Cỏ non xanh tận chân trời

08:21 08/10/2015

NHẬT CHIÊU 

Đúng là công viên rồi. Nhà của nhà thơ ở gần đây thôi. Chỉ cần xuống trạm xe buýt gần công viên, đi bộ năm phút là đến nhà tôi, đó là lời dặn dò của nhà thơ mà tôi còn nhớ như in.

Minh họa: Đặng Mậu Tựu

Anh tha thiết mời tôi đến nhà chơi. Vốn lười những chuyện thăm nom thù tạc mà vẫn nhận lời mời của nhà thơ mới quen này chẳng qua vì một quyển sách quý anh khoe đang có và muốn cho tôi xem.

Công viên thì đây rồi nhưng nhà anh thì ở đâu? Đi bộ năm phút về hướng nào? Tất nhiên địa chỉ chính xác tôi đã lưu trong điện thoại di động.

Tìm điện thoại trong chiếc túi xách nhỏ mới hay nó không cánh mà bay. Mất. Chiếc túi xách nhỏ thường chỉ chứa điện thoại và sách. Chỉ còn lại cuốn sách. Dây kéo có khoảng hở đủ cho vài ngón tay luồn vào xoáy chiếc điện thoại nhỏ đi.

Đi đứt là chuyện đó xảy ra trên xe buýt. Có thể là vào lúc tôi đang ngồi trên băng ghế dành cho người già mà dán mắt vào trang sách. Hoặc là lúc tôi sắp xuống trạm, đứng gần cửa sau, đang bị ai đó chen lấn.

Vậy là trước mắt không liên lạc được với nhà thơ. Ngoài chi tiết anh ở gần công viên, tôi không nhớ gì hết. Tên đường, số nhà... là những thứ tôi hay quên nhất.

Không sao, sẽ hỏi thăm những người gần đây thôi. Anh cũng có chút tiếng tăm với mấy tác phẩm Hành Phương Bắc và Truyện K.

Song tôi cũng biết tiếng tăm một nhà thơ trong thời đại này chẳng là gì so với ca sĩ và chân dài. Nhà thơ chẳng thể nào hot bằng dù có thời họ tự ví mình với loài chim nào đó ngứa cổ hót chơi. Nếu một chiếc cúc trên áo cô ca sĩ nổi tiếng nào đó bỗng dưng tuột khuy thì điều ấy sẽ trở thành đề tài nóng hổi cho vài trăm bài báo. Chứ cái chết của một thi sĩ thì chẳng thể nào sánh nổi với biến cố khuy cúc nọ.

Chưa kịp hỏi ai, một cảm giác bất an đã lan khắp người tôi. Công viên. Thành phố này có biết bao nhiêu công viên. Trước mắt tôi là công viên nào vậy? Đón xe buýt, tôi lại không để ý xem là xe buýt số mấy. Chưa hết, đây có đúng là khu đô thị mới mà tôi đang cần đến? Hiện đang có nhiều khu đô thị mới mà.

Không nhớ nhà thơ ở khu đô thị mới nào, đường phố nào, gần công viên nào vậy mà tôi vẫn lên xe buýt, xuống trạm vì nhìn thấy một công viên. Ngớ ngẩn hết chỗ nói.

Không nhớ nhưng vẫn đi bừa vì tin vào cái nhớ nhân tạo mang theo bên mình mà bây giờ thì nó đã mất tích.

Có điều an ủi là tuyệt đẹp cái công viên không tên ở ngay trước mặt, cách tôi chừng trăm bước dù tôi chưa nhìn thấy rõ nó lắm do cận thị.

Trước tiên phải vào thăm cái công viên xanh màu cỏ non này. Xem ra rất mênh mông, tạo nên cái cảm giác cỏ non xanh tận chân trời mà đã lâu rồi không thấy lại.

Công viên chứ không phải là đồng hoang. Vậy mà tôi thèm khát đạp chân trần lên cỏ xanh mà nhớ đạp thanh hội, đạp thanh ca trong thơ xưa.

Cỏ non. Như đứa trẻ, tôi muốn chạy nhảy, nằm lăn trên cỏ vào một ngày vừa có nắng vừa có gió, có tơ liễu bóng chiều thướt tha.

