HOÀNG DIỆP LẠC
Văn hóa xi nê
Có thể nói rằng cinema (điện ảnh hay còn gọi là chiếu bóng) là món ăn hấp dẫn cho nhãn căn và nhĩ căn của một thời.
Tờ program giới thiệu phim của rạp chiếu bóng Châu Tinh
Được đi xem xi nê với cả gia đình là niềm khao khát của những học sinh bậc tiểu học. Các anh chị lớn trong nhà thì có cơ hội để diện những bộ áo quần mà vào ngày thường đi học không mặc được. Với những đứa nhỏ cùng lứa như tôi thì ăn mặc lịch sự, sạch sẽ. Sự háo hức được thêm phần hấp dẫn do khi vào rạp luôn có quà như kẹo cao su, ô mai,… hoặc khi đang đứng chờ thì được ăn kem, ăn chè, uống coca…
Thời đó mua vé vào các rạp xi nê rất dễ; trên vé có số ghế, nếu vào sớm thì tự tìm chỗ ngồi, nếu vào trễ khi đèn đã tắt thì sẽ có người hướng dẫn cầm đèn pin xem vé và chỉ chỗ ngồi. Mỗi rạp có ba loại ghế ngồi tương ứng với ba loại vé được bán ra. Vé hạng lầu thì ngồi trên lầu, vé hạng nhất thì ngồi hạng nhất ở phía trên, vé hạng nhì ngồi sát màn hình. Tùy vào mỗi hạng mà loại vé có giá tiền khác nhau. Không như các rạp ở Sài Gòn chiếu liên tục (permanent) trong ngày, những rạp ở Huế chiếu theo xuất, mỗi xuất 2 giờ.
Do nhà ở gần hai rạp xi nê Châu Tinh và Hoàn Mỹ, nên thời niên thiếu tôi thường được gia đình cho xem những phim hài, những phim thiếu nhi hoặc những phim võ thuật nhẹ nhàng. Giai đoạn này, tôi nhớ nhất là phim Độc thủ đại hiệp do Vương Vũ giữ vai chính, Tinh võ môn chiếu ở rạp Khải Hoàn, ở bên ngoài rạp có treo tấm pano lớn cỡ 2m x 3m hình Lý Tiểu Long bay đá, phim Khuyển tặc nói về những chú chó thông minh chiếu ở rạp Châu Tinh, phim Tình thù rực nắng, phim Mùa thu lá bay, Luân vũ trong bóng mờ của nước ngoài, Vết thù trên lưng ngựa hoang của Việt Nam chiếu ở rạp Tân Tân diễn viên chính là Trần Quang,… thuộc thể loại tâm lý dành cho người lớn. Những diễn viên đóng phim võ thuật nổi danh thời đó là: Vương Vũ, Trần Tinh, Khương Đại Vệ, Địch Long, La Liệt, Trịnh Phố Phối,… và không thể thiếu Lý Tiểu Long, các nữ diễn viên nổi tiếng từ bên kia đại dương thường xuất hiện trên màn ảnh đại vĩ tuyến (cinemascope, tức màn ảnh rộng) như: Marilyn Monroe, Elisabeth Taylor, Brigitte Bardot, Ingrid Bergman, Sophie Marceau,… cùng các diễn viên nam như: James Dean, Richard Burton, Anthony Quinn, Alain Delon, Humphrey Bogart,… Đối với những phim dành cho người lớn thì trẻ em dưới 18 tuổi bị cấm không được vào rạp.
Sau này lớn hơn một chút mới có cơ hội đi xi nê một mình, cái cảm giác ngồi đợi đèn tắt, xem chiếu dạo (chiếu thử những phim mới, ngày nay gọi là trailer) trước khi vào phim chính sung sướng vô cùng. Thời đó, vào rạp xi nê không được hút thuốc, không chen lấn, mọi người ngồi xem rất tập trung không ồn ào, la ó, người nào việc đó, những cặp tình nhân thường ngồi ở những ghế sát hai bên tường để tránh gặp người quen và dễ tâm sự, dỗ dành. Thời gian này các phim nước ngoài đều có phụ đề Việt ngữ, hoặc phụ đề cả ba ngôn ngữ Việt, Anh, Hoa hoặc Việt, Hoa đối với phím nói tiếng Pháp hoặc tiếng Anh.
