Cõi nhân gian

15:42 03/06/2008
Đúng sáu năm tôi không trở lại thành phố ấy dẫu rằng trong lòng tôi luôn luôn có một nỗi ham muốn trở lại, dù trong sáu năm tôi giấu kín trong lòng mình điều đó, chôn thật sâu trong suy nghĩ của mình, chẳng hề nói ra.

Nhưng thật ra tôi có muốn nói ra cũng không được, bởi nơi - chốn - tôi - đang - ở là một nơi chốn khác với nơi chốn tôi đã từng ghé qua, đã từng sống. Cụ thể hơn thì đây là một ni viện.
Sáu năm tôi trốn chạy, nhưng tôi không hiểu rằng tôi đã trốn chạy một điều gì? Cuộc sống cứ òa tràn những thời khắc có thể làm cho ta vui và cũng có thể làm cho ta buồn đến ngất trời. Khép mở đôi mắt là ánh sáng thay đổi, là cây rụng đầy lá vàng hay trĩu cành hoa trái?.
Tôi đã sống một đời sống khác, khác với đời sống mà tôi đã từng sống của sáu năm trước, tôi thử lòng mình như người ta đem vàng nung lên lửa đỏ, xem thử đó có phải là chất vàng tuyền không? Tôi đã trốn chạy và có thể tôi đã lãng quen được điều tôi muốn lãng quên. Tôi gặp thầy Nhân năm đó tôi vừa 24 tuổi, ngay tức khắc tôi bị cuốn vào thầy giống như bị một thỏi nam châm mạnh mẽ hút vào, tôi chỉ là một mảnh sắt vụn nhỏ bé. Khi đó, tôi chỉ mới vừa tốt nghiệp trung cấp kế toán, chưa có việc làm. Công việc hàng ngày của tôi là thỉnh thoảng ra chợ phụ bán hàng tạp hóa cho mẹ. Buôn bán ở chợ là một việc buồn, bởi sự giao tiếp chỉ dừng lại ở mức gặp khách hàng, những mẩu đối thoại cũng chỉ dừng lại ở mời chào, cò kè bớt giá. Những người đàn ông thường không đi chợ, hoặc có đi chợ thì họ đi chung với người đàn bà của mình. Không một người đàn ông nào dừng lại để ngắm nhìn hoặc buông lời tán tỉnh. Những ngày thứ bảy, chủ nhật của tôi là những ngày buồn tẻ chẳng có ai gọi điện hẹn hò hay ghé qua chơi. Một đứa con gái không xấu xí như tôi lúc đó cảm thấy cô đơn ghê gớm.
Trước sự buồn phiền của tôi, mẹ không cho tôi ra bán hàng ngoài chợ nữa, qua quen biết gia đình nhờ thầy Nhân phân cho tôi công việc ở trường mà thầy làm hiệu trưởng. Tôi được phân phụ trách thư viện.
Ngôi trường nằm ở một con đường vắng xe cộ qua lại, bức tường cao sơn vàng như ngăn cách hẳn thế giới của sách vở. Dọc theo sân trường có hàng chục cây phượng vĩ cùng bung hoa nở đỏ rực cả sân trường. Công việc mới quả thật làm cho tôi yêu thích, bởi đây là thế giới hoàn toàn khác xa với hàng tạp hóa của mẹ. Có thể nói là rất vui và hài lòng. Trước kia, thỉnh thoảng thầy Nhân cũng hay ghé nhà tôi chơi, xưng hô "anh, chị" với ba mẹ tôi, tôi coi thầy là người lớn nên hoàn toàn không chú ý đến thầy. Khi có mặt thầy, tôi chỉ rót một ly trà nóng đem ra mời khách rồi rút gọn lên căn phòng nhỏ của mình trên lầu. Nhưng từ khi đến làm việc ở trường X, tôi mới khám phá ra thầy Nhân là một người đàn ông sống rất đơn độc. Cuộc sống đơn độc của thầy khiến cho một đứa con gái còn trẻ người trẻ tính như tôi càng tò mò, muốn tìm hiểu.
