Con mọt sách

10:37 16/03/2010
BỒ TÙNG LINHLang Mỗ quê ở Bành Thành, con nhà học thức. Ngày nhỏ đã được nghe cha nói đến các sách quý và các sách khác trong nước, lại thường được nghe cha luận bàn với các bạn bè của ông về các loại sách và các nhà thơ cổ đại.

Ảnh: Internet

Phụ thân Lang Mỗ là một vị quan rất thanh liêm nên tài sản chẳng có gì đáng giá, lương bổng phần lớn dồn cho việc mua các sách quí. Trong nhà, sách cất giữ từ đời ông tổ, vì thế sau khi cha mất, di sản độc nhất chỉ là một căn gác những sách là sách. Cái đặc sắc truyền đời của gia đình này là sách ngày một nhiều thêm. Nên chi, con cái chỉ lớn lên trong tòa “ lâu đài” sách ấy mà chẳng hề biết tí gì về việc đời diễn ra ở ngoài song cửa. Còn như tiền là gì, làm sao để có tiền, thì hoàn toàn mù mịt. Khi cần, chỉ bán những thứ linh tinh lấy chút ít tiền đủ chi phí thôi. Dù thế nào cũng chẳng bao giờ bán một quyển sách. Do vậy, qua các đời kho sách ấy vẫn còn nguyên vẹn. Quyển có giá trị lớn nhất trong kho sách là Thiên KHUYẾN HỌC của Tống Chân Tông do chính tay phụ thân chàng chép lại. Xem ra là người cha muốn lấy bản chép làm lời di huấn. Lang Mỗ liền đem lồng kính bản chép tay ấy rồi treo lên tường trước bàn học để lúc nào cũng nhìn thấy dễ dàng, xem đó là kim chỉ nam cho cả đời mình, còn bao chung quanh lại bằng lụa cho khỏi bẩn bụi. Ý của Thiên KHUYẾN HỌC đại để: Đọc sách có thể khiến người ta chiếm được địa vị cao, hưởng vinh quang, tiến thân vào giới thức giả, đứng vào hàng những nhà phú quí, vàng bạc đầy nhà thóc gạo đầy kho. Trong sách vốn luôn sống những người đẹp như ngọc, vốn sẵn có những lầu vàng gác tía.

Chiếu từng mặt con chữ, Lang Mỗ cho rằng mỗi câu đều là sự thật mười phần. Chỉ cốt sao dốc lòng đọc sách, bền gan bền chí đọc sách là tất thảy điều nguyện cầu sẽ từ sách mà hiện ra thôi.

Ở tuổi mười tám, đôi mươi phần lớn bọn con trai đều ham sắc hơn ham học. Nhưng Lang Mỗ thì không thế, nên ai ai cũng kính phục chàng. Chàng chẳng chơi bời giao lưu bạn bè gì hết. Ngày ngày niềm sung sướng nhất của chàng là ngồi ngâm vịnh bằng giọng vang vang những áng văn chương tâm đắc. Thói quen tàng trữ sách không hề thay đổi. Từ hạ sang đông chỉ mặc mỗi một bộ quần dài áo chùng. Vẫn sống độc thân nên chẳng có ai nhắc nhở thay đổi áo quần. Đôi khi có người tới chơi thì cũng chỉ vài câu thăm hỏi chiếu lệ rồi mắt lại lim dim, cổ lại nhướng lên ngâm nga mấy bài thơ hoặc cao giọng bình vài thiên văn chương đến quên hết cả mình là ai. Người ta thấy Lang Mỗ chỉ còn là một con mọt sách, làm bầu làm bạn với anh chàng này buồn tẻ chán ngắt nên không một ai muốn ngồi lâu. Chàng đã từng lên kinh đô dự thi, nhưng bảng ra chẳng có tên mình. Tuy thi hỏng nhưng lòng yêu mê sách vẫn cứ rừng rực. Bởi lẽ chàng đã đặt hết niềm tin vào Thiên Khuyến học của Hoàng đế Tống Chân Tông. Cầu mong sự giàu có sang trọng, nhưng ước vọng mãnh liệt hơn là gặp được người con gái có sắc đẹp như ngọc. Nhưng theo lời dạy của Hoàng đế thì chỉ cần mình là bậc có học là công danh, của cải, ngựa xe tất tần tật đều có. Lời lời của Ngài là vàng ngọc, chẳng thể sai một ly.