Nhà thơ mà tôi cất công đi gặp thường viết về cỏ với một thứ ngôn từ mê li ngây ngất. Ở cỏ, anh nói, sự sống - xanh rờn - nẩy nở là cái mê diệu của mặt đất này, và mọi thứ cây mọi thứ hoa đều là cỏ.

Được. Ở đây cỏ đang bước tới chân trời và tôi đang bước đến chân trời của cỏ.

Để gặp nhà thơ của lá cỏ, có thể là Whitman của thời nay, trong xứ sở này.

Bước chân tôi như reo vui. Cỏ non đang phóng màu xanh vào không gian. Đôi mắt tôi cũng bắt chước cỏ, phóng một màu xanh đi.

Cỏ, cỏ, cỏ, cỏ...

Chưa bao giờ cỏ hào phóng đón đợi tôi như hôm nay.

Chưa bao giờ tôi yêu cỏ như hôm nay vì tình yêu cỏ xanh của nhà thơ đã lây sang tôi.

Lâng lâng, tôi bước vào công viên. Cởi giày, tôi định bước chân lên thảm cỏ đầu tiên. Chỉ vài bước dẫm nhẹ thôi rồi sẽ cư xử đúng luật: không dẫm lên cỏ xanh.

Nghệ thuật trồng cỏ ở công viên này là tạo nên một cảm giác cỏ mọc tự nhiên. Ta nhìn thấy một đồng cỏ mênh mông hơn là một thảm cỏ tỉa tót ngay hàng thẳng lối.

Cỏ non xanh tận chân trời ngay giữa lòng đô thị. Đó là một dung hợp lý tưởng, ba trong một: đô thị mới - thiên nhiên mới - nghệ thuật mới.

Đó có phải là cái mà người ta gọi là “urbanature” (phố thiên nhiên) trong cái nhìn mới hiện nay?

Khi lòng bàn chân tôi chạm vào cỏ, một cảm giác lạ lùng bất ngờ dội thẳng vào tim tôi. Kinh hoàng.

Cỏ,cỏ, cỏ, cỏ...

Cỏ ư? Không phải cỏ.

Không phải cỏ như tôi biết từ ấu thơ. Không phải cỏ của Lý Bạch, Nguyễn Du, Whitman,...

Không phải cỏ mà người nông dân nào cũng biết.

Không cỏ non mà cũng không cỏ áy.

Vì đơn giản thôi, đấy là cỏ giả.

Hay là tôi lầm. Lẽ nào như thế cái đẹp này?

Ngồi bệt xuống cái thảm xanh mênh mông, tôi lướt chậm lòng bàn tay lên những nhánh cỏ vô cùng bắt mắt này.

Dù được làm ra rất thiện xảo, đây thật là cỏ giả.

Ngắt một cọng đưa lên mũi ngửi. Không có mùi cỏ. Không có mùi vị gì của một trạng thái sống. Không có mùi vị gì của nẩy nở hoặc tàn phai.

Cỏ ơi, tôi gọi.

Lầm rồi, tôi nhủ. Phương thảo thê thê Anh Vũ châu (Bờ Anh Vũ cỏ xanh ngời ngời xa).

Lầm rồi, tôi ơi! Anh Vũ chỉ là con vẹt giả giọng người.

Đây có phải là sân cỏ để chơi bóng không? Rõ ràng không phải.

Trên đồng cỏ đôi khi tỏa bóng đại thụ. Và chẳng bao lâu, tôi đã nhận biết những đại thụ oai phong ấy, những cây cao bóng cả lồng lộng ấy cũng là hàng giả kỹ thuật cao của thời đại bêtông.

Rồi đến đài phun nước. Nhìn xa, đó là những lệ đài đẹp mê hồn, long lanh và óng ánh, ngân nga và rì rào. Lại gần, thấy ngay cả nước phun và âm thanh nước đều giả. Nước chỉ là nilông công nghệ cao.

Chưa hết. Có cả những con chim đang gù đang hót trên các cành cây. Nhiều nhất là hoàng yến. Lạ lùng nhất là những con yểng với bộ cánh nhung đen sang trọng, với đôi mắt đẹp có quầng vàng lộng lẫy. Yểng có thể giả giọng người rất tài. Nhưng trong công viên này, tất nhiên là yểng giả, thế mà nó cũng kêu ríu rít khi thấy tôi.