Giai đoạn sau này có tình trạng bán vé chợ đen ở các rạp, cảnh chen lấn mua vé, chen lấn vào rạp, rồi khi có những pha “hấp dẫn” thì một số thanh niên la ó, huýt còi miệng hay đập ghế rất ồn ào. Thời gian này có những phim gây ấn tượng như: Mối tình đầu của đạo diễn Hải Ninh, vai chính là diễn viên Thế Anh trong vai Ba Duy, các nữ diễn viên danh tiếng như Trà Giang, Như Quỳnh, phim Tội lỗi cuối cùng của đạo diễn Trần Phương, diễn viên chính là Phương Thanh trong vai Hiền “cá sấu” đóng với Trần Quang, phim Mùa gió chướng, Cánh đồng hoang, phim nhiều tập Ván bài lật ngửa, vai chính là Nguyễn Chánh Tín của Việt Nam, phim Anh không thể nói lời vĩnh biệt, Những tên cướp biển của thế kỷ XX, Thầy Lang,… của nước ngoài. Và một giai đoạn các rạp chiếu phim cổ tích, thần thoại của Nga và các nước Đông Âu như: Trẻ mãi không già, Ruslan và Lutmila, Nàng công chúa và hạt đậu, Cô gái trên cái chổi,… Thời gian này phim đã có thuyết minh tiếng Việt.
![]() |
![]() |
| Tờ program song ngữ phim “Le jour le plus long (The longest day)” được dịch là “Máu xương tạo anh hùng” |
Những tờ program
Có những phim do không có tiền hoặc vì lý do nào đó không được vào xem nhưng do tò mò và muốn biết nội dung câu chuyện nên đám trẻ chúng tôi thường lai vãng quanh các rạp để xin các tờ program (tờ giới thiệu tóm tắt nội dung phim). Nếu được các anh chị, chú bác tặng luôn thì sướng rơn chạy về khoe với đám bạn, còn không thì mượn đọc ké và học thuộc để ra vẻ biết chuyện về làm oai với mấy đứa khác.
Cũng có nhiều người thích sưu tập program như một thú vui, đôi khi để lưu dấu một kỷ niệm hẹn hò với người bạn gái của mình, hay một biến cố nào đó trong cuộc sống.
Tờ program ngoài việc tóm tắt nội dung phim, còn làm công việc quảng bá hình ảnh của các diễn viên, những thần tượng của nghệ thuật thứ bảy hay các đạo diễn tên tuổi các nhà văn lừng danh. Hồi đó, tờ program được in một màu trên nhiều cỡ giấy, nhưng cỡ tương đương với khổ A4 là nhiều nhất, có khi màu đỏ, khi màu xanh hoặc màu tím hay màu đen, màu vàng.
Có những tờ program lại sử dụng thơ Việt làm cảm đề cho phim Tây, rồi lại dùng nhan đề của các tác phẩm văn học Việt Nam có tiếng thời đó để đặt đề cho phim nước ngoài. Như phim Devoirce (Ly hôn) do cặp đôi diễn viên nổi tiếng thời đó Elisabeth Taylor và Richard Burton đóng được đặt tên là Đoạn tuyệt, cũng là nhan đề một tác phẩm của nhà văn Nhất Linh. Với phim Fanny có nhan đề tiếng Việt là Tình nơi bến cũ đã sử dụng bài thơ Hai sắc hoa Tigôn làm cảm đề cho phim, trên tờ program này còn đưa ca dao tục ngữ Việt Nam vào để minh họa thêm cho nội dung phim:
Trăm năm dù lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa
Hoặc thơ Nguyễn Bính trong bài Lỡ bước sang ngang:
Em từ lỡ bước sang ngang
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây
Nhưng câu đầu đã trở thành dị bản, vì bản chính bài thơ của Nguyễn Bính là:
Chuyến này chị bước sang ngang
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây
Hoặc phim Le jour le plus long (The longest day) nếu dịch đúng nghĩa là Ngày dài nhất nhưng lại được dịch là Máu xương tạo anh hùng để nói về trận đánh trong chiến tranh thế giới thứ hai tại bờ biển Normandie của Pháp.
