Cô đơn kiểu Octavio Paz

09:13 28/10/2016

TUỆ ĐAN

Thân xác hiện hữu để rồi đem lại sức nặng và hình dạng cho sự tồn tại của chúng ta.
                        O. P.

Ảnh: internet

Octavio Paz sinh năm 1914 và mất năm 1998, là nhà thơ người Mexico, đồng thời cũng là chủ nhân của giải Nobel Văn học năm 1990. Ông được xem là một trong số những cây viết nổi bật nhất thế kỷ XX và cũng là một trong số những nhà thơ vĩ đại nhất mọi thời đại.

Nhà phê bình Ramón Xirau nhận xét về thơ ông: “Thơ của Octavio Paz không lập lờ giữa lời nói và im lặng; nó đưa đến một địa hạt của sự im lặng mà ở đó lời nói được cất lên.” Trong thông cáo của Hội đồng trao giải Nobel lưu ý, giải thưởng được trao cho ông vì “lối viết sôi nổi với những chân trời khoáng đạt được mô tả bởi một sự hiểu biết đầy cảm xúc và tính liêm chính nhân bản.”

Thơ ông giai đoạn đầu chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa siêu thực và chủ nghĩa hiện sinh cũng như Phật giáo và Ấn độ giáo; về sau thơ ông gắn bó hơn với tình yêu, thời gian. Nói về cô đơn, ông có một tiểu luận khá dài “Mê cung của nỗi cô đơn” (The Labyrinth of Solitude), đây được xem như là một tác phẩm then chốt trong việc hiểu nền văn hóa Mexico. Một nỗi suy tư về căn tính của dân tộc khi bị coi là đã đánh mất đi giữa nền văn hóa bản địa Mỹ Latin và nền văn hóa Tây Ban Nha.

Paz cho rằng cô đơn là một sự kiện uyên nguyên của thân phận người. Chỉ con người là sinh vật duy nhất biết hắn cô đơn và cũng chỉ có hắn mới là kẻ luôn thôi thúc bản thân tìm kiếm tri kỷ. Bởi lẽ con người luôn muốn hiện thực hóa chính hắn thành tri kỷ nên hắn “không có” bản tính người đúng nghĩa nữa. Con người là kẻ hoài hương và luôn tìm kiếm sự liên lạc. Vì thế khi hắn nhận thức về chính hắn thì là khi mà hắn nhận ra sự thiếu vắng tri kỷ của hắn, đó chính là nỗi cô đơn.

Dưới lăng kính của Paz, cô đơn được hiểu như là một phương thức thể hiện ý nghĩa của sự cộng thông (communality). Chung cuộc vẫn là qua đó Paz muốn biểu đạt một trạng thái mà những người Mexico khi nhìn về dân tộc mình thì cái nhìn ấy được đặt vào trong một cái nhìn bất bình đẳng đã bị che giấu đi bởi một lớp “mặt nạ” (mask) văn hóa, khiến họ trở nên bức bí trong một thế giới cô đơn của chính mình.

Paz cho rằng người Mexico luôn luôn xa cách, trước hết với thế giới, sau đó với người khác và cuối cùng là với chính mình. Khuôn mặt của người Mexico là một chiếc mặt nạ và thậm chí kể cả nụ cười của họ cũng thế. Ngôn ngữ của họ hoàn toàn dè dặt, đầy ẩn dụ và ám chỉ, với những cụm từ dở dang trong khi sự im lặng của họ thì lại đầy màu sắc. Họ luôn cố dựng nên một bức tường lãnh đạm và xa cách giữa hiện thực với chính bản thân mình. Họ có thể cúi xuống nhưng lại không thể trở lại là chính mình, nghĩa là họ không thể chấp nhận thế giới bên ngoài thấm nhập với phần riêng tư của bản thân họ. Các mối quan hệ của họ với người khác luôn luôn bị nhuốm bởi màu sắc của sự ngờ vực, và do đó, theo Paz, tất cả họ giống như đều bị rơi vào trong một hội chứng ái kỉ dân tộc. Họ được dạy từ nhỏ để chấp nhận sự thất bại. Sự cam chịu hay nhẫn nhục là một trong số những đức tính chung nhất của họ. Họ chấp nhận sự chịu đựng khi đối diện với nỗi bất hạnh hơn cả sự thành công mĩ mãn. Đời sống của họ bị khỏa lấp trong tính hình thức cộng với sự thịnh hành của tính cách trầm tĩnh, cam chịu, mất niềm tin, mỉa mai và hồ nghi. Paz viết: “Có lẽ truyền thống của chúng ta là một trong số những hằng số của tính cách dân tộc của chúng ta, luôn gắn kết con người của chúng ta với lịch sử của chúng ta, tất cả đều xuất phát từ mối trân quý đầy tin tưởng về Hình thức của chúng ta.”

Thậm chí, một cách chua chát hơn, Paz còn cho rằng người Mexico về cơ bản chỉ là thân xác của chính họ. Thân xác là nơi gây cho họ niềm vui cũng như nỗi buồn, nó không đơn giản chỉ là bộ quần áo mà họ khoác lên mình mà vốn dĩ nó còn đem lại cho họ sự hiện diện, mãi mãi họ chẳng thể rời bỏ khỏi nó được. Người Mexico xem phụ nữ là những con người đen đúa, bí mật và thụ động. Theo Paz, người Mexico rất xuất sắc trong việc giả vờ về những đam mê của bản thân và kể cả với chính mình. Họ luôn lo phiền về cái nhìn của người khác, nên họ rút lui để trở thành một thứ bóng âm mờ đục; thay vì bước đi thì họ lại trượt đi, thay vì phát biểu thì họ lại gợi ý, thay vì phản hồi thì họ chỉ lầm bầm, thay vì than phiền thì họ lại cười. Đi từ giả vờ dần dần họ rơi vào sự bắt chước, họ luôn muốn che đậy cá tính của họ, sau cùng họ phá hủy luôn cá tính của chính mình để cam chịu cho bản thân trở thành viên đá, cái cây, bức tường, im lặng và khoảng cách.

Sau cùng, sắc thái của cô đơn được Paz hội lại nơi sự im lặng. Một sự im lặng thống trị toàn bộ dân tộc Mexico. Một sự im lặng nặng nề hơn tất cả những kim tự tháp, những sự hy sinh, những nhà thờ, những sự nổi dậy và kể cả những bài dân ca. Một sự thất bại trong việc tìm kiếm nhân dạng dân tộc. Một vòng luẩn quẩn, bế tắc đeo bám một cách dai dẳng trên xứ sở của họ. Chung cuộc, cô đơn vẫn là do họ không chịu đối thoại và liên lạc, trong cái nhìn của họ luôn chứa đựng một sự trống vắng khiến họ cam chịu trong sự im lặng của chính mình. Dần dà họ trở thành không là ai cả (Nobody). Và cuối cùng, khi xâu chuỗi tất cả những điều vừa nói ở trên, ta mới thấy được, nỗi cô đơn của nhà thơ cũng là nỗi cô đơn của cả dân tộc Mexico, một nỗi cô đơn kiểu Octavio Paz.

T.Đ  
(TCSH332/10-2016)




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • ORHAN PAMUK    

    Trong bốn năm qua, tôi đã và đang viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử kể lại câu chuyện diễn ra vào năm 1901, trong suốt giai đoạn được biết đến với cái tên Trận đại dịch hạch thứ ba. Đó là một đợt bùng phát bệnh dịch hạch đã giết chết hàng triệu người ở châu Á khi mà châu Âu không chịu nhiều ảnh hưởng từ nó.

  • VALENTIN HUSSON    

    Trước hết, ta phải hướng sự chú ý đến động từ “cách ly” khi mà với tư cách là một ngoại động từ, nó có nghĩa là sự vứt bỏ ra khỏi một giới hạn; trong khi với tư cách là một nội động từ, nó hướng đến sự ràng buộc để ở lại trong một vài giới hạn nhất định. Nó vừa nói lên cả sự vứt bỏ lẫn sự rút lui; vừa hiện diện vừa vắng mặt.

  • HIỀN LÊ

    Hiroshi Sugimoto (sinh năm 1948 tại Tokyo) là nhà kiến trúc sư, nhiếp ảnh gia người Nhật.

  • Palomar là tác phẩm hư cấu cuối cùng của Italo Calvino (1923 - 1985), một trong những nhà văn lớn nhất của Ý ở thế kỉ 20, xuất bản tháng 11 năm 1983.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN  

    Nếu bình thường thì giờ nầy chúng tôi đang ở “hộp đêm” trong bụng máy bay Eva trên đường về Quê hương và đang vượt nửa sau Thái Bình Dương.

  • JEAN-CLET MARTIN   

    Trong thời điểm cách ly và tự cách ly này, thế giới tái khám phá ra chiều kích mang lại cho nó một phương hướng nhất định.

  • Slavoj Žižek, nhà triết học người Slovenia, được mệnh danh là “nhà triết học nguy hiểm nhất ở phương Tây” hiện nay. Ông nổi tiếng với tác phẩm Đối tượng trác tuyệt của ý thức hệ (The Sublime Object of Ideology, 1989), ở đó ông đã kết hợp quan niệm duy vật Marxist và phân tâm học Lacan để hướng đến một lý thuyết về ý thức hệ.

  • MARKUS GABRIEL   

    Trật tự thế giới bị lung lay. Một loại virus đang lây lan trên quy mô vô hình của vũ trụ mà ta không hề biết được những chiều kích thực sự của nó.

  • ĐỖ LAI THÚY  

    M. Bakhtin (1895 - 1975), nhà nghiên cứu văn học Nga - Xô viết có tầm ảnh hưởng bậc nhất ở Việt Nam. Ông là nhà lý luận tiểu thuyết. Người phát hiện/minh ra tiểu thuyết đa âm, tính đối thoại, nguyên tắc thời-không, tính nghịch dị và văn học carnaval hóa…

  • THÁI THU LAN

    Émile Zola là một nhà văn hiện thực lớn nhất đồng thời cũng phức tạp nhất của nước Pháp ở cuối thế kỷ thứ 19, là người sáng lập lý luận về chủ nghĩa tự nhiên, là một tấm gương lao động không mệt mỏi, là một chiến sĩ có tinh thần chiến đấu dũng cảm chống chiến tranh phi nghĩa, chống quyền lực tàn bạo và bênh vực quần chúng lao động nghèo khổ.

  • NGUYỄN TÚ ANH - TRẦN KỲ PHƯƠNG

    Trong nghệ thuật Ấn Độ cũng như nghệ thuật Chàm, hình tượng con chuột luôn mang ý nghĩa tốt đẹp, đó là con chuột nhà hay chuột nhắt (mouse), chứ không phải chuột cống.

  • ANĐRÂY GOCBUNỐP (Tiến sĩ ngôn ngữ học Liên Xô)

    Gần đây đã có những khám phá rất có ý nghĩa ở Washington và London, trong những cuốn sách đã yên nghỉ trên các kệ sách thư viện trong cả bốn thế kỷ nay.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG

    Jen học trước tôi hai năm, đàn chị. Cô là thường trú, PGY- 4, tôi là PGY- 2. Trong nghề chúng tôi, hơn nhau một năm đã là tình thầy trò, huống gì hơn hai.

  • LƯU TÂM VŨ
                hồi ký

    LTS : Nhà văn Lưu Tâm Vũ sinh năm 1942, tốt nghiệp sư phạm Bắc Kinh năm 1961, sau đó dạy học nhiều năm ở Bắc Kinh. Truyện ngắn đầu tay Chủ nhiệm lớp đoạt giải thưởng truyện ngắn ưu tú toàn quốc 1978, được coi là tác phẩm mở đầu cho văn học thời kỳ mới.

  • Cách đây 40 năm khi nhà xuất bản Morrow and Avon chi 5 triệu đô la cho James Clavell, tác giả những cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng như Hồng Kông ngày ấy, Đại tướng quân, Whirlwind, giới xuất bản ở Mỹ choáng váng. Nhưng bây giờ tiền nhuận bút đã vượt xa kỷ lục ấy.

  • ALAN BURNS      

    William Carlos Williams cũng như bất cứ người nào, đến rất gần với việc nhận thức ra lý tưởng mới của chủ nghĩa hình tượng, nhất là trong những bài thơ như “The Great Figure” và “The Red Wheelbarrow”.

  • Đây là một câu chuyện về di dân được viết theo chương trình “Dự án chiếc giày” (The Shoe Project) được khởi xướng thành lập bởi tiểu thuyết gia Katherine Govier, Toronto, Canada. Chương trình này bao gồm việc giúp các phụ nữ di dân viết một câu chuyện 600 từ về kinh nghiệm di dân của mình và lên một sân khấu nhỏ để trình diễn (đọc) câu chuyện đó trước những khán giả trong vùng. “Dự án chiếc giày” được thực hiện ở Antigonish với sự giúp đỡ của tiểu thuyết gia Anne Simpson và nhà biên kịch Laura Teasdale.

  • NHƯ QUỲNH DE PRELLE  

    Tôi đã từng mơ ước về quê nhà để đọc thơ tiếng Việt, để thổn thức cùng thi ca tiếng Việt. Thế mà, ở nơi này, giữa trái tim châu Âu và trong lòng bạn bè quốc tế, tiếng Việt của tôi ngân lên giữa những nhịp điệu, những giọng nói hoàn toàn khác. Và tôi đi đọc thơ, tự bao giờ tôi cũng tự chuyển ngữ những bài thơ của chính mình với bạn đọc ở đây. Đi đọc thơ, bao điều thú vị và những mới mẻ.

  • HÂN QUY

    (Phỏng vấn nhà báo lão thành LÉO FIGUÈRES)