NGUYÊN QUÂN
Biển vẫn hồn nhiên quẫy động những con sóng bạc đầu, vỗ đập vào bờ vỡ vụn thứ âm tầng hàng trăm năm thân thuộc.
Tâm cảm gần gũi như một dòng chảy trong huyết quản của cư dân làng chài, cho dù với người đang ở, kẻ tha phương mưu sinh nơi xa, thậm chí là con cháu họ không được sinh ra, lớn lên nơi này để không còn nhớ nổi làng được hình thành từ lúc nào, thời nào. Di chỉ duy nhất của làng là hàng vạn nấm mồ gạch đá vôi vữa cũ rích mốc meo rêu phong và mới toanh vẫn còn cắm đầy chân nhang đỏ thắm và những vòng hoa chưa kịp khô héo nằm trên dải cồn cát tựa lưng vào một vùng đầm phá mênh mang.
Nhìn những nấm mồ gạch nâu đen loang lỗ rêu phong, suy diễn mộc mạc của riêng tôi, có lẽ thời gian tồn tại ngôi làng chài này ước ngang chừng biên độ năm trăm năm. Đó là thời gian sau khi vùng biên địa phía nam cổ xưa với xứ Chàm được đánh đổi bằng dung nhan thiên kiều bá mị của nàng công chúa Đại Việt mười sáu tuổi. Đã là biên trấn nên chắc chắn triều đình phương bắc phải điều binh khiển tướng đến đồn trú trấn phòng. Những ông lính thú vô thời hạn ở một xứ xa xôi heo hút tất nhiên sẽ mang theo gia đình vợ con, có hộ gia đình tất nhiên nếp sống quần cư cũng sẽ được phiên chế thành làng thành xóm. Đưa dân đi khai phá canh tác dựng làng lập ấp cũng nằm trong ý đồ mở mang lãnh địa của các vương triều trong quá khứ. Dòng sử lịch về một vùng đất, một ngôi làng thuần túy, luôn mang trên mình đầy huyền tích, dù cái huyền thoại truyền khẩu mơ hồ tam sao thất bổn từ đời nầy sang đời khác, và trong chuỗi thông sử của làng xã, xóm thôn một câu chuyện, một nhân vật kiệt xuất hay kỳ cục nào đó cũng đều trở thành huyền thoại làng, vẫn là điểm tựa tinh thần chẳng thể lay chuyển trong tâm cảm từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Vùng làng chài bãi ngang lượn một vòng cong theo chân dãy đại ngàn Trường Sơn. Biển mùa nầy vẫn phủ dày một màn sương trắng đục, vầng thái dương tròn trịa chói chang vẫn chưa kịp nhú lên sau hàng vạn triều sóng bạc. Mùa nầy, với lớp sương mai quánh đặc, là mùa vụ bội thu của ngư dân. Ký ức về làng trước lúc bình minh luôn là những đoàn thuyền tấp nập trở về, những gã đàn ông vạm vỡ ăn sóng nói gió, cười nói oang oang, cong vòm lưng trần cháy nắng, vần chuyển những con thuyền nặng trĩu cá tôm lên bãi bờ, cuộn phơi những tấm lưới còn vướng rong rêu rác rều; những người đàn bà, những đứa con nít tíu tít bên cái khoang thuyền óng lên màu vảy cá lấp lánh; niềm vui trong mắt mỗi con dân làng chài bên những chiếc thuyền lộng khơi trở về là thứ ánh sáng tạo dựng tương lai cho biết bao thế hệ đã trôi qua. Và sớm nay, tôi có thể là kẻ may mắn nhất trong nhóm thâm nhập thực tế sáng tác, vì đã bắt gặp tất cả những truyền kỳ và quan niệm nhân sinh của một ngôi làng tồn tại hàng trăm năm trên dải cát trắng nối liền từ đầm phá đến bờ đại dương. Dưới bóng râm bé bỏng của cái mui chiếc tàu đánh bắt xa bờ bề thế vững chãi, đã hết tuổi rong ruổi đại dương, vô tình trở thành tượng đài ký ức thời hoàng kim. Phía biển vẫn tạnh ngắt không một bóng thuyền, vắng ngắt rờn rợn chính là cảm thụ phi lý trong tâm thức biển, trên cái bãi cát ngang chạy dài suốt dọc bờ, một cơn bão lớn vừa đi qua, biển còn mang dư âm của từng cơn sóng lớn. Không thuyền chài trên sóng, không một thanh âm í ới gọi nhau vần thuyền kéo lưới. Tôi và ba người đàn bà là vật động duy nhất trong thanh âm bất tuyệt vi diệu của sóng gió bãi bờ quyện lẫn vào nhau.