Xin chào xin chào

Chúc vui chúc vui

Những con yểng máy này đang giả giọng chim yểng thật khi nhại tiếng người. Đây là bắt chước cái bắt chước, giả cái giả.

Không biết nhà thơ mà tôi đang tìm có thường ra công viên này không? Những bài thơ được ca ngợi là tuyệt đẹp của anh phải chăng được viết ra trong công viên này giữa khung cảnh thiên nhiên nhân tạo đầy lừa mị?

Nếu hồn thơ ấy có thể rung động trước ngụy thiên nhiên ở đây thì nó chỉ có thể phát tiết, một thứ ngụy thơ ca, một giọng thơ giống hệt giọng chim yểng nơi này.

Phải mau chóng rời công viên thôi.

Nhưng tôi vẫn đứng yên.

Cách tôi không xa, gần pho tượng nàng tiên cá diễn ra một cảnh sống thực duy nhất mà tôi nhìn thấy khi bước chân vào công viên.

Trong những ô phấn vẽ trên nền gạch, một bé gái xinh đẹp đang nhảy lò cò. Bé như nhảy ra từ một giấc mơ của ai đó chứ không phải thuộc về thế giới bêtông của khu đô thị này.

Mái tóc bồng bềnh đen biếc bay rập rờn theo từng bước nhảy của bé. Áo váy nâu hồng gọn nhẹ để lộ chân tay thanh tú trắng hồng. Gương mặt bé như được làm từ những cánh hoa mơn mởn, tươi mịn, thanh thoát.

Trước đôi mắt ngạc nhiên của nàng tiên cá, bé gái ấy như đang bay lượn trong vũ điệu thần tiên của trẻ thơ.

Không thể tự ngăn mình đến gần trò chơi mê man của cô bé, tôi bước tới.

- Chào ông, em chào ông!

Đó là lời nói hay tiếng hát? Giọng bé gái ngân nga, truyền đi một niềm vui bất ngờ cho bất kỳ ai biết nghe.

- Chào em, ta chào em!

Tôi cố tình bắt chước kiểu nói năng của em.

- Ông là khách phương xa?

Vừa hỏi em vừa ngừng bước nhảy, chỉ đi lại nhẹ nhàng trên các ô phấn. Tôi đáp:

- Dường như xa dường như gần chẳng biết nữa.

Nhìn vào mắt tôi, cô bé thần tiên nói như thì thầm nhưng nghe rõ từng âm tiết:

Hoặc là xa hoặc là gần

Hoặc là chơi hoặc là nghỉ

Hoặc là vui hoặc là buồn

Hoặc là không hoặc là có

Hoặc là hận hoặc là thương

Hoặc là thức hoặc là ngủ

Em rất sợ phải ngủ, ông có sợ ngủ không?

Rất ngạc nhiên, tôi đáp:

- Không! Sao lại sợ ngủ?

Cô bé lại thì thầm mà từng âm tiết vẫn nghe rõ.

- Ngủ thì chỉ có bóng tối, không có gì khác.

- Em không mơ à?

- Không. Không bao giờ?

- Tại sao?

Bỗng dưng cô bé ngồi xuống, dựa vào bệ đài đang nâng chiếc đuôi dài óng ả của nàng tiên cá.

Đến giờ ngủ rồi, cô bé nói, em ngủ đây. Làm sao để mơ, em đâu được lập trình.

Và đôi mắt với mấy hàng mi cong đen biếc khép lại một cách máy móc.

Đưa tay lay mạnh bờ vai cô bé, tôi hét lên:

- Cái gì? Em không được lập trình giấc mơ?

*

Hắn chạy. Mưa bắt đầu rơi. Hắn chạy.

Ra khỏi công viên. Ra khỏi khu đô thị mới. Ra khỏi những con đường đánh số lạnh lùng. Hắn chạy.

Không phải con đường mà cả thế giới chìm trong mưa.

Những gì hắn vừa thấy có thật không? Hay hắn đang mơ? Một ác mộng.

