Chuyện tình bên dòng sông Sê Pôn

08:22 12/08/2025
Sương đêm giăng giăng đang bao trùm núi rừng vắng lặng. Ánh điện trên quốc lộ 9 không đủ chiếu sáng cho thị trấn Lao Bảo, nơi miền sơn cước rộng lớn này.

Tôi đang đứng ở ban công tầng 3 của khách sạn Sepon, mắt dõi nhìn về phía xa xăm bên kia biên giới Việt - Lào. Phía trước là dòng sông Sê Pôn miệt mài đưa dòng nước từ tỉnh Savannakhet - Lào, len lỏi giữa rừng núi âm u, vắt mình qua bao thác ghềnh, uốn lượn qua những bản làng, để rồi đổ vào địa phận thị trấn Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị. Tại trung tâm của dòng sông là mốc biên giới hai nước, một nửa bên này là Việt Nam và nửa kia là nước Lào. Từ Lao Bảo sông Sê Pôn chảy về hướng tây đến thị trấn Sê Pôn của muang Sepone, Savannakhet, đổ vào sông Se Banghiang, gom nước cho sông Mê Kông.  

Sáng sớm, chiếc xe khách đưa chúng tôi trên hành trình thăm lại chiến trường xưa, từ Lao Bảo đến Bản Đông xuất phát. Trên con đường thênh thang, chúng tôi thả hồn thưởng ngoạn vẻ đẹp hoang sơ của miền sơn cước, ngắm nhìn dãy Trường Sơn hùng vĩ, trập trùng ẩn hiện trong màn sương mờ ảo. Những sơn nữ Vân Kiều, Pa Cô e ấp duyên dáng trong bộ trang phục thổ cẩm. Xe chạy bon bon trên con đường vắng, thỉnh thoảng mới có vài chiếc xe chở hàng vụt qua. Khi xe đến đất bạn Lào, một giọng nam trầm ấm ở đầu xe cất lên: “Ơi em gái Sê Pôn, em có nghe anh hát, hát về em về tình bạn Việt - Lào, em có tắm dòng suối La La từ nơi anh Hướng Hóa chảy qua mang tình anh thiết tha, thiết tha”. Cảm xúc về đất nước bạn Lào dâng trào trong lòng tôi, xốn xang, lâng lâng.

Sau hơn một tiếng đồng hồ, xe đã đưa chúng tôi đến Bản Đông. Mọi người cứ ngỡ ngàng trước sự đổi thay tuyệt đẹp nơi đây. Các cô gái Lào gùi trên vai, váy thổ cẩm sặc sỡ giơ tay chào chúng tôi: “Xăm - bai - đi” (Xin chào). Chúng tôi gật đầu đáp lễ: “Khop chay, khop chay” (Cảm ơn). Tôi cùng anh Việt tách đoàn đi sang đường nơi có quán cà phê. Hai anh em tôi vào quán gọi hai tách cà phê. Chủ quán là một người phụ nữ chừng 60 tuổi, nước da sạm nắng, trên đầu lơ thơ mấy sợi tóc đen vấn vít trên mái đầu đã bạc.

Anh Việt nhìn bà chủ quán đang ngồi bên đứa con nít trạc 6 - 7 tuổi, rồi cất tiếng:

- Xăm - bai - đi - ượi (Chào chị). Bà chủ quán nhìn chúng tôi nở nụ cười chào lại:

- Xăm - bai - đi - xỏng ại - Tha - hản (Chào hai anh bộ đội).

Anh Việt định nói điều gì đó bằng tiếng Lào, nhưng bà chủ quán như hiểu ra đã lên tiếng:

- Bộ đội cứ nói tiếng Việt cũng được. Mình hiểu mà!