Thực ra thì thầy Nhân chẳng phải là một mẫu người đàn ông đẹp trai. Nhưng đôi mắt của thầy sáng rực lên khi nhìn vào người đối diện, nụ cười của thầy rất dễ dàng làm cho lòng tôi xốn xang. Nhưng đó là cảm nhận, bởi thầy Nhân chỉ coi tôi như một đứa con gái nhỏ, thầy chẳng nhìn thấy trong tôi là một người phụ nữ.
Thư viện với những kệ sách xếp hàng, những chiếc bàn nhỏ để cho giáo viên đọc báo, học sinh ngồi học. thế giới ở góc nhỏ ngôi trường này không yên lặng mà lại ồn ào bởi tiếng chân và tiếng người. Tôi vui với công việc mới của mình thật sự, vui hơn nữa vì sự có mặt của thầy Nhân, bởi đây là nơi mà thầy hay lui tới khi rảnh rang để đọc báo hay nghiên cứu.
Lúc đầu tôi ngỡ thầy Nhân chưa lập gia đình, nhưng sau đó vô tình tôi mới biết rằng thầy đã từng yêu, từng lấy được người mình yêu. Nhưng cuộc sống lại quá trớ trêu với người đàn ông này, bởi vợ của thầy Nhân đã vĩnh viễn chia tay thầy sau đúng sáu tháng hai người trở thành vợ chồng.
Tôi chỉ được nhìn cô Cúc qua tấm ảnh chụp toàn thân thầy Nhân lồng kính để trước bàn làm việc trong nhà của mình. Mái tóc dài nữ sinh bung ra trên bờ vai nhỏ. Chiếc áo dài trắng tinh, đôi tay chụm lại cầm một đóa hoa hồng và nụ cười đang nở trên môi. Thầy Nhân nói "Tấm ảnh này Cúc chụp sau khi tốt nghiệp trung học". Và sau đó tại sao? Thầy Nhân hơn cô Cúc đúng 4 tuổi, ngày cô Cúc rời khỏi ghế nhà trường thì đó cũng là ngày anh chàng Nhân sinh viên tốt nghiệp sư phạm đã trở thành một giáo viên dạy văn. Đó là một cuộc tình mang khá nhiều trắc trở bởi sự ngăn cản của cha mẹ cô Cúc. Họ không chấp nhận con gái của mình lấy chồng dạy học, nhất quyết gả cô Cúc cho con một nhà thầu xây dựng có tên tuổi vào thời đó. Nhưng dường như bất cứ trong không gian và thời gian nào cũng vậy, khi đã yêu thật sự thì người con gái nhất định đấu tranh đến cùng để được sống với người mình yêu. Cô Cúc đã thắng sau một lần quyên sinh sắp chết. Đám cưới của hai người không hề có xe hoa chạy dọc ngang trên phố, chẳng có tiệc tùng vài trăm thực khách. Chỉ là một buổi tiệc nhỏ ra mắt bà con, rồi cô Cúc về ở với thầy Nhân trong căn nhà tập thể do trường phân cho giáo viên ở. Cô Cúc đã phải bỏ dở dang việc học, mở một hàng cà phê nhỏ bán cho khách qua đường, phụ giúp cùng đồng lương giáo viên thanh bạch của chồng.