Hắn đang chạy. Nước mưa bắn tung tóe quanh hắn. Cả thế giới đang tung tóe, tan tác, vỡ vụn, lênh láng, hổn hển, trơn trợt chung quanh hắn.

Tuy nhiên không phải là tôi đang ngủ.

Tôi đang chạy, vậy là tôi hiện hữu.

Tôi đang chạy, hắn hét lên, tôi đang chạy...

Sự thật là hắn không chạy một mình.

Mưa đang chạy với hắn.

Mưa. Thế cũng đủ. Vẫn còn đó mưa.

N.C
(SDB18/09-15)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYÊN QUÂNNhững buổi chiều nắng ráo, gã thường ra ngồi ở đây, dọc theo hai triền sông, nở đầy những bông hoa dại - loài hoa vươn dài, xòe những chiếc lông màu tím như cái đuôi chồn. Trong bóng chiều dần dần ngả màu tối, gã vẫn ngồi ngắt từng cánh... từng cánh hoa ném xuống dòng sông.

  • VĂN ANMặt trời đã khuất sau rặng núi xa xa, bầu trời chỉ còn sót lại những vệt sáng yếu ớt như những chiếc nan quạt hắt lên từ phía chân trời.

  • NGUYỄN TRỌNG HUẤNBạn tôi là nhà thơ. Thơ anh hay, rất nổi tiếng, nhiều người ái mộ.Năm 1975, anh cùng đoàn quân chiến thắng tiến vào giải phóng Sài Gòn, trụ lại thành phố làm đại diện một tờ báo, chốt trực cơ quan. Ở rừng lâu, nằm lán, ngủ võng cũng quen, nay về phố thị, căn hộ hai ba phòng, tự nhiên thấy trống trải, trằn trọc. Hoà bình rồi, cần ổn định cuộc sống, việc đầu tiên là đón mẹ con nó vào.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNấn ná mãi tôi mới quyết định đi thăm Hiền. Quãng đường hơn trăm cây số, vượt qua đèo Cả không có gì đáng ngại. Chỉ hơn ba giờ đồng hồ ngồi xe đò và hơn một giờ nữa trên chếc xe ngựa của ông Sáu cụt chân là tôi đã có thể tới làng Vĩnh Hiệp Nam, về ghềnh Đá Đỏ. Nhà cô giáo Hiền ở đó.

  • LÊ MAICơn mưa chiều sầm sập kéo tới, mưa đổ bì bộp xuống mái nhà; hạt mưa nặng đến nỗi Hoàng tưởng như những tấm tôn phải oằn rướn lên chống đỡ; nước từ các máng xối tuôn ra ào ạt kéo theo hàng đụn lá khô, cỏ rác tràn đầy cống ngoài đường. Mới có năm giờ chiều mà như tám giờ tối.

  • HƯỚNG DƯƠNGTruyện ngắnMùa đông năm ấy tôi phải đi công tác tại một thành phố nhỏ ven biển. Khách sạn tôi trú chân nằm trên một ngọn đồi, nó không sang trọng, bề thế như nhiều khách sạn khác. Nhưng bù lại, nó hướng mặt về phía đại dương. Địa điểm này thật sự lý tưởng cho khách du lịch vào mùa hè, còn mùa đông thì chỉ có những người đặc biệt hay những công việc đặc biệt người ta mới tìm đến đây nghỉ lại. Một người bạn thân đã cho tôi địa chỉ của nó. Tôi khá hài lòng nếu như bạn hàng của tôi không bắt tôi chờ bão tan rồi mới đáp máy bay đến ký hợp đồng.

  • TRẦN HẠ THÁP(thân tặng Ng.X.Hoàng)

  • TRẦN HẠ THÁP    (tiếp theo)

  • VÕ THỊ ÁNH HỒNGTôi vừa chạy vừa gọi chị trong tiếng sóng rì rào và tiếng lao xao của dãy phi lao. Như không nghe thấy tiếng tôi, chị vẫn thẫn thờ nhìn về xa xăm, chờ đợi...