Tôi nghe giọng nói quen quen phát ra từ nụ cười có duyên của bà chủ quán. Cầm ly cà phê, tay quấy đều, mắt nhìn trân trân vào mặt bà. Đôi hoa tai bằng vàng lấp lánh không che hết nốt ruồi to nơi dái tai trái, một cảm giác quen thuộc ùa về. Bỏ ly cà phê trên bàn, tôi đến bên bà chủ quán cất tiếng, dè chừng:

- Cô là... là Chantha Nam? Cô có nhận ra tôi nữa không?

Bà chủ quán nhìn tôi, nhìn vào cái sẹo như đốt ngón tay nơi thái dương bên phải của tôi rồi cất tiếng nghẹn ngào:

- Anh Tuấn! Đúng anh Tuấn rồi.

Nói xong bà đứng bật dậy ôm lấy tôi vỡ òa nức nở, không để ý gì đến mọi người xung quanh đang dòm ngó. Cháu bé ngồi bên níu lấy vạt áo của bà, mắt nhìn tôi ngơ ngác, miệng há hốc.

Sau mấy phút cảm xúc đi qua, tôi và Chantha Nam ngồi xuống. Anh Việt nhìn thấy cảnh đó cũng không khỏi ngạc nhiên:

- Sao hai người lại nhận ra nhau vậy?

Tôi nhìn Chantha Nam rồi chỉ tay về anh Việt, nói:

- Nọng - lừng - khơi - khẩu bò? (Em có quen người này không?).

Chantha Nam dừng lại mấy giây nhìn. Và không để đợi lâu hơn, tôi nói:

- Anh Việt đó!

Khuôn mặt Chantha Nam giãn ra, để lộ nét vui mừng. Cô đứng dậy nắm tay anh Việt và gật đầu chào.

Chantha Nam cho biết, chồng cô đã mất cách đây vài năm do tai nạn giao thông, đứa con gái đầu nay đang lao động xuất khẩu ở nước ngoài, người con trai và con dâu đang làm việc ở Sa Vẳn. Chỉ tay vào cậu bé ngồi bên, Chantha Nam cho biết nó là đứa cháu nội, hiện đang ở với bà. Cuộc sống thì không còn lo cái ăn cái mặc, Chantha Nam mở quán cà phê như để tạo niềm vui tuổi già.

Anh Việt gật đầu rồi nhìn Chantha Nam hỏi:

- Vậy me (mẹ) hiện thế nào? Có khỏe không?

Chantha Nam nhìn chúng tôi thở dài:

- Me nọng (mẹ em) đã mất rồi ạ! Nếu bà còn sống nay cũng 90 tuổi rồi đó! Mà này em hỏi: Vậy anh Cương không cùng đi với các anh à?

Tôi nhìn Chantha Nam nói với cô giọng trầm buồn:

- Cương mất rồi em! Thương lắm, xuất ngũ về, bị nhiễm chất độc da cam, không vợ con gì cả!

Ba chúng tôi im lặng nhìn nhau. Một không khí trầm lắng bao trùm...

Ngoài kia, tiếng còi như đang giục chúng tôi chia tay cuộc hội ngộ để trở về. Mọi người lần lượt lên xe. Một đoàn người gồm có người già, người trẻ trong bản đi ra theo, tay vẫy vẫy. Anh trưởng đoàn cúi người, chắp tay:

- Uôi - phon năm chay xa - mắc - khi mit - tá phạp phi - xệt Lào mặn - không thá - nông kèn ta - lọt ca - lá - nan! (Chúc tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt - Lào mãi mãi bền vững!).

Đoàn người cùng cất vang tiếng đáp lễ:

- Việt - Lào Xamakhi! Việt - Lào Xamakhi (Việt - Lào đoàn kết!).

Tôi và anh Việt cũng chia tay Chantha Nam. Ba bàn tay nắm chặt, ánh mắt nhìn nhau lưu luyến. Tôi nhìn Chantha Nam cất giọng:

- Ại - Khó phạc khoan diêm - dam thảo khao lẹ uôi - xay - hạy - phon thởng lẹ khọp - khua! (Anh xin gửi lời hỏi thăm và chúc mừng gia đình).