Họ chưa có với nhau một mụn con nào thì cô Cúc từ giã cuộc đời giữa lúc tình yêu và hạnh phúc đang ngập tràn. Đêm hôm đó thầy Nhân cùng với mấy người bạn thân đã lâu rồi chưa gặp đi uống rượu. Quá chén với bạn bè thầy say khướt không thể nào về nhà được khi đêm đã khuya. Đó cũng là lần đầu tiên thầy Nhân say như vậy, khi những người bạn đưa thầy Nhân về thì thầy chẳng biết gì hết. Điều không biết của thầy đã biến thành tai họa, khiến cho thầy vĩnh viễn mất đi người đàn bà thân yêu nhất đời của mình. Nguyên trong nhà thầy Nhân có ngâm một bình rượu cùng các loại rễ cây làm thuốc trị đau bụng. Thường thì cô Cúc hay bị đau bụng dạ dưới, cô chỉ cần uống một ngụm rượu thuốc là giảm đau. Đêm hôm đó, sau khi chườm nước nóng, lo chỗ cho chồng xong thì cô Cúc lại lên cơn đau bụng, đêm hôm đó mất điện. Giữa ánh đèn dầu mờ ảo, cô không biết rằng cô đã lấy lộn rượu ngâm mã tiền thầy Nhân dùng để xoa bóp lâu nay thầy vẫn cất kỹ trong tủ khóa kỹ vì sợ có người uống nhầm. Buổi chiều, khi lấy chai rượu ra, do vội đi với bạn thầy Nhân chưa kịp cất vào.
Cô Cúc chết khi vừa đến bệnh viện. Cái chết của cô Cúc đã để lại trong lòng thầy Nhân một vết thương đau. Từ ngày đó, thầy không đụng đến một giọt rượu nào mà cũng chẳng hề chú ý đến một người con gái nào trên đường đời sau này thầy gặp.
Lạ kỳ thay cho tôi. Khi biết được câu truyện về thầy Nhân, tôi lại thích quan sát thầy giống như quan sát một bức tranh. Tôi bỗng giật mình khi biết rằng mình đã chọn gặp người đàn ông lý tưởng, người đàn ông trong mộng mà bấy lâu nay tôi ngỡ rằng anh ta đã không có mặt trong đám đông. Càng làm việc gần thầy, tôi có cảm giác như thầy chỉ cần ngỏ lời là tôi có thể ngã mình vào trong lòng thầy không hề suy nghĩ. Nhưng càng ở gần thầy Nhân, tôi càng hiểu rằng chính mình đang nuôi cho mình một tình yêu vô vọng. Thầy Nhân chung thủy suốt đời với một bóng hình đã khuất xa, còn tôi thì chung thủy với thầy bằng chính tình yêu khờ khạo của một đứa con gái.

Nhờ vốn liếng chữ Hán tôi học được theo chương trình tín chỉ, một phần nữa là trong thời gian sống gần thầy Nhân, tôi mới biết thầy cũng rất giỏi chữ Hán, và tôi cũng đã học được ở thầy nhiều điều. Ni cô Trúc Lan nhận tôi phụ trách chép kinh và làm những việc liên quan đến Phật học. Vậy là tôi đã xa thầy Nhân trọn đúng sáu năm trời, sáu năm trời ấy tôi cảm nhận được mùi hương của hoa lan nở, sự diệu kỳ trong tiếng nỉ non của con dế mèn trong góc hiên vườn vắng. Cuộc sống ở đây hoàn toàn chẳng so đo hơn thiệt, giành giựt danh lợi hoặc xô ngã hận thù. Đó là thế giới của lòng nhân ái!
Ni viện biệt lập phía bên trong, những căn nhà nhỏ khuất sau những cây tùng, bách, liễu. Con đường gạch đỏ luôn luôn sạch sẽ, nhón trong rẻ gạch là cỏ xanh. Thỉnh thoảng tôi ghé vào, bắt gặp những nữ tu ngồi đọc sách hoặc đi dạo. Những cái gật đầu chào thoảng qua cùng mùi hương diêụ kỳ của cây cỏ. Đó là thế giới của bình an, để cho lòng người thanh thản. Bên ngoài ni viện là hiệu sách và kinh phật, một cửa hàng nhỏ do tôi được giao phụ trách. Người tới mua rất nhẹ nhàng. Người bán như tôi cũng không bận lòng vì ở đây hoàn toàn không có ý niệm đắt hay rẻ. Tôi phụ bán một buổi, một buổi tối về thư viện của ni viện chép kinh. Tôi không là nữ tu, nhưng tôi đang sống như một nữ tu.