Có những tờ program song ngữ, Việt Anh hoặc Việt Pháp. Dòng trên cùng của program là một câu khẩu hiệu để tuyên truyền cho chủ trương của chế độ thời đó. Điều đặc biệt là mỗi tờ program đều có số và ngày kiểm duyệt. Một vài địa chỉ in tờ program thời đó là Nhà in Phương Nam 41 Nguyễn Phi, Sài Gòn và Nhà in Phúc Thịnh, 45 Nguyễn Phi, Sài Gòn.
Vẽ trên pano giới thiệu quảng bá phim
Một điều không thể thiếu là các bảng pano như cuốn hút người xem vào các rạp, đó là cái tài của người vẽ. Họ luôn bắt được cái thần và nhân vật chính trong phim rồi bằng trí nhớ, các họa sĩ đã phóng bút trên tấm pano dài và cao gấp hai gấp ba người mình, có khi vẽ trên nhiều tấm pano cỡ lớn rồi ráp lại. Dạo đó ở Huế có những người vẽ pano như: Lê Vinh, Duy Hinh, Hồ Công Thành, Lê Văn Mỹ,… nhưng người vẽ có hồn và nhanh nhất là ông Lê Vinh. Có cơ hội được nhìn ông vẽ mới thấy được tài năng thật sự, ông vẽ rất nhanh, người đứng xem xung quanh chưa kịp nhìn ra điều gì, chỉ thấy màu sắc, rồi chỉ thêm thắt, nhấn nhá vài chi tiết là ra ngay gương mặt diễn viên chính đang biểu hiện pha hấp dẫn nhất trong phim. Người cùng thời ông Lê Vinh kể rằng, vào khoảng cuối thập niên 60, ông vào Sài Gòn để xâm nhập vào thế giới xi nê, ông được thuê vẽ cho những rạp lớn ở Sài Gòn, sau khi xuất chiêu trên những tấm pano cỡ lớn, ông đã được giới giang hồ Sài Gòn mời về Cố đô với lý do Sài Gòn không phải là đất làm ăn của ông! Thật ra, do tài năng của ông đã khiến các đối thủ không cạnh tranh nổi, nên đã thuê giới giang hồ hành xử như vậy. Trong thập niên 60 và 70, ở Sài Gòn có họa sĩ Dương Tuấn Kiệt, được mệnh danh là ông hoàng vẽ tranh xi nê.