Bỗng một hôm có cơn gió lớn đến cướp mất quyển sách chàng đang cầm trên tay vứt vào vườn hoa. Chàng chạy theo lấy chân chặn lại mấy lần mà quyển sách vẫn cuộn lăn long lóc. Bỗng chàng trượt chân ngã xuống một cái hố mà cỏ dại đã mọc kín.Nhìn thật kỹ mới thấy nào là bùn đất, lẫn cả mấy cây lúa đã trỗ bông. Chàng ngắt lấy những hạt lúa. Hẳn rằng ai đã đánh rơi thóc xuống đây tự bao giờ. Một bông lúa thì chẳng đáng gì, không nấu nổi bát cháo lót lòng. Tuy thế, chàng lại thấy nó ứng nghiệm với lời dạy của Hoàng đế. Rồi mấy ngày sau đó, khi lục tìm mấy quyển sách xưa chàng chợt trông thấy nơi tầng cao của giá sách có một cỗ xe ngựa nho nhỏ nằm lấp đằng sau đống sách. Đem xuống, phủi bụi bám thì lộ ra màu vàng lóng lánh. Chàng sướng rơn lên, mang khoe với bạn bè. Nhưng nhìn thật kỹ mới hay là mạ vàng chứ không phải vàng thật. Thế là chàng cụt hứng, thẫn thờ...

Sau ít lâu, có quan Thị Sát là bạn quen của phụ thân chàng trên đường tuần du đã dừng lại xem thử cỗ xe ngựa kia. Vị quan này lại là một phật tử ngoan đạo. Nhận thấy vật phẩm nghệ thuật này có thể hiến cho nhà chùa để thờ, ông liền trả cho Lang Mỗ ba trăm lạng bạc và hai con ngựa để mua lại cỗ ngựa xe ấy. Việc này khiến Lang Mỗ càng tin vào Thiên Khuyến học của Hoàng đế Tống Chân Tông. Bởi vì vàng bạc, xe ngựa, thóc lúa cái gì cũng ứng nghiệm cả. Mấy ai đã đọc Thiên Khuyến học mà lại tin mê như Lang Mỗ.

Năm đã ba mươi tuổi Lang Mỗ vẫn chưa chịu lấy vợ. Bạn bè khuyên chàng nên tìm chọn một người đẹp để giúp lo cho sự nghiệp lớn. Chàng vẫn khăng khăng gạt đi:

- Chẳng để làm gì cả! Điều chắc chắn là tôi sẽ tìm được một nàng có sắc đẹp lộng lẫy ở ngay trong sách, việc gì phải tìm ở đâu.

Niềm tin ấy của Lang Mỗ được loan truyền khắp nơi. Người ta lấy đó làm chuyện bông đùa, giễu cợt. Một lần, có người nói với Lang Mỗ.

- Lang Mỗ này, nàng Chức Nữ mê cậu lắm. Rồi sẽ có đêm nàng giáng trần thăm hỏi cậu đó.

Biết là mình bị giễu, Lang Mỗ im lặng. Lát sau mới trả lời:

- Vâng, cứ chịu khó đợi đó, rồi sẽ mục kích.

Đêm nọ, chàng đọc tập thứ tám quyển Hán thư, đến nửa tập thì thấy cái thẻ sách. Mặt trước thẻ có hình một mỹ nữ cắt bằng lụa và phía sau có hai chữ CHỨC NỮ. Chàng trân trân ngắm bức vẽ với tình cảm nôn nao khó tả. Lật qua lật lại, mân mó khá lâu rồi mới đặt lại chỗ cũ. Chàng suy nghĩ mông lung: Vậy là nghiệm rồi đây!