Khi tiếp nhận tôi tại phòng khách ni viện, ni cô Trúc Lan nói:
- Sư cô không biết con có thể làm việc ở đây được bao lâu! Nhưng con đến giúp cho ni viện như thế là qúi lắm rồi. Bởi một cô gái như con thì sẽ vướng bận rất nhiều trong con đường tình ái. Mấy ai thoát ra được?
Tôi nói với ni cô Trúc Lan:
- Con đang thèm sự tịnh yên.
- Ừ, con cố tìm sự tịnh yên nếu con muốn. Khi nào muốn ra đi, con cứ ra đi. Cả khi con muốn tâm sự để vơi bớt đi nỗi buồn trong lòng mình thì ta cũng sẵn sàng lắng nghe.
Tôi đang trốn chạy tình yêu của mình, thứ tình yêu vô vọng và tôi cố tình ẩn nấp vào cõi thiền. Tự nhiên tôi biến mất khỏi lòng thành phố, tôi ẩn náu vào trong tịnh yên của người khác mà hy vọng rằng mình sẽ nhận lấy cho chính mình sự tịnh yên.
Một tháng làm việc ở ni viện, rồi hai tháng. Đêm tôi luôn mơ đến người đàn ông đó: thầy Nhân. Lúc nào tôi cũng mong trong lòng mình nỗi khát khao chạm gặp, lúc nào tôi cũng rắp tâm rời bỏ ni viện. Tôi không thể nào chịu đựng được sự vắng lặng, cô đơn suýt tí nữa thì tôi đã rời bỏ ni viện và tìm cách trở về. Nhưng tôi không hiểu tại sao tôi đã ở lại, thế là đã sáu năm trời.
Những ngày đầu tôi tới ni viện, tôi nhìn thấy các ni cô trong những bộ quần áo chùng lam kia là thế giới khác. Nhưng lần lần khi được tiếp xúc, nhất là lúc trò chuyện với ni cô Trúc Lan, tôi chợt khám phá ra tôi chỉ là một hạt bụi nhỏ bé, rất thường tình giữa cuộc sống rộn ràng sinh, lão, bệnh, tử và thất tình lục dục. Cho đến khi những cây ô môi trồng dọc theo ni viện bỗng rực nở lên màu vàng kỳ lạ mùa đầu tôi đến. Ni cô Trúc Lan đã gọi tôi vào phòng của ni cô, chậm rãi hỏi chuyện:
- Đã gần một năm trời con ở đây rồi phải không Nhật Hạ?
Tôi trả lời:
- Dạ.
- Con đã chép kinh, chắc con đã hiểu được nghĩa của chữ nhà Phật: "Sắc sắc không không" nhưng sư cô không hiểu trong lòng con đã bình an chưa? Con đã có thể xóa đi bóng người đàn ông làm cho con đau khổ chưa?
Bóng thầy Nhân hiện ra. Mái điểm sương, nụ cười trầm lắng. Tôi lắc đầu:
- Dạ... chưa.
- Vậy con hãy kể cho ta nghe câu chuyện của con đi. Nếu con kể được, lòng con sẽ không còn mang nặng khối tình đó nữa.
Tôi nhìn ra ngoài sân. Hoa muồng rụng vàng trải ở nền sân một màu vàng lạ. Sư cô Trúc Lan lắng nghe tôi kể chuyện tình yêu khờ dại của mình.
Tôi đã yêu thầy Nhân như thể trên thế gian này không có một đứa con gái nào có thể yêu một người đàn ông nào như thế. Nhưng tình yêu của tôi càng to lớn bao nhiêu thì tôi đã gặp phải trái tim cứng rắn của thầy bấy nhiêu. Trái tim thầy Nhân đã dành trọn vẹn cho người đàn bà đã không còn trên cuộc đời này nữa: Cô Cúc. Vâng, chỉ một mình cô Cúc chứ không phải là một người đàn bà nào khác, kể cả tôi. Những ngày tháng làm việc chung bên thầy, tôi cảm thấy không thể nào sống được nếu không có thầy bên cạnh. Lúc thầy Nhân chở tôi đi đâu đó trên đường phố, tôi cố dụi đầu tóc mình vào bờ vai rộng của thầy, tôi đưa đôi tay mềm mại của mình ôm nhẹ vòng eo của thầy.