  • PHẠM NGỌC TÚYĐó là một cặp vợ chồng trông rất đẹp đôi và hạnh phúc. Chàng cao lớn, mặt vuông. Nàng mảnh khảnh, xinh xắn. Khi lấy nhau, họ ở nhà tập thể của cơ quan. Sau khi cơ quan dời đi chỗ khác, người được phân đất, kẻ được chia nhà, lần lượt dọn đi. Chỉ trừ chàng. Chàng vì cô mà ở lại.

  • PHẠM XUÂN PHỤNGXưa có một người nông dân chất phác cần cù, nhà ở gần bìa rừng, làm lụng đầu tắt mặt tối bao năm mới dựng được ngôi nhà tranh ba gian hai chái. Trước nhà có cái sân rộng dùng để phơi lạc, loại nông sản chuyên canh của dân trong vùng. Hai vợ chồng có mỗi mụn con trai nên thường chăm bẵm, những mong sau này có được dâu hiền, phúc nhà đến độ, may chăng cháu chắt đầy nhà là mãn nguyện.

  • NGUYỄN NGỌC LỢICây mai dáng trực đặt nơi khoảng sân lát gạch đỏ của toà nhà ấy đã làm xôn xao cả phố. Gốc cây mai to gộc, u bạnh của nó bám đầy địa y mốc xanh mốc trắng.

  • TRẦN THÙY MAIThấp thoáng trong văn Trần Thùy Mai là sự phô phang hình hài của linh tự. Những linh tự tủi buồn bởi hết thảy chúng đều được hoài thai từ “độ chênh” của những mối tình khó lần ra hồi kết. Điều đó khiến mỗi truyện ngắn của Mai như là một miếng hồng trần nhỏ nhắn - chị lặng lẽ vấy vá bằng sợi tầm ma trước mỗi rạng đông...

  • QUẾ HƯƠNGTôi băng qua đường để lên cầu Trường Tiền. Thằng Tí kéo tay tôi lại: “Cậu qua đường mần chi, xe cán chừ!”. Tôi cứ qua. Đám trẻ con đang chơi ở công viên trước mặt ném đá vào tôi. Tôi chạy lên cầu. Đám trẻ réo: “Ông điên! Ông điên!”. Tí chạy theo, vừa thở, vừa nắm tay tôi: “Ai bảo cậu qua bên ni, dắt cậu thiệt mệt!”.

  • NGUYỄN NGUYÊN PHƯỚC Vào một buổi tối mùa thu, Đinh Hoài Viễn, một nhà văn trẻ tuổi, một người hoàn toàn vô danh trong văn giới, trong khi bóc phong thư mới nhận được vào buổi sáng ngày hôm đó, đã phát hiện ra ở mặt sau cái phong bì rỗng ấy một văn bản kỳ lạ trong hình thức của một truyện ngắn không đề tên tác giả.

  • ĐỖ KIM CUÔNGQuán cà phê cây sứ của vợ chồng Tư Hiền nằm ngay mặt tiền con đường nhỏ dẫn ra biển. Quán không trang hoàng đèn xanh đèn đỏ, không quầy két, không người chạy bàn, chỉ dăm ba bộ bàn ghế nhựa rẻ tiền.

  • HƯƠNG LANNàng sống trong một ngôi nhà xưa, được xây cất từ đời ông cố của nàng, tính ngót nghét nó cũng hơn trăm tuổi. Ngôi nhà nằm giữa một khu vườn mênh mông.

  • LƯƠNG VĂN CHILGT: Nhà tù, nơi chưa mảy may cải hóa được người đàn ông từng trác táng trên nền đạo đức xã hội, nhưng... Truyện được thắt nút khi Thuần “lột trần” vẻ đẹp phồn sinh xuân thì để minh chứng cho những ham muốn nguyên khai của con người là có giới hạn. Không khiên cưỡng ở nhiều chi tiết nhạy cảm, không tục trần trên từng đường cong mỹ diệu... Kịch độc đã thật sự “tiêm” những rung cảm lạ lùng vào miền hoang mê của lương tri đồng loại.

  • GIAO CHỈ    Bão tố thường nổi dậy từ biển khơi hùng vĩ và kể cả. Những hút gió sấn sổ táp xuống mặt đất bao la quăng dội, tàn sát điên cuồng cho hả những cơn giận dồn góp lâu dài.