Trong các bữa hàng ngày chàng chỉ ăn nửa suất cơm rồi đứng ngây mà ngắm Chức Nữ trên thẻ sách ấy. Và hằng đêm trước lúc lên giường ngủ lại mở sách, cầm lấy chiếc thẻ mà ấp ủ ve vuốt. Cứ vậy, thời gian như thoi đưa với niềm sung sướng tưởng là bất tận. Lại một đêm nữa đang triền miên nỗi nhớ người đẹp trong sách thì bỗng nhiên người đẹp ngồi dậy từ trang sách, nhoẻn miệng cười với Lang Mỗ. Chàng mọt sách ngỡ ngàng nhưng cũng rất bình tĩnh, vội vàng đứng lên chắp tay vái chào người đẹp hết sức cung kính. Người đẹp cao chừng một thước (Trung Quốc). Chàng vái chào lần nữa rồi ấp hai tay vào ngực. Người đẹp từ trang sách bước xuống, lộ ra đôi chân nõn nà như ngọc. Và khi chân vừa chạm đất, nàng bỗng lớn cao, cao như mọi người chúng ta, đôi mắt liếc Lang Mỗ làm cho thần hồn chàng phiêu diêu tận miền cực lạc. Anh mắt ấy nói cho Lang Mỗ biết tình yêu chung thủy của nàng. Trời! người đẹp đến vậy! Chỉ thoáng nhìn thôi cũng tai qua nạn khỏi tất tần tật.

- Chàng thấy đó, em đã tới với chàng rồi. Chàng đợi em đã lâu chưa? Giọng dịu dàng, vẻ mặt tươi tắn, biết bao là tình ý mê người.

- Vậy nàng là ai nhỉ? Lang Mỗ hỏi, giọng run rẩy.

- Em là Như Ngọc, họ Nhan. Tuy chàng chưa từng quen biết em nhưng em thì đã biết chàng lâu lắm rồi. Em là người đẹp trong sách của chàng đó. Em vô cùng cảm kích khi biết chàng hoàn toàn tin tưởng vào các bậc thánh hiền. Vì thế em tự thấy rằng nếu mình không bước ra khỏi sách để chàng được kiến diện thì ai còn tin lời các thánh hiền nữa.

Mộng đã thành sự thật. Niềm tin đã được minh chứng. Nhan Như Ngọc không những đẹp đến ngẩn ngơ mà lúc đi lại, nói năng lại càng duyên dáng, say người. Nàng cúi xuống hôn chân chàng. Lang Mỗ đã không còn phải xấu hổ là anh chàng ngốc nghếch. Sống chung với người đẹp nhưng chàng vẫn biết kìm chế, không sàm sỡ. Ngồi bên nhau giữa đêm khuya mà chàng chỉ toàn bàn luận văn chương sử sách. Mãi như thế Nhan Như Ngọc cũng thấm mệt. Nàng nói:

- Khuya rồi chàng ạ. Ta đi ngủ thôi!

- Phải, ta đi ngủ thôi!

Nhan Như Ngọc thẹn thò. Nàng thổi tắt đèn để thay quần áo. Thật ra, khi hai người đã nằm chung một giường thì làm thế cũng là thừa. Nàng hôn chàng mọt sách và chúc:

- Ngủ ngon chàng nhé!

Chàng cũng chúc lại người đẹp:

- Ngủ ngon nàng nhé!

Lát sau, nàng trở mình, lại nói:

- Ngủ ngon chàng nhé!

Chàng cũng đáp lại:

- Ngủ ngon nàng nhé!