Tôi chỉ ước ao được cùng thầy rong chơi qua khắp chốn trong suốt cuộc đời này. Tôi ước tôi được thầy sáng tác cho một bản nhạc của riêng mình, bởi thầy còn là một nhạc sĩ giỏi. Nhưng tôi cố vươn tới tình yêu thì tình yêu ấy càng xa xôi, xa lắm.
Đêm trước khi rời trường tôi không thể nào quên được. Đó là ngày tổng kết năm học, toàn bộ giáo viên nhà trường được thầy Nhân mời về nhà thầy dự một tiệc rượu nhỏ, nhà thầy vắng người, chỉ có mình tôi phụ giúp thầy nấu nướng cho buổi tiệc. Hôm đó tôi uống hơi nhiều, thầy Nhân cũng uống hơi nhiều. Khi tất cả khách mời đã ra về, chỉ còn lại tôi và thầy - tôi say đến mức độ không thể nào về được nữa. Trong cơn say tôi đã nói thật lòng mình, tôi ôm chặt người đàn ông mình yêu dấu, và vòng tay thầy Nhân cũng đã mềm ra cùng vòng tay tôi. Tôi thì thào cùng thầy khi thầy Nhân ghé môi chạm môi tôi:
- Nhân ơi, em yêu anh?
Nụ hôn đầu ấy cũng là nụ hôn cuối. Thầy Nhân rõ ràng đang run lên cùng tôi, nhưng thầy đã đẩy tôi ra khỏi lòng mình:
- Không được đâu, Nhật Hạ. Em về đi.
Tôi bước ra đêm, tôi đợi một tiếng gọi, nhưng thầy Nhân đã không hề gọi tôi trở lại. Đêm đã ngăn tôi và thầy không đi về một hướng.

Sáu năm tôi lại trở về con phố cũ. Cuộc sống không ngừng thay đổi khiến cho những con đường tôi đi qua hôm nay đều khác. Ngày xưa, tôi có thú vui là đi dạo trên con đường từ ga đến gã sáu dưới hai hàng me cổ thụ lá xanh. Giờ đây con đường này cũng đã khác, hàng cây đã bị chặt khá nhiều, chỉ còn lẻ loi vài gốc. Ngay ngã sáu cũng được mở rộng để nơi này biến thành một bồn hoa xinh đẹp. Tôi cũng đã khác sau sáu năm rồi đó mà, huống hồ chi là cảnh vật. Nhờ ni cô Trúc Lan động viên, tôi đã hoàn tất chương trình học của mình với bằng cử nhân thần học. Ni cô Trúc Lan nói: "Con không có căn tu, nhưng lòng con đã bình an từ những điều những nhà tu hành có được. Tuy nhiên, lòng có bình an thật sự không thì chính con hiểu chứ không ai hiều được". Ni cô Trúc Lan đưa cho tôi tấm giấy mời đi Hà Lan. Ở đó, tôi sẽ có thêm hai năm tu nghiệp, hoàn tất phần nghiên cứu của mình.
Đứa con gái 24 tuổi và người phụ nữ 30 tuổi là hai con người khác. Tôi ngày xưa và tôi của sáu năm sau, sau khi học được bao điều trong ni viện,
qua những trang kinh và những con người đã thoát khỏi mẫu số chung của tình ái trong cuộc sống đã khác. Nhưng lạ kỳ chưa sáu năm không liên lạc nhưng thầy Nhân vẫn tràn ngập trong giấc mơ của tôi. Thầy Nhân dắt tôi dạo chơi theo bãi cát biển trắng, thầy Nhân ôm ghì tôi bên chiếc ghế đá ở một công viên lá rụng ối vàng... có khi thầy Nhân còn hát cho tôi nghe. Đó có phải là khi khát khao không đạt được, nó lén trộn trong giấc mơ ta.
