÂN NGUYÊN1. Trước hết ta phải bàn với nhau về chữ hay, tức thế nào là một tác phẩm hay. Bởi cái hay không bất biến trong không gian và thời gian, nó vận động và biến đổi tùy theo hoàn cảnh, với những tiêu chí cụ thể khác nhau.
TRẦN HUYỀN SÂMRuồng bỏ - Disgrace (1) là một cuốn tiểu thuyết mang phong cách giản dị. Nhưng đó là sự giản dị của một bậc thầy về thể loại roman. Giới lý luận văn học và các chính trị gia phương Tây (2) đã đặt ra những câu hỏi có tính hoài nghi. Điều gì ở cuốn sách có độ trang khiêm tốn này đã mang lại giải Nobel cho Coetzee: Vấn đề kỹ thuật tiểu thuyết, nỗi điếm nhục về nhân cách con người, hay là bi kịch lịch sử hậu Apartheid?
NGUYỄN THÀNHLịch sử phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX đánh dấu bởi nhiều khuynh hướng phê bình hiện đại: phê bình ấn tượng, phê bình phân tâm học, phê bình xã hội học, phê bình mác xít, phê bình thi pháp học...
TRẦN LỘC HÙNG“NỒI HƠI NGUYÊN TỬ” NGĂN NGỪA THẾ CHIẾN THỨ BAChuyện kể rằng sau cuộc thử nghiệm thành công của trái bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1949, cha đẻ của nó - Igor Vaxilevich Kurchatov - đã khóc nức nở.
HÀ VĂN THỊNHSố 7 là một con số huyền thoại. Nếu như tính xuất xứ xa nhất, công đầu về việc “tìm ra” số 7, thuộc về người Ai Cập, cách nay ít nhất 5.000 năm. Khi hiểu được rõ ràng việc con sông Nil chia làm 7 nhánh trước lúc đổ ra Địa Trung Hải, người Ai Cập vận “lý” để tin là nó nhất định phải hàm chứa nghĩa bí ẩn nào đó phản ánh cái “tư tưởng” triết lý của Đấng Tạo hóa.
TRẦN VIẾT THIỆNNăm 1987, người ta từ ngạc nhiên, ngỡ ngàng đến sững sờ trước sự trình làng của một cây bút đã vào độ tứ tuần. Tuổi bốn mươi lại là thời kỳ son sắt nhất của cây bút này, nói theo quan niệm của ông: “Đời viết văn cũng giống như đời người đàn bà”.