Có người đẹp sát kề đêm này sang đêm khác, chàng mọt sách sung sướng khôn tả, lại càng cố sức đọc sách đến tận khuya. Nhan Như Ngọc cứ ngồi trơ như tượng. Không nén nổi bực bội:

- Chàng dùi mài sách vở như thế để làm gì nhỉ? Em hiểu chàng đang mong ước đạt được công danh với chức quan lớn nên mới tới để giúp chàng. Nên em thiết tha mong chàng không phải khổ công như vậy làm gì. Mà chàng cần đi ra khỏi nhà tìm bạn kết thân. Chàng thử nghĩ lại mà xem những kẻ chỉ chú tâm dồn sức tìm quyền cao chức trọng thì có mấy khi họ cầm đến quyển sách nào. Sách họ đọc chẳng qua chỉ là mấy bộ Tứ Thư do Chu Hy chú giải với ba bộ Ngũ Kinh. Những người đỗ đạt qua các kỳ thi cũng đâu phải những người đọc nhiều sách. Đừng có ngây si ra như vậy chàng ạ. Nghe lời em khuyên đi: đừng đọc sách nữa!

Nghe Nhan Như Ngọc nói chàng mọt sách hết sức ngạc nhiên, nghệt ra. Chàng không chút hứng thú với lời khuyên của người đẹp. Nàng vẫn kiên trì:

- Nghe lời khuyên của em đi! Nếu không thì sẽ là vô vọng đấy. Vứt mọi sách vở đi. Không nghe em thì em đành phải chào biệt thôi.

Bởi đã cảm tấm lòng tiểu thư và cũng do đã yêu nàng sâu nặng lắm, nên chàng đành phải nghe theo. Thế mà mỗi khi nhìn thấy quyển sách là trong người bộn rộn lên, nhớ đến sách là mồm lại mở hóac ra mà đọc toáng lên. Một hôm, đang say mê đọc trộm một quyển gì đó thì thốt nghe có tiếng chân động sau lưng. Lang Mỗ vừa quay lại thì Nhan Như Ngọc đã biến mất. Chàng thầm thì khấn nguyện để người đẹp trở lại, nhưng vô hiệu. Chợt nhớ lại người đẹp đến với mình từ tập Hán Thư thứ tám, cái thẻ sách hãy còn kẹp ở đấy. Chàng gọi tên nàng lên, vẫn im bặt. Lúng túng và sầu muộn, chàng khấn nguyện lại khấn nguyện và cam đoan với nàng từ này sẽ vâng lời nàng. Vậy là Nhan Như Ngọc lại từ trong sách bước ra, lửa giận bừng bừng:

- Xin nói thật từ nay nếu chàng chẳng nghe tôi thì nhất định tôi bứt bỏ hẳn chàng.

Lang Mỗ rất nghiêm chỉnh hứa sẽ vâng lời nàng. Nhan Như Ngọc lấy tờ giấy vẽ bàn cờ rồi dạy cho chàng biết đánh cờ. Tiếp theo lại dạy đánh bài. Chàng miễn cưỡng học vì sợ nàng bứt bỏ. Nhưng đầu óc lại ở đâu tận trên mây. Những lúc ngồi một mình lại lấy sách lén đọc. Để giữ được người đẹp, chàng đảo lộn chỗ để tập Hán Thư thứ tám, khuất lẫn vào sau những quyển sách khác.

Lại một hôm, chàng mọt sách đang chúi mũi vào sách, không hay biết người đẹp đang đi tới. Cảm thấy bị lộ rồi chàng vội vàng gấp sách lại. Nhưng thoáng cái, người đẹp đã biến mất. Chàng lục tìm lại tập Hán Thư thứ tám, cho rằng nàng không thể biết được mình giấu ở đâu. Lấy mở ra, quả nhiên thấy lại cái thẻ. Lang Mỗ van xin có tới nửa ngày. Cảm động trước lời hứa hẹn chân thành lần này, Nhan Như Ngọc mới bước ra. Nàng đưa ngón tay trỏ dứ dứ về phía chàng, cảnh cáo:

- Tôi vẫn rắp tâm giúp chàng sớm đạt được danh vọng. Vậy mà chàng vẫn cứ ngốc nghếch quá thôi. Tôi không còn đủ nhẫn nại nữa. Trong ba ngày nữa thôi, nếu chàng chẳng tiến bộ gì về việc đánh cờ thì nhất định tôi ra đi. Suốt đời chàng chỉ là một thư sinh nghèo xác xơ.