Thế hệ trẻ thường được đứng xem ông Lê Vinh vẽ pano xi nê ngay cạnh các rạp từ đường Chi Lăng đến đường Trần Hưng Đạo. Có nhiều lúc ông đã dùng bẹ chuối làm dập một đầu hoặc cái chổi lớn thay cho bang xô để vẽ, giai đoạn đó chất liệu để vẽ thường là bột màu trộn keo, được hòa trong các xô lớn. Khi Lê Vinh vẽ, người xem thường đứng gần để nhìn thủ pháp của ông, người xem chưa kịp nhìn ra hình thể gì cho đến khi tấm pano được dựng lên trên cửa hiệu rạp xi nê mọi người mới trầm trồ thán phục. Ông Lê Vinh thường đi bộ và dắt theo mấy cây cọ ở chiếc giầy cao cổ như phong cách sống của mình. Ông có gương mặt và dáng đi, đứng rất phong trần và sang trọng như một số nam diễn viên điện ảnh nổi tiếng thời đó, với mái tóc hơi dài chải ngược phía sau, để lộ vừng trán cùng những nếp nhăn của thời gian; có lẽ ông ảnh hưởng phong cách của các diễn viên Charles Bronson, James Dean,… là những tài tử gạo cội có phong thái từng trải và phong lưu. Hẳn vì vậy ông đã vẽ chân dung của tài tử này mà họa sĩ Đinh Cường đã viết khi ghé nhà Trịnh Công Sơn ở đường Gia Long (Phan Đăng Lưu bây giờ): “Tôi còn nhớ rõ, ở chân cầu thang lên lầu, bên vách, Sơn treo bức hình James Dean thật lớn, hình như Lê Vinh vẽ. Lúc đó, Lê Vinh là họa sĩ vẽ phông xi-nê rất giỏi, không ai vẽ đẹp và nhanh bằng - cả Sài Gòn và Huế.” Ngoài ra, tên tuổi của ông Lê Vinh cũng được biết đến khi vẽ minh họa cho những phim cao bồi, người xem nói ông vẽ các chàng cao bồi viễn tây và những chú ngựa còn đẹp hơn cả trong phim. Cũng vì thế mà đã có người từ xa xôi khăn gói đến để xin thụ giáo ông. Một trong những người học trò ruột của ông Lê Vinh là Hồ Công Thành, anh có riêng một phòng vẽ ở đầu đường Phan Đăng Lưu, người mà anh vẽ có hồn nhất là Che Guevara. Lũ trẻ chúng tôi mỗi lần ngang qua đều dừng lại trước của hiệu Hồ Công Thành để chiêm ngắm những chân dung gây sửng sốt bởi nét vẽ rất ấn tượng của anh.
Một trong những tấm pano quý hiếm tại rạp Hưng Đạo được chụp lại, cùng hai chàng cao bồi trong phim Hận thù trong dòng máu do họa sĩ Lê Vinh và những học trò thực hiện vào gần cuối thập niên 60 là một minh chứng cho tài năng của ông Lê Vinh.
![]() |
| Rạp chiếu bóng Hưng Đạo ngày xưa (nay là Nhà Văn hóa Thành phố Huế) |
Các rạp xi nê ở Huế
Khi tôi biết xem xi nê thì ở Huế có bốn rạp: trên đường Trần Hưng Đạo có rạp Hưng Đạo là lớn nhất, rồi rạp Tân Tân ở phía đối diện chợ Đông Ba chếch về cầu Trường Tiền. Ở đường Chi Lăng có rạp Châu Tinh cách cầu Gia Hội chừng ba trăm mét, đi về phía gần đường Nguyễn Du thì có rạp Khải Hoàn thời trước có tên là LiDo và sau này đổi thành Khải Hoàn rồi Hoàn Mỹ sau ngày giải phóng. Theo những fan của cinema thời trước năm 1975 thì ở trong Thành Nội có rạp Lửa Hồng, qua cầu Trường Tiền có rạp Morin, ngoài ra thời đó Huế còn có rạp hát Đồng Xuân Lâu dành cho hát bội, ca Huế, cải lương nằm trên đường Phan Đăng Lưu ngày nay.
Nhắc đến rạp Tân Tân ở Huế, tôi chợt nhớ một kỷ niệm thật buồn cười nhưng rất đẹp, đó là buổi xế chiều mùa thu năm 1993 khi chở người yêu ngang qua đường Trần Hưng Đạo, tôi hỏi thích xem xi nê không? Người yêu gật đầu, tôi gửi xe rồi vào mua vé, nhưng lại quên mất mình không đủ tiền, xe đã gửi, người yêu thì đứng đợi vào xem phim, tôi phân vân vài phút thì gặp quý nhân xuất hiện. Còn nhớ như in gương mặt anh Hiền làm ở Faflm Huế cười khi thấy tôi lúng túng, không hiểu sao anh Hiền lúc đó đứng ở cửa kiểm soát vé; tôi đến mượn tiền anh mua vé, anh bảo thôi vào đi, vậy là tôi nhanh chân dắt tay người yêu vào. Ngồi xem một lúc thì mới nói thật cho người yêu biết. Bây giờ mỗi lần kể lại cho con nhỏ nghe cả hai đều cười. Vậy là đã hai mươi năm trôi qua.