Trên bãi cát trổ đầy màu tím hoa muống biển, ba người đàn bà và tôi cùng trốn nắng trong bóng râm của cái mui thuyền nhưng lại chẳng trở thành cái chợ, mà thành một chuỗi dài những câu chuyện vừa thầm thì trầm lắng vừa ồn ả kỳ thú trên từng khúc đoạn. Bởi ba người đàn bà đang chụm đầu trò chuyện thuộc ba thế hệ khác nhau, nên quan niệm diễn đạt ý tình cũng hoàn toàn khác biệt về một sự kiện từng xảy ra, cái khác tất nhiên của sự va chạm giữa sự chuyện với thời gian tiến hóa. Cả ba người đàn bà đều ngồi xoay mặt ra đại dương, một dáng ngồi nhất quán bất biến của những người phụ nữ ở biển, ánh mắt ngó ra khơi xa ấy, ẩn chứa rất nhiều triết đạo chờ chồng, trông con bằng tất cả lo âu, bằng tất cả niềm tin hy vọng. Sự đột hiện của thằng đàn ông lạ, một con vịt im lìm ngồi thu lu sau lưng, trên bãi cát vắng hoe bằng cái thế chồm hổm sợ đít dính cát phía sau lưng họ, cũng chẳng là cái đinh gỉ gì. Hình như họ đã quá quen sự xuất hiện của những kẻ lỡ độ đường chui trốn vào cái bóng râm hiếm hoi trên một dải bờ cát dài nên họ vẫn râm ran tán chuyện.
Niềm tự hào của người dân vùng quê nghèo xưa kia vốn cách biệt với nền văn minh, nếp sống phù hoa của phố thị nằm bên kia bờ đầm phá, là đã sản sinh ra một người con gái chịu thương chịu khó, hiền thục vẹn toàn, chỉ một bước tình đầu ra ngoài biên độ cát bỏng là trở thành mẫu nghi thiên hạ. Với truyền tích ly kỳ này, ba người đàn bà dưới bóng râm con thuyền, cũng là một chuỗi liền lạc họ tộc, duy chỉ đại danh xưng O và Con trong suốt cuộc đối thoại, đã minh chính cho tôi họ là bà con trực nhánh gốc rễ với nhân vật chính của câu chuyện. Người đàn bà lưng còng đầu bạc trắng, tôi ước độ bà ấy chí ít cũng đã chạm ngạch tám mươi, vẫn luôn miệng ca ngợi hết lời chuyện tứ đức tam tòng, sắc đẹp chim sa cá lặn và sự may mắn trời ban của người mà bà ấy xưng hô là mụ o (là bà cô trong chuỗi đại danh xưng dòng họ dân xứ này).
Người đàn bà lớn tuổi nhất hào hứng kể:
- Lúc o tui được ông vua nhắm trúng, trong dịp ngài xuất cung vi hành chốn dân dã, ông lập tức cho lính quây màn loan trướng gấm giữa đồng trống, lâm hạnh luôn. Chẳng ngờ may mắn o tui lại được mang thai, chao ơi, cả làng nghe tin thì vui sướng hội lễ liên miên hy vọng làng mình sẽ được hưởng ân phước triều đình...
Người đàn bà trung tuổi, khoác bộ bà ba hoa cách điệu sành điệu của tầng lớp có của ăn của để, lại quan niệm hoàn toàn ngược lại với bà o, bằng một từ gãy gọn: Chán...
- Chán lắm o à, ai nghĩ răng thì nghĩ chứ với con thì cái kiếp sống trong lồng, dù đó là cái lồng sơn son thếp vàng, dù được thụ hưởng sơn hào hải vị gì đi nữa cũng là cái cung cấm, là cái tử cấm thành, không tình yêu, không tự do, đời sống trên nhung lụa thì đâu có khác chi bị ở tù... Chán đến chết.
Cô gái trẻ măng, tóc vàng hoe lại làm tôi bật cười với chất giọng hồn nhiên:
- Ôi dào, tự nhiên mới thấy lại đè người ta, dù là vua chúa chi cũng là hành động... thời mạng xã hội lướt phây ni là cuộc đời ông ấy coi như xong phim...