Tới ngày thứ ba chẳng rõ thế nào mà Lang Mỗ thắng liền hai ván cờ. Điều đó khiến Nhan Như Ngọc rạng rỡ mặt mày. Rồi nàng lại dạy cho Lang Mỗ chơi đàn. Cứ ba ngày phải thuộc một khúc. Thoạt đầu, nàng bắt Lang Mỗ thề phải tập trung tinh thần cho việc học đàn. Ngón tay nhấn buông dần dần linh hoạt. Nhan Như Ngọc cũng chỉ mong dạy cho chàng đàn được ở mức tìm được thú vui tao nhã là tốt rồi. Nhan Như Ngọc lại dạy cho chàng biết uống rượu, dạy cách nói cách cười khi trò chuyện, phong thái nơi yến tiệc, làm sao để bất cứ ở đâu cũng chan hòa được với mọi người. Nàng chỉ vào Thiên Khuyến học của Hoàng đế Chân Tông mà nói:

- Sách này mới đúng có một nửa thôi.

Rồi nàng lấy những sách dạy cách ứng xử trong cuộc sống dạy lại cho chàng. Như quyển “ Bí quyết thành công”. Với quyển sách nhỏ này nàng đã dạy cho chàng mọt sách biết bao nhiêu điều. Chẳng hạn không nói những điều mình nghĩ và quan trọng nhất là chỉ nói những điều hợp với ý người khác. Học xong tập sách ấy thì học thêm cách không nói hết những điều mình nghĩ..

Chàng mọt sách tiếp nhận những điều ấy quá chậm chạp. Nhưng Nhan Như Ngọc lại rất kiên tâm dạy bảo chàng. Phải dạy cho chàng hiểu thấu đáo là nói những điều trong đầu mình nghĩ thì may ra cũng chỉ được phong thất phẩm, cao lắm cũng đến chức huyện lệnh mà thôi. Nàng còn cố gắng giảng giải cho chàng hiểu ra các quan nhất, nhị phẩm trong lịch sử như Thứ Sử, Thượng Thư, Tể Tướng chẳng ai là không nắm vững bí quyết chỉ nói một nửa cái điều mình nghĩ để người ta không thể biết mình đang nghĩ thế nào.

Tuy vậy, để đạt tới trình độ cao thì còn phải học cách trau chuốt ngôn từ, khôn ngoan ứng đối. Nhưng Nhan Như Ngọc tin tưởng ít nhất chàng cũng làm được đến chức quan thất phẩm hoặc huyện lệnh. Thật ra, chẳng phải chuyện cao xa gì, chỉ cần luôn bẻm lẻm một câu: “ Ý kiến của Ngài rất đúng ạ” là được. Học thuộc lòng câu này thì đâu có cần Lang Mỗ phải bỏ công sức nhiều.

Nhan Như Ngọc buông cho chàng ra khỏi nhà, thăm chơi bạn bè, uống rượu thâu đêm. Ai cũng nhận ra Lang Mỗ tiến bộ hơn hẳn xưa kia. Dần dà chàng cũng bắt đầu nổi tiếng. Nhan Như Ngọc bảo:

- Bây giờ thì chàng có thể làm quan được rồi.