![]() |
| Rạp xi nê Đông Ba (rạp Tân Tân cũ) |
Kết cuộc của các rạp xi nê
Và cái ngày mà cinema lụi tàn nhanh chóng chính là do sự ra đời của băng video và đầu máy đọc băng. Nhà nhà mua sắm đầu máy về, kết nối vào tivi rồi đi thuê băng để biến phòng ngủ, phòng khách ở nhà thành “rạp chiếu bóng”, cũng từ đây nảy sinh ra nhiều câu chuyện khác về giáo dục trong gia đình; rồi những năm tiếp theo thì đĩa VCD, DVD ra đời cùng các thiết bị điện tử với giá ngày một rẻ. Cùng với chất lượng phục vụ không tốt và sự thiếu quan tâm, đầu tư của các ban ngành quản lý đã góp thêm phần đóng cửa vĩnh viễn các rạp xi nê ở Huế và một số nơi khác. Hiện tại, ở Huế chỉ còn rạp xi nê Đông Ba (rạp Tân Tân cũ) hoạt động èo uột, sử dụng một phần mặt bằng cho thuê kinh doanh. Rạp Châu Tinh biến thành điểm cho thuê đám cưới. Rạp Hoàn Mỹ bỏ hoang. Rạp Hưng Đạo là Nhà Văn hóa Thành phố thường cho thuê mặt bằng để các trường, cơ quan đoàn thể làm lễ tổng kết, tốt nghiệp và tổ chức các sự kiện văn hóa.
Bây giờ là kỷ nguyên của internet, tất cả nền tri thức của con người được đưa vào kho chứa đó kể cả nghệ thuật thứ bảy. Nhưng làm sao để có được cái không khí đi xem xi nê của ngày xưa, cái cảm giác chờ đợi khi hẹn hò người yêu, cảm giác ngồi bên cạnh một người xa lạ nhưng cùng chung cảm nhận về bộ phim, rồi nghe những tiếng khóc thổn thức, những trận cười như điên, những run rẩy vì hồi hộp đến nghẹt thở trong những pha hành động gay cấn… Và cuối cùng là cảm giác tiếc nuối khi ra về, về đến nhà mà bộ phim vẫn theo mình vào trong giấc ngủ, có khi còn không ngủ được vì tức, vì thương nhân vật. Đó là sức nặng, sức mạnh của điện ảnh, của nghệ thuật thứ bảy mà người xem đã góp phần tôn vinh nó, tôn vinh các nghệ sĩ… Còn nhớ khi vào trong các rạp thì các poster giới thiệu các diễn viên, các đạo diễn luôn treo ở những vị trí rất trang trọng. Bây giờ những điều đó chỉ còn lại trong ký ức của một vài người thuộc thế hệ xa xưa.
H.D.L
(SDB10/09-13)
Tải mã QRCode
NGUYỄN THANH TÚ"...Phim Dòng Sông Phẳng Lặng (DSPL) không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mang tính sử thi ngợi ca chủ nghĩa anh hùng Cách mạng của quân và dân Thừa Thiên Huế (TTH) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mà tập trung hoàn thành bộ phim này nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày TTH và miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc làm đó còn là nghĩa cử của người đang sống đối với những liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì hòa bình độc lập dân tộc ở mảnh đất này". Đó là phát biểu của đồng chí Hồ Xuân Mãn - Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư Tỉnh ủy tỉnh TTH tại cuộc họp bàn công tác sản xuất phim DSPL mà nhà văn Tô Nhuận Vỹ đã kể cho tôi nghe.