Cô gái nói xong lại cười. Hình như bà già không khoái câu nói huỵch toẹt của cô gái, nhưng không hề bực bội, cũng cười:
- Cha mi, ăn với nói...
Vui, đó là sự cảm nhận của tôi về câu chuyện. Ừ thì dù có trĩu nặng mấy về văn hóa làng, cũng phải chấp nhận trôi trong dòng chảy tiến hóa chứ. Cũng như ngày xửa ngày xưa nơi đây bị biệt lập giữa đầm phá và biển cả, không phương tiện giao thông bên ngoài nào hơn chiếc ghe xập xệ bềnh bồng vượt phá. Bây giờ thì cầu kiều đủ kiểu, xe cộ tấp nập, chở đi đem về cho làng đủ loại hàng hóa, văn hóa tứ phương. Những gã đàn ông buông lưới bỏ thuyền đều có cơ hội để cầm vô lăng xe hơi xịn, uống rượu ngoại, nói chuyện làm ăn kinh doanh bằng đô la Mỹ. Những người đàn bà cũng thoát thân ra khỏi nếp sống buồn tẻ nhất quán ngồi ngóng những chiếc ghe câu từ khơi xa quay về, để mót từng con cá, gánh nặng đôi triêng gióng chạy chợ cho kịp thời gian cá ươn. Bàn chân của người dân nơi đây chẳng còn đen đúa trần trụi dẫm lên cát bỏng, mà đã hóa thành những bàn chân trắng sáng nõn nà trau chuốt móng xanh móng đỏ... Tất cả và đó là những gì đang xoay quanh câu chuyện của ba người đàn bà, ba thế hệ cùng tồn tại trong ngôi làng hơn trăm năm tuổi, với họ hay với tôi cũng chỉ là một khối thể tồn lưu trong dòng chảy đầy biến động của một vùng đất đầy những huyền tích, và dĩ nhiên quan niệm sống về mỗi thời đều có sự dịch biến phù hợp.
Tôi cũng như ba người đàn bà, đều đang trốn dưới bóng râm của tượng đài hoàng kim vượt trùng trấn biển đảo của tiền nhân, bóng râm của những người lính thú biên địa khai hoang lập làng, mở ra trang sử bi hùng đầy máu lệ, nhưng tất cả không phải, không thể làm những con dã tràng già suốt đời xe cát để tái tạo ký ức bằng thứ tư duy cực đoan. Bởi suy cho cùng nó chỉ là cái gốc rễ vững chắc để cành nhánh vươn lên cao hơn, xa hơn những cái bóng râm tượng đài bất động bình lặng như cái bóng râm mui thuyền của ba người đàn bà và tôi đang trốn chút nắng trưa vừa chập chờn trở lại sau cơn bão biển.
Vinh Mỹ tháng 9/2020
N.Q
(SHSDB39/12-2020)
Tải mã QRCode
LÊ THỊ HOÀI NAM
Mười một giờ! Mười một giờ ba mươi! Mười hai giờ! Thư vẫn chưa về. Hôm nay là ngày nghỉ của cô ấy? Trước đây, mấy khi anh để ý đến chuyện đi về của vợ nhưng mỗi lần về muộn, Thư đều báo trước. Bây giờ cô ấy đi đâu? Hay lại...
NGUYỆT CHU
1.
Buổi chiều.
Trại trẻ mồ côi.
Trong phòng chờ khách.
TRẦN BĂNG KHUÊ
1. Nàng bứt rứt ngồi xuống chiếc ghế gần giá sách nhỏ của Gloria J. Chỉ có lèo tèo một vài quyển, còn lại là các tờ bướm quảng cáo du lịch, hay offer café, nhà hàng nào đó đang giảm giá vài chục phần trăm rải rác trên thành cửa sổ.
NGUYỄN ĐẶNG THÙY TRANG
PHẠM NGỌC TÚY
Lúc tôi đẩy cánh cửa bước vào nhà, ba tôi đang ngồi trầm tư trong ghế bành, bên lò sưởi cháy đỏ rực rỡ. Những ngọn nến được thắp lên làm sáng tỏ căn phòng, thứ ánh sáng mập mờ hư ảo.
LỮ MAI
- Chú nói với mày một bí mật…
- Thím Dinh ngoại tình phải không?