Chẳng rõ do ngẫu nhiên hay do Nhan Như Ngọc đã khôn khéo dẫn dắt dạy bảo mà chàng trở nên người có giáo dục. Một đêm, đột ngột chàng hỏi người đẹp:

- Này, tôi nghe người ta nói trai gái ngủ chung một giường thì sẽ sinh con đó. Thế tại sao ta ngủ chung với nhau lâu nay mà vẫn chưa sinh con nhỉ?

Nhan Như Ngọc đáp:

- Em đã nói với chàng mãi rồi, ngày nào cũng vùi đầu vào sách là sự xuẩn ngốc hết sức. Đã ba mươi tuổi rồi mà chàng vẫn hoàn toàn chẳng biết tí gì về cái chuyện đầu tiên của cuộc sống loài người. Vậy mà lúc nào cũng tự xưng là học cao biết rộng. Thật đáng xấu hổ!

- Tôi không chịu được khi người khác mắng tôi là vô học. Thà bảo tôi là lưu manh, lường gạt, đốn hèn thì tôi còn chấp nhận được. Em bảo tôi chẳng biết tí gì cái chuyện đầu tiên của cuộc sống loài người. Vậy thì em cho tôi biết đi nào, cái chuyện đó là sao? Xin được nghe lời chỉ giáo.

Nhan Như Ngọc lúc này mới cho Lang Mỗ biết “ cái chuyện đó” là thế nào. Nghe xong chàng kinh ngạc quá chừng, mắt trợn tròn:

- À! Hóa ra cái chuyện trai gái là như thế! Vậy mà lâu nay tôi...

Chàng mọt sách đem chuyện phô với hết các bạn bè. Ai cũng che miệng cười. Biết thế, Nhan Như Ngọc thẹn chín mặt, mắng chàng:

- Người sao mà ngớ ngẩn đến mức ấy nhỉ! Chuyện phòng the mà lại đem kể cho mọi người biết!

Chàng chống chế:

- Việc gì phải xấu hổ. Chỉ có gian dâm mới phải xấu hổ chứ. Còn đây là việc lớn lao để nối truyền nòi giống là việc đường đường chính chính, có gì gọi là tục tằn nhỉ?

Rồi Lang Mỗ đã có một đứa con. Ngày đứa con đầy năm, Nhan Như Ngọc nói với chàng:

- Ta chung sống đã được hai năm và em đã sinh cho chàng được một đứa con. Đến lúc em phải ra đi rồi. Lần nữa e rằng sẽ có chuyện chẳng lành. Bởi lẽ, chỉ vì để đáp lòng thành của chàng mà em mới xuống sống chung thế này. Vậy nên để tránh hậu họa thì ta phải giã biệt nhau thôi.

- Bây giờ thì em không được bứt tôi mà đi. Và em phải thương đứa con này chứ?

Nhan Như Ngọc nhìn lại đứa con, nó mới kháu khỉnh làm sao nên không khỏi mềm lòng.

- Vâng, em sẽ ở lại theo lời chàng cầu khẩn. Song, chàng phải vứt hết sách đi thì em mới ở lại được.

Lang Mỗ khẩn thiết:

- Tôi van em! Lạy em nghìn lạy! Đừng bứt bỏ tôi nhưng cũng đừng bắt tôi phải làm những việc trái đạo của Thánh Hiền. Sách là của cải mà tôi yêu quý nhất và lâu đài sách này cũng chính là nhà cả em rồi. Tôi có thể làm bất cứ việc gì theo lời em miễn là đứng bắt tôi vứt sách.

Nàng ngẫm ngợi một lúc rồi chấp thuận. Bởi vì cũng chẳng lòng nào bỏ con cho đặng và cũng chẳng nỡ nào cứ ép buộc chồng phải vứt bỏ sách.

- Em cũng hiểu làm thế là không hay ho gì. Nghĩ lại, thấy là do số mệnh đã định cả thôi.