Ni cô Trúc Lan lại nói:
- Con hãy về đó một lần. Con hãy chào thầy Nhân trước khi lên đường.
Vậy là tôi trở lại. Mẹ tôi đã sang sạp hàng, trở về nhà buôn bán nhỏ. Anh chị em đã tha phương, mỗi người một nơi. Mẹ ôm chầm lấy tôi: "Con bỏ đi đâu biền biệt sáu năm trời hả Nhật Hạ? " Tôi cười với mẹ: "Thì con đã về đây rồi mà!"
Tôi vục gầu xuống giếng, tiếng gầu vỗ vào thành giếng tạo ra âm thanh quen. Mẹ nấu cho tôi một nồi nước bồ kết. Người múc từng gáo bồ kết đổ cho tôi gội đầu. Người vừa dội, vừa nói:
- Con nên đi thăm thầy Nhân đi. Thầy cứ hỏi tin tức con hoài. Ông thầy giờ này vẫn ở một mình.
- Thầy vẫn dạy ở trường X.hở mẹ?
- Ờ, từ ngày con đi đến nay trường vẫn không có gì thay đổi. Còn thầy Nhân, người như vậy mà sao vẫn ở một mình...
Tôi im lặng. Gội đầu xong, tôi mở quạt máy hong cho khô. Tôi lấy chiếc xe đạp mẹ vẫn thường dùng để đi chợ
để ở góc nhà, dắt ra đường, đạp xe hướng về ngôi trường cũ.
Lạ kỳ thay, dường như trái tim tôi đang chao đảo đang tham dự một cuộc hẹn hò. Những trang kinh tôi chép cả sáu năm trời ròng rã đâu rồi? Những buổi chiều trời biếc xanh lặng ngắm nhìn những con bướm hững hờ bay lượn đâu rồi?
Trường chỉ khác là hàng cây trồng trước sân đã cao rợp bóng. Khác là số giáo viên cũ ra đi khá nhiều, trong số còn lại không ai nhận ra tôi. Đang trong giờ giảng dạy nên cô văn thư ở phòng hiệu trưởng nói, tôi phải đợi khoảng nửa tiếng nữa thầy Nhân hết tiết dạy sẽ xuống. Cô rót một ly trà nóng để trước mặt tôi rồi cáo lỗi, lo công việc.
Một mình trong phòng thầy Nhân, tôi bỗng tò mò chồm người cầm những cuốn sổ trên bàn thầy. Một cuốn sổ bìa úa vàng nằm ở tận cùng. Tôi lơ đãng giở cuốn sổ, và tôi bỗng giật mình. Tấm ảnh chân dung của tôi sáu năm trước cho thầy Nhân chụp trong một dịp nào đó được lót vào lớp nhựa bề sau. Tôi rút tấm ảnh ra, thật bất ngờ khi tôi đọc được ở đó dòng chữ của thầy Nhân: "Em sẽ trở lại phải không Nhật Hạ?"
Tôi xếp những cuốn sổ lại. Rồi như một tên trộm tôi lặng lẽ bước ra khỏi phòng thầy Nhân. Tôi vừa đạp xe ra khỏi cổng thì tiếng trống báo hiệu nghỉ giữa giờ vang lên.
Tôi đạp xe vào đám đông. Chưa lúc nào mà tôi cảm thấy lòng tôi bình yên hơn lúc này!

KHUÊ VIỆT TRƯỜNG
(nguồn: TCSH số 154 - 12 - 2001)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG TRỌNG ĐỊNHPhòng giam chật chội, tối tăm...  Gần trần có một lỗ thông hơi. Bên ngoài lỗ thông hơi là bức tường tôn xám xỉn. Khe hở dài chừng 10 mét, rộng chừng 3 tấc, nằm song song và gần sát với mặt đường bên ngoài. Đứng trong phòng giam, từ lỗ thông hơi nhìn qua khe hở của bức tường, chỉ có thể thấy những bước chân người đi.

  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.