DIỆU PHÚC
Ta nguyên thân là nước mắt của thần. Vì là nước mắt của thần, mang đầy linh khí, nên khi rơi xuống trần, chẳng thể tiêu tan.
PHẠM GIAI QUỲNH
Họ tập hợp ở cảng Cá Mập của thị trấn S. Thị trấn này nằm bên Địa Trung Hải, nhỏ và hầu như không mấy xuất hiện trong tầm mắt của các du khách có mong muốn thám hiểm hoặc vãn cảnh. Bởi ở đây không có gì ngoài cá và muối.
ĐINH NGỌC TÂM
Cái bóng xuất hiện ba lần mỗi ngày. Buổi sáng đó là một vệt mờ in trên trần nhà và vách tường bên phải. Một vệt mờ ẩn rồi hiện, đậm rồi nhạt.
TRẦN BẢO ĐỊNH
1.
Lão ngồi tựa lưng ngôi mộ cổ dưới tán lá cây me đại thụ, mắt lim dim. Buổi trưa, giồng Tân Hiệp buồn thiu theo từng cơn oi bức của cái nóng hầm hập nắng cuối mùa.
NGUYÊN QUÂN
Khu chợ, những ki ốt bê tông vươn mặt ra phía con suối rộng cả trăm mét, đang cuồn cuộn dòng nước đục ngầu. Đứng ở vị trí này, tì hai tay xuống vai chiếc cầu hiện đại vắt ngang suối, có thể duỗi tầm mắt nhìn suôn suốt đến tận dãy núi cao vút đầu nguồn. Khe Tre là đây. Khe Tre đầy những câu chuyện đường rừng huyền hoặc của thằng Ngạn là đây sao.
CUNG TÍCH BIỀN
Dòng họ Trần Liêu vào định cư ở bờ Bắc sông Thu một thời gian lại gặp chuyện chẳng lành.
NGUYỄN THỊ DUYÊN SANH
Duy chợt mở bừng mắt vì tiếng đập lùng bùng của mấy tấm phên liếp. Anh nhìn ra ngoài. Trời xám đục một màu chì, chẳng biết còn sáng sớm hay đã xế chiều.
NGUYỄN HẢI TRIỀU
1.
Đường ra bến đò cuối làng Phú Đông ngày xưa không vắng hoe như bây giờ đâu. Cái bến đò còn đông đúc người qua lại.
LÊ MINH PHONG
Có một kẻ hành khất già nua đi bán thơ dạo dừng lại trước cổng nhà tôi. Và tôi biết ông ấy đi ra từ một giấc mơ nào đấy của cha tôi. Cha tôi thường mơ tới những giấc mơ lạ kỳ. Những giấc mơ không giống bất kỳ một giấc mơ của ai khác.
TẠ BẢO
Hôm chú tôi đi bộ đội, trong lúc liên hoan chú cao hứng tuyên bố trước cả nhà: "Chết xanh cỏ, sống đỏ ngực".
NGUYỄN NHÃ TIÊN
Đường lên núi Quèn tràn ngập sắc hoa đào. Màu hồng phấn trên những cánh rừng đào phai lớp lớp mái xuôi nghiêng xoay tròn hình chóp, đẹp đến nỗi mây trắng dặt dìu bay qua đỉnh núi cũng ửng lên màu ráng hồng hư ảo quang chiếu cả bầu trời Tam Điệp.
LTS: Nhà thơ Mỹ Dạ chuyển cảm hứng sang viết kịch bản phim và truyện ngắn sau thời thiếu nữ đã đoạt giải nhất thơ Báo Văn Nghệ 1973 và tập thơ "Bài thơ không năm tháng" được giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam -1983. Tự khám phá khả năng trong thể loại mới đâu dễ thành công, riêng gì với nữ sĩ. Vậy mà Mỹ Dạ đã có truyện "đầu tay" sau khi ra đời 3 tập thơ. SH xin trân trọng giới thiệu ngõ ngách "tâm hồn khác" của nàng thơ mượn văn xuôi làm sáng tỏ mình.
TRU SA
Mấy ngày nay tôi luôn mất ngủ.
Không hẳn là tôi thức trắng đêm bởi tôi vẫn dễ dàng tìm vào giấc ngủ.
ĐINH PHƯƠNG
Áp thấp nóng phía Tây không báo trước đổ vào bủa vây thành phố.