Chuyện Lang Mỗ chung sống với người đàn bà không rõ lai lịch và lại có một đứa con đã loan truyền khắp nơi. Có người tò mò, nhưng chàng lảng tránh bởi chàng đã học được nghệ thuật không nói những điều mình nghĩ. Dư luận rằng đứa con là do yêu quái sinh ra hoặc ít ra cũng do một người đàn bà có tung tích mờ ám sinh ra. Chuyện đó đến tai quan huyện. Quan huyện họ Thạch ở Phúc Châu thành đạt từ ngày còn trẻ nên rất hống hách, thích tác oai tác quái để tỏ ra “ Ta đây” với mọi người. Đã thế ông ta lại là người tính khí nhỏ nhen. Liền ra trát đòi Lang Mỗ lên với ý định được tận mắt trông thấy chàng mọt sách lấy vợ là yêu quái ma quỷ.

Nhan Như Ngọc biến mất tức thì. Quan huyện ra lệnh tra tấn chàng rất dã man, nhưng để che chở cho vợ và đứa con chàng mọt sách không khai. Uổng công, quan huyện phải dò xét sự việc ở đứa tớ gái. Nó nói hết sự thật. Ông ta thân đến tận nhà Lang Mỗ lục soát nhưng chẳng thấy gì. Bèn ra lệnh lôi hết sách ra xếp đống rồi phóng mồi lửa để tỏ ra là mình không mê tín ma quỉ quàng xiên. Người ta thấy lửa bốc cao bừng bừng, khói cuồn lên nghi ngút mù mịt, tràn khắp nhà Lang Mỗ mà nhiều ngày sau đó vẫn chưa tan.

Rồi Lang Mỗ được thả. Về đến nhà thấy tất cả sách của mình đã thành tro, còn thêm nỗi nhớ thương người vợ yêu quý chẳng bao giờ được gặp lại nữa. Chẳng ghìm nổi căm uất, chàng thề sẽ báo thù kẻ đã gây nên cảnh tan nát cho gia đình mình. Chàng đặt cho mình một quyết tâm là bằng mọi cách làm cho được chức quan to. Theo lời dạy bảo của Nhan Như Ngọc, chàng tìm bạn kết giao. Ai cũng mến ưa và hết lòng giúp đỡ. Chàng đi lại thăm hỏi những vị có quyền thế. Còn với các phu nhân, mệnh phụ thì chàng lại tỏ ra rất mực ân cần. Các vị đều hứa hẹn ra sức giúp chàng đạt được danh vọng cao sang. Nỗi nhớ Nhan Như Ngọc không phút nguôi ngoai và nỗi căm uất kẻ đã đốt cả sách của mình không hề vơi giảm. Chàng đặt bài vị cho Nhan Như Ngọc rồi ngày ngày thắp nhang cầu khấn:

- Kính lạy tiểu thư, xin nghe lời ta cầu khấn, hãy phù hộ độ trì cho ta được làm quan ở Phúc Châu.

Lời cầu khấn thiết tha dường như đã ứng nghiệm. Chẳng bao lâu Lang Mỗ được bổ làm quan Thị Sát ở Phúc Châu để thanh tra toàn bộ công việc cai quản của các quan lại ở đây. Chàng đặc biệt cẩn thận thanh tra hoạt động của quan huyện họ Thạch. Phát giác bao nhiêu là sai lầm, tội ác của ông ta. Rồi làm tờ cáo trạng họ Thạch dâng lên cấp trên. Gia sản của ông ta bị tịch biên hết.

Trả xong thù lớn Lang Mỗ đệ đơn xin từ quan. Chàng lấy một người con gái ở Phúc Châu rồi quay về quê nhà sinh sống làm ăn cho tới mãn đời.

MAI NGỌC THANH dịch
(Theo bản của Lâm Ngữ Đường - NXB Hổ Phách 1964)
(132/02-2000)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.

  • SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.

  • BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.

  • JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).

  • KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...

  • MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.

  • YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.

  • MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!

  • AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.

  • HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.

  • OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979  những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.

  • NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.

  • OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.

  • BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.

  • RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

  • ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.