- Nọng Khọp chày, uôi - phon xỏng ại pay mi xay! (Em xin cảm ơn, chúc hai anh lên đường may mắn!)

*

Tôi tỉnh dậy sau một đêm ngủ say. Nhà vắng vẻ. Trên bàn, ly cà phê vợ vừa pha bốc hơi thơm lừng. Tôi mở điện thoại xem mấy cái hình chụp hôm trước. Nhìn tấm hình chụp hai bà cháu Chantha Nam, những ký ức một thời quân ngũ bỗng ùa về.

Sau mấy tháng huấn luyện, tôi cùng anh Việt và Cương được điều về công tác tại tiểu đoàn bộ. Anh Việt quê ở Huế, lớn hơn tôi hai tuổi, lái xe công trình. Cương cùng tuổi tôi, quê Nam Hà, đang làm y tá ở một trạm xá thì được điều động vào quân ngũ. Tôi là giáo viên đã dạy học được mấy năm. Ba chúng tôi là lính mới đang còn bỡ ngỡ, có sự đồng cảm nên thân thiết, gần gũi nhau hơn.

Chủ nhật, ba anh em tôi lên Bản Đông, ghé vào cửa hàng bách hóa để mua mấy thứ đồ dùng sinh hoạt. Thấy một cô mậu dịch viên đang chăm chú làm việc. Cô có nước da mặn mà, tóc đen mượt, được quấn lại và cài chiếc trâm bạc, chạm trổ những hình tinh xảo. Cô có ánh mắt sáng lung linh, thân hình ưa nhìn. Với chiếc áo chàm thêu hoa văn màu tươi sáng rực rỡ, có đính hàng khuy bạc. Chiếc váy kẻ ô vuông, làm tôn thêm vẻ đẹp kiêu sa của cô gái Lào mà lâu nay chúng tôi chưa từng gặp.

Anh Việt mạnh dạn đến gần cất tiếng:

- Xăm - bai - đi - nọng (Chào em).

Cô gái nghe tiếng ngẩng đầu lên, nhìn chúng tôi đáp lễ:

- Xăm - bai - đi Băn - đa - xá - hải Tha - hản (Chào các đồng chí bộ đội).

Trọ trẹ vài tiếng Lào, ba chúng tôi không biết nói gì thêm nên chỉ đứng lặng nhìn nhau. Cô gái như hiểu ý rồi tủm tỉm cười:

- Bộ đội cứ nói tiếng Việt, em hiểu mà!

Như mở cờ trong bụng, Cương vội vàng cất tiếng:

- Vậy bộ đội muốn mua ít đồ dùng được không?

Cô gái nhìn chúng tôi với sự thông cảm:

- Bộ đội muốn mua gì? Nhưng cửa hàng chỉ mở cửa từ thứ 2 đến thứ 7. Hôm nay chủ nhật nên chúng em kiểm kê. Có gì tuần sau bộ đội lại đến nhé.

Tôi nghe giọng nói quen quen như người vùng quê tôi, chứ không phải lơ lớ như những người Lào khác. Tranh thủ lúc cô gái vừa đóng cửa, bước ra hành lang tôi buột miệng:

- Nghe giọng em nói mà tôi nhớ quê quá. Không biết em học giọng Quảng Bình khi nào mà nghe thật ngọt.

- Em người gốc Quảng Bình!

Nghe vậy, tôi mạnh dạn:

- Vậy em là đồng hương với anh rồi! Ở Quảng Bình thì em ở xã, huyện nào?

Cô gái tủm tỉm và nhìn đồng hồ:

- Giờ cũng đã trưa. “Ún chao cạc ại pô đôi nớ”. Khi nào rảnh ghé nhà em chơi. Nhà em phía trước cửa hàng đó. Các anh hỏi nhà Chantha Nam là họ chỉ cho.