VI THUỲ LINHHollywood, kinh đô điện ảnh (ĐA) thế giới, là mơ ước, đích đến của nhiều nước. Việt Nam, được xếp hạng thuộc “thế giới thứ ba” cả về kinh tế và vị thế điện ảnh, vừa có mặt ở đây, một đoàn 13 nhà ĐA, hào hứng và quyết tâm để học. Vậy ở kinh đô ấy, họ đã nhận thấy điều gì?
VĨNH NGUYÊN...Ngọc Tranh sinh năm 1932 ở làng Thọ Linh, Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình. Cha mất sớm, ở với mẹ và bà nội. Tuy là con cưng nhưng sau những buổi đi học về là cắt cỏ, chăn trâu giúp đỡ gia đình, bởi vùng đất chỉ hai mùa khoai - lúa, mất mùa, bà con sống bằng nghề mây tre, lá nón trên rừng...
VŨ HÀSuốt mười ngày đêm (từ 3.5 đến 13 tháng 5 năm 2003) trên sân khấu Nhà hát Trưng Vương thành phố Đà Nẵng, hơn 500 nghệ sĩ, diễn viên của 12 đơn vị nghệ thuật từ Thanh Hoá tới Khánh Hoà đến tham gia Liên hoan khu vực đã ra mắt 12 vở diễn phong phú các sắc màu, giọng điệu tươi mới nồng nàn, làm nên gương mặt sân khấu của những năm tháng này...
ĐẶNG NHẬT MINH (Trích hồi ký)...Bộ phim là sự thể hiện của tài năng chân chính và sự giàu có nội tâm... Chúng tôi đã chứng kiến hàng loạt những nhận xét cảm động về bộ phim kể cả từ phía khán giả đại chúng. Bộ phim đã giành được uy tín rất cao trong lòng hàng loạt khán giả, kể cả chuyên gia điện ảnh và truyền hình lẫn các giới chức ngoại giao và những người khác...
ĐẶNG NHẬT MINH (Trích hồi ký)Sau khi đi thực tập về điện ảnh một thời gian ngắn ở Paris về, tôi bắt đầu viết kịch bản Cô gái trên sông mà tôi đã có ý định từ trước như một món nợ tinh thần đối với xứ Huế, quê hương tôi. Cô gái trong kịch bản chính là cô gái trong bài thơ của nhà thơ Tố Hữu: Tiếng hát sông Hương. Cô gái đó tượng trưng cho nhân dân khổ đau hy vọng vào một ngày mai tươi sáng, hết lòng che chở cho cách mạng. Nhưng khi thành công rồi thì một số người đã quay lưng lại với họ.
LTS: Kỷ niệm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Doanh nghiệp Quốc gia Chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam (15/3/1953) khai sinh cho nền điện ảnh dân tộc, SÔNG HƯƠNG xin giới thiệu với bạn đọc ba chương (chương III, IV, X) trong cuốn Hồi ký Điện ảnh của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Qua những dòng hồi ký này bạn đọc sẽ biết được trong hoàn cảnh nào Đặng Nhật Minh đã trở thành đạo diễn điện ảnh, những bước đi đầu tiên của anh trong lĩnh vực này... và như anh đã viết trong lời nói đầu của cuốn hồi ký: ..."nếu gạt bỏ đi những cái chủ quan của người viết (mà chắc là không tránh khỏi) vẫn còn lại cái gì đó hữu ích đối với những ai muốn tìm hiểu đôi chút về một thời làm phim ở nước ta". SH
NGUYỄN TUYẾN TRUNGNhững năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước tôi có dịp ra thăm hậu phương lớn miền Bắc cùng đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng khu Trị Thiên. Tôi gặp kịch tác gia Hồ Ngọc Ánh trong hội nghị tập huấn về sân khấu tại 51 Trần Hưng Đạo do đạo diễn Đình Quang hướng dẫn.
NGÔ MINHTôi đã xem một số bộ phim của anh và đã gặp anh mấy lần ở nhà anh Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tôi thấy lúc nào anh cũng nói chuyện từ tốn, rỉ rả kiểu Huế. Trên Tạp chí Sông Hương tôi cũng đã đọc mấy đoạn hồi ký của anh viết về sự lận đận xung quanh những bộ phim. Mới đây nhà văn Trần Thùy Mai lặng lẽ đưa cho tôi cuốn “Hồi ký điện ảnh”(*) của Đặng Nhật Minh, bảo: “Đọc đi, được lắm”. Thế là tôi đọc một mạch... Những trang hồi ký đã giúp tôi hình dung 30 năm làm phim vất vả của một nghệ sĩ tài năng. Hồi ký... do đạo diễn Mai Lộc viết “Lời giới thiệu” và nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết lời bạt: “Đặng Nhật Minh- Người kể sự tích dân tộc mình bằng điện ảnh”.
LÂM TÔ LỘCCách mạng tháng Tám tạo bước ngoặt lịch sử cho nghệ thuật múa Việt vốn có truyền thống từ lâu đời. Di sản múa các dân tộc ở ba miền Bắc Trung Nam với ba hình thái (múa dân gian, múa tôn giáo, múa cung đình) đã từng bước được phục hồi và phát triển, kể cả dòng nghệ thuật múa mới ở các vùng đô thị lớn. Thời kháng chiến chống Pháp hầu hết những người hoạt động múa trước cách mạng tháng Tám đều tham gia kháng chiến.
HỒ NGỌCTrong đời sống, nhiều khi vì quá quen thuộc với một sự kiện, một hiện tượng nào đó, ta thường ít để ý đến nó, hơn thế nữa càng không có yêu cầu nhìn lại để xem nó có những điểm nào không còn thích hợp, cần có sự thay đổi... Sân khấu chúng ta hiện cũng có tình trạng tương tự.
NGÔ HÙNG SƠN(Kịch vui)NHÂN VẬT- Giám đốc- Bích Hường: Người tình của Giám đốc- Người đàn bà: Vợ phó giám đốcChuyện xảy ra tại Văn phòng Giám đốc
NGUYỄN NGHĨA NGUYÊNChúng tôi xem qua vô tuyến truyền hình nên nhìn đi mà không được nhìn lại, ấy thế mà tiết mục đã để lại ở chúng tôi một ấn tượng sâu sắc.Các nghệ nhân như những nàng tiên hai bàn tay cặp hoa đăng uốn lượn vẽ ra một dải Ngân Hà trong một ánh sáng và tiếng nhạc cung kính, trang nghiệm gợi ra một cảm giác xa xưa của một thời vang bóng.
ĐẶNG NHẬT MINHTháng 2 vừa qua, trong sinh hoạt điện ảnh Trung Quốc đã diễn ra một sự kiện đặc biệt thu hút sự chú ý của mọi người: cuộc gặp mặt của sinh viên khoá 82 Trường Đại học Điện ảnh Bắc Kinh.
VĂN CẦM HẢI thực hiệnLTS: Nhà phê bình điện ảnh Trung Quốc Lý Thụy Anh đã đánh giá rất cao đạo diễn Đặng Nhật Minh qua bài viết "40 năm phim truyện Việt ". Nhiều giải thưởng lớn trong nước và quốc tế từ thập kỷ 70 đến nay (gần đây nhất là giải Bông sen vàng liên hoan phim truyện Việt lần thứ XIII) cũng đủ minh chứng cho điều đó. "Nó không chỉ đem lại danh tiếng cho ĐAVN mà quan trọng hơn là giúp cho công chúng quốc tế biết đến ĐAVN". Sông hương xin trân trọng giới thiệu trích đoạn cuộc trò chuyện giữa đạo diễn Đặng Nhật Minh và nhà văn Văn Cầm Hải nhân dịp ông về thăm nhà vào những ngày sắp bước sang xuân mới.
Nếu ta không làm được như sân khấu kinh kịch Trung Quốc thì cũng học tập chút ít kinh nghiệm của bạn xây dựng cho mình