HANS CHRISTIAN ANDERSON
Hans Christian Andersen sinh tại Odense, Đan Mạch, thuộc gia đình bình dân, cha là thợ đóng giày, mẹ là thợ giặt. Tuy gia cảnh tầm thường, cha ông lại say mê văn học, ông có cả một tủ sách văn học quý giá. Từ sau khi cha qua đời (năm Andersen 11 tuổi), cậu bé đã được thỏa thích đọc những quyển sách cha để lại.
Cũng nhờ vậy mà trí thông minh và óc tưởng tượng tuyệt vời được biểu lộ ở Andersen từ khá sớm. Ông ham mê đọc những tác phẩm văn học, đặc biệt là các vở kịch của William Shakespeare.
Sau khi cha qua đời, Andersen phải làm đủ nghề để kiếm sống, có thời gian làm diễn viên trong Nhà hát Hoàng gia Đan Mạch. Bị vỡ giọng, ông chọn nghề viết văn để gắn bó suốt đời. Dù ông viết nhiều thể loại như kịch, tiểu thuyết, thi ca, ông được biết nhiều nhất qua các câu chuyện cổ tích dành cho thiếu nhi. Truyện cổ Andersen đã được dịch sang 125 ngôn ngữ, thể hiện những bài học đạo đức và sự bền bỉ kiên cường trước nghịch cảnh. Điều này gây ảnh hưởng lớn đến người đọc, trẻ em và cả người lớn. Một số câu chuyện nổi tiếng nhất là: “Bộ quần áo mới của hoàng đế”, “Nàng tiên cá”, “Bà cháu tuyết”, “Con vịt xấu xí”...
Nhìn chung, bút pháp của Andersen rất mới mẻ, khác với cách viết truyện cổ tích thông thường. Có truyện kết thúc kiểu có hậu, thể hiện niềm tin vào những điều tốt lành, đẹp đẽ, nhưng cũng có truyện khép lại với nỗi buồn sâu thẳm của những ước mơ không thành hiện thực. Dù ở trường hợp nào, ông cũng bày tỏ sự thông cảm sâu sắc đầy thương cảm cho những số phận không may, bởi chính ông cũng đã trải qua một tuổi thơ nhọc nhằn. Truyện “Cô bé bán diêm” được giới thiệu dưới đây không dài nhưng rất thú vị. Truyện kể hoàn cảnh thương tâm của một em bé nghèo, với chính em là nhân vật duy nhất, không có tên. Ba người khác trong gia đình được nhắc đến một cách gián tiếp... Suốt cả câu chuyện bộc lộ những nét tương phản: một bên là cảnh tối tăm, đói rét, cô đơn, chết chóc ngược với ánh sáng, ấm cúng, thức ăn ngon, niềm hy vọng ở cuộc sống nơi thiên đường.
Mùa xuân năm 1872, Andersen bị té từ trên giường nằm và bị thương nặng, không thể hồi phục. Ông được phát hiện dấu hiệu bệnh ung thư gan và qua đời ba năm sau trong ngôi nhà vợ chồng người bạn thân ở Copenhagen. Ngay sau khi ông qua đời, nhà điêu khắc August Saabye thực hiện một bức tượng lớn để vinh danh ông. Hiện nay tượng được dựng tại “Vườn của Nhà vua” ở Copenhagen.
Thân Trọng Sơn giới thiệu và dịch
Cô bé bán diêm
Trời lạnh như cắt, tuyết rơi nhiều, không gian đêm cuối năm tối tăm mờ mịt. Trong bóng tối lạnh lẽo đó, một em bé vẫn còn lang thang ngoài đường, đầu trần, chân đất. Thực ra, khi ra khỏi nhà, em có đôi giày vải nhưng có cũng như không, vì giày là của mẹ em, quá rộng cho chân em. Giờ này thì đôi giày đã mất khi em vội qua bên kia đường để tránh một chiếc xe ngựa đang lao tới với tốc độ kinh hoàng.
Một chiếc lạc chỗ nào tìm không ra, chiếc kia bị một thằng nhóc bụi đời chạy tới chộp lấy, hắn nghĩ là rồi sau này khi có con hắn sẽ dùng nó làm chiếc nôi chơi cho con. Do vậy, em đành đi chân đất, đôi chân đỏ ửng rồi tím bầm vì lạnh. Em có mang theo một số bao diêm trong chiếc tạp dề cũ, còn mấy bao khác em cầm trong tay. Chẳng ai mua diêm suốt cả ngày nay, cũng chẳng ai cho em lấy một xu!
![]() |
| Minh họa: ĐẶNG MẬU TỰU |
Em bước lê trên đường, lạnh và đói đến run lên - đúng là hình ảnh bi thảm, một cô bé tội nghiệp.
Những bông tuyết phủ đầy mái tóc dài, cuộn thành từng búp xinh xắn quanh cổ em; mà thật ra em không hề quan tâm đến nữa. Cửa sổ nhà nhà đều sáng lòa ánh nến, sực nức mùi ngỗng quay hấp dẫn, đêm Giao Thừa mà!
Em ngồi nép vào một góc giữa hai ngôi nhà, nhà này thụt sâu vào hơn nhà kia một chút. Em cố co hai chân sát vào người, nhưng mỗi lúc em càng thấy lạnh hơn. Tuy nhiên, em không dám về nhà, vì em chưa bán được bao diêm nào, không ai bố thí đồng nào. Cha em chắc sẽ đánh em, mà về nhà cũng lạnh như thế này thôi, gió lạnh vẫn lọt qua mái lá, dù các lỗ hổng trống hoác đã được giẻ rách và rơm rạ chèn lại.
Hai bàn tay em gần như lạnh cứng đờ ra. Ôi chao, lúc này thì một que diêm có thể mang đến cho em cả một trời hơi ấm, nếu em liều rút một que diêm ra, quẹt vào tường và hơ những ngón tay vào. Thế là em rút ra một que diêm. “Xoẹt!” Diêm cháy ngay ấm và sáng như một ngọn nến. Em hơ đôi bàn tay vào. Một thứ ánh sáng tuyệt vời! Em tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi lớn bằng sắt, có chân bằng đồng bóng và những hoa văn cũng bằng đồng bên trên. Ngọn lửa cháy ấm áp vô cùng, thật là hạnh phúc. Cô bé định duỗi chân ra cùng sưởi luôn thì ngọn lửa đã tắt ngấm, lò sưởi biến mất, chỉ còn trên tay em que diêm đã tàn!
Em quẹt que diêm thứ hai, diêm cháy sáng rực lên, chiếu vào bức tường. Bức tường biến thành một tấm rèm bằng vải thưa, cho em nhìn thấu tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, khăn trải trắng tinh, trên đó bày toàn bát dĩa bằng sành sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay, nhồi đầy táo và mận khô, còn bốc khói ngon lành.
Nhưng điều lớn nhất cần chú ý là con ngỗng đó nhảy phốc ra khỏi dĩa, lăn quay trên sàn, trên ngực còn cắm cả dao và nĩa, tiến về phía em, bất chợt cây diêm vụt tắt, trước mặt em chỉ còn những bức tường dày đặc, lạnh lẽo và ẩm ướt. Em lại quẹt một que diêm khác. Lúc này, em đang ngồi dưới gốc một cây thông Giáng Sinh. Cây này lớn hơn, trang hoàng lộng lẫy hơn cây Giáng Sinh mà trước đây em đã thấy qua ô cửa kính nhà một thương gia giàu có.
Hàng ngàn ngọn nến sáng rực trên cành lá xanh tươi, và những bức tranh nhiều màu, giống như em đã nhìn thấy trong các tủ hàng, đang nhìn xuống em. Cô bé tội nghiệp dang tay ra về phía cây Giáng Sinh. Những ngọn đèn trên cây vươn cao lên, cao mãi, em thấy chúng như biến thành những ngôi sao trên thiên đàng và một ngôi sao rơi xuống làm thành một vệt lửa sáng ngời.
“Có lẽ ai đó vừa qua đời!”, em nghĩ, vì bà của em, người duy nhất trên đời thương yêu em, đã từng nói khi một ngôi sao rơi xuống là một linh hồn bay lên trời với Thượng Đế.
Em lại quẹt một que diêm nữa vào tường: ánh sáng lại tỏa ra, em thấy bóng dáng già nua của bà mình, rạng rỡ, huy hoàng, hiền dịu, nét mặt chan chứa yêu thương.
“Bà ơi, em bé kêu lên, cho cháu đi với bà. Rồi diêm tắt bà cũng ra đi, bà sẽ biến mất với cái lò sưởi ấm áp, với con ngỗng quay, và cây Giáng Sinh rực rỡ hồi nãy. Thế rồi em vội vã quẹt hết cả những que diêm còn lại trong bao, vì muốn níu kéo người bà ở lại. Những que diêm nối tiếp nhau sáng lên như giữa ban ngày: chưa bao giờ em thấy bà đẹp đẽ, cao lớn như thế này. Bà đưa tay ôm lấy em và cả hai cùng bay vút lên cao trong ánh sáng và niềm vui, lên cao, cao mãi, đến một nơi không còn lạnh lẽo, đói khát, lo âu - họ đã về với Thượng Đế.
Rồi hôm sau, ở một góc tường, trong giờ khắc bình minh giá lạnh, em bé tội nghiệp có đôi má ửng hồng, miệng hé mỉm cười, ngồi tựa vào tường, em đã chết vì giá lạnh trong đêm giao thừa!
Em ngồi đó giữa những bao diêm, một bao đã cháy hết. Mọi người bảo nhau: Chắc cô bé muốn sưởi ấm mình đây mà! Không ai nghi ngờ về những điều tốt đẹp như thế nào em đã nhìn thấy. Không ai mơ thấy được khung cảnh huy hoàng tráng lệ như thế nào, lúc hai bà cháu cùng hân hoan rạng rỡ bước vào năm mới.
------------
Tác phẩm được dịch từ nguyên bản tiếng Anh, tháng 9/2020. Nguồn: https://americanliterature.com).
(SHSDB39/12-2020)
Tải mã QRCode
BĂNG TÂM
Sinh sống trong suốt chiều dài thế kỷ XX, Băng Tâm là một khuôn mặt tiêu biểu của văn học Trung Quốc, ảnh hưởng lớn đến các nhà văn thời đại bà, với nhiều thể loại khác nhau, kể cả văn học dành cho tuổi trẻ. Tên thật là Tạ Uyển Oánh (谢婉莹), bà lấy bút danh là Băng Tâm (冰心) với mong muốn giữ một lý tưởng thanh khiết, mượn từ ý thơ của Vương Xương Linh: Tâm hồn như một khối băng trong một chậu ngọc.
KATHERINE MANSFIELD
L. CHOIJILSUREN (Mông Cổ)
Vụ mùa năm đó bội thu khác thường. Mùa thu dài lê thê và chim chóc dường như không muốn rời tổ. Chúng bay theo hình cánh cung trên cánh đồng bao la từ sáng đến tối, như muốn chào đón người từ mặt trận trở về.
ISABEL MILES (Anh)
UNNO JUZA
NADINE GORDIMER
Salman Rushdie (1947), nhà văn và người viết tiểu luận, gốc Ấn, hiện sống tại Mỹ, là tác giả của nhiều tiểu thuyết gây tiếng vang, như Những đứa con của nửa đêm, được trao giải Booker, năm 1981, và cả những tiểu thuyết gây tranh cãi như Những vần thơ của Satan, 1988. Văn phong Rushdie thâm trầm, khoáng lộng, hài hước và tươi mới.
O’HENRY
FRANK O’CONNOR
Khi tôi tỉnh giấc, tôi nghe có tiếng mẹ ho ở nhà bếp. Mẹ bị ho đã nhiều ngày nhưng tôi không để ý. Chúng tôi sống ở Old Youghal Road, nơi mà vào lúc đó, có một con đường nhiều đồi dốc dẫn tới East Cork.
E. RUXACỐP (Nga)
ABDULRAZAK GURNAH
Tôi nghĩ anh ta đã nhìn thấy tôi đang tiến lại gần, nhưng vì lý do riêng nào đấy nên anh ta vẫn không có dấu hiệu gì.
Maurice Druon, sinh năm 1918, theo học Đại học Luật Paris. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, ông tham gia lực lượng kháng chiến Pháp chống phát xít Đức, là thông tin viên Đài Phát thanh Kháng Chiến. Giải Goncourt 1948 với tác phẩm "Đại Gia đình" (Les Grandes Familles). Các tác phẩm đậm chất trữ tình của nhà văn: "Kết thúc đời người" (La Fin des Hommes), "Hẹn gặp tại Địa ngục" (Rendez-vous aux enfers) phản ánh một thiên hướng theo trường phái Balzac.
Ông đồng thời là tác giả một số tiểu thuyết lịch sử.
JENNIFER WALKUP
Tôi sẽ không nói với ai về việc chẩn đoán.
Không hé răng với mẹ hay em gái tôi. Chắc chắn không phải Jake và có lẽ với Steve cũng không hề.
GRAHAM GREEN
Cái chết đến kề như một nỗi nghiệt ngã day dứt mà ta hổ thẹn không dám thổ lộ với bạn bè hoặc đồng nghiệp.
ELISABETH SILANCE BALLARD
Một truyện ngắn cảm động về tình thầy trò. Truyện khiến người đọc có thể nghĩ chuyện xảy ra hôm nay, không phải cách đây hơn bốn mươi năm.
Tác giả tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 - 1985). Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học. Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông: “Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…
KATE CHOPIN
Catherine O’ Flaherty sinh năm 1850 tại Saint Louis, Missouri, bố gốc người Ái Nhĩ Lan, mẹ gốc Pháp, lớn lên trong môi trường đa văn hóa, từ nhỏ đã nói tiếng Pháp đồng thời với tiếng Anh.
Nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sỹ, dịch giả Ấn Độ Rabindranath Tagore sinh năm 1861 tại Calcutta, Ấn Độ và mất năm 1941. Ông để lại một di sản văn học - nghệ thuật đồ sộ với hàng ngàn tác phẩm đủ các thể loại. Tagore còn là nhà yêu nước, đòi giải phóng Ấn Độ khỏi sự cai trị của Anh. Ông được trao giải Nobel văn học năm 1913.
O’Neil De Noux sinh ngày 29/11/1950 tại New Orleans, bang Louisiana, Hoa Kỳ. Ông là một nhà văn Hoa Kỳ có sức sáng tác mãnh liệt với nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn, đã có 42 đầu sách được xuất bản. Phần lớn sáng tác của ông là truyện trinh thám hình sự, tuy nhiên ông cũng viết nhiều thể loại khác như tiểu thuyết lịch sử, truyện dành cho trẻ em, truyện khoa học viễn tưởng, kinh dị, tình cảm, v.v.
JASON HELMANDOLLAR
Jason Helmandollar là một nhà văn người Mỹ, tác giả của nhiều truyện ngắn nổi tiếng được đăng trên các báo, tạp chí đang thịnh hành lúc bấy giờ như Encounters Magazine, Bartleby Snopes, Title Goes Here, Sideshow Fables. “The Backward Fall” là một trong những truyện ngắn hay và hấp dẫn của ông.