Anh Việt và Cương há hốc mồm, còn tôi thì nhìn cô gái, lòng thấy vui vui.

Chia tay cô gái ra về, anh Việt, Cương cứ hỏi tôi là cô gái đã nói gì. Tôi giải thích: “Cô gái nói tiếng ‘nguồn’, ý là: Em chào mấy anh bộ đội nhé!”. Hai người “ồ” lên rồi nhìn nhau cười vui vẻ.

Một tối cuối tuần. Tôi và Cương tìm về nhà Chantha Nam. Con đường từ đơn vị đến Bản Đông khoảng gần 2 cây số. Những bước chân thoăn thoắt mà cứ như thấy còn chậm. Dọc đường thưa thớt vài ngôi nhà sàn, le lói ánh đèn dầu. Tiếng cây rừng xào xạc hòa vào tiếng tắc kè thảng thốt trong đêm làm cho khung cảnh núi rừng có vẻ rờn rợn. Rồi tôi và Cương cũng đến được nhà của Chantha Nam.

Ngôi nhà sàn Chantha Nam lợp tranh, vách nứa đơn sơ cũng như bao ngôi nhà khác của bản. Chỉ khác là dưới sàn không có gà, lợn chạy rông. Tiếng kêu lạo xạo của sàn nứa, Chantha Nam bước ra, nhìn hai chúng tôi cất tiếng:

- Mời hai bộ đội vào nhà đi!

Đống củi bên bếp được Chantha Nam thổi cháy bùng sáng lên át cả ánh đèn dầu leo lét. Phía gần bếp lửa, một người phụ nữ đang trùm chăn, rên hừ hừ. Chantha Nam nói với vẻ buồn buồn:

- Me em đó! Bà bị sốt mấy hôm rồi mà chưa cắt cơn. Bình thường me uống thuốc lá vài ba bữa là khỏi.

Khuôn mặt bà tái ngắt, người run bần bật. Cương đến xem cho bà. Tay bắt mạch, tay sờ trán rồi nhìn tôi và Chantha Nam, nói:

- Me sốt cao lắm. Tôi phải về đơn vị lấy thuốc cho bà uống thôi. Nhớ nấu cho me bát cháo để me ăn mà uống thuốc nhé!

Tôi nhìn me với vẻ ái ngại rồi nói với Chantha Nam:

- Bộ đội Cương là y tá của đơn vị đó. Em yên tâm, me sẽ không sao đâu.

Trong lúc chờ đợi, Chantha Nam nhìn tôi tâm sự: “Như me em kể lại. Phò (bố) em là bộ đội thuộc Đoàn 559. Ông quê ở huyện Minh Hóa. Hồi đó do tuyến đường mòn phía Đông Trường Sơn có địa hình hiểm trở dốc cao phức tạp, nên từ năm 1961, Đoàn 559 tiến hành khảo sát và mở tuyến giao thông sang sườn Tây của dãy Trường Sơn. Lúc bấy giờ bộ đội Việt Nam đã phối hợp với Pathet Lào mở các nút giao thông tại Sê Pôn, trên đường 9 thuộc địa phận Lào. Năm 1963, đơn vị phò sang Lào để mở đường. Một lần đi lấy gạo phò bị sốt rét nặng và lạc vào bản. Sau khi được chữa lành bệnh phò ở lại bản... và trở thành con rể của ngoại. Khi em vừa thôi nôi, phò khoác ba lô một mình đi tìm đơn vị, mặc cho me khóc hết nước mắt, ông bà ngoại can ngăn. Năm 1968 thì me hay tin phò hy sinh trước Tết Mậu Thân 10 ngày, khi quân Giải phóng nổ súng mở màn Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Me bảo, ngày đó hay tin phò mất me khóc ròng rã mấy ngày đêm, bỏ ăn bỏ ngủ.

Em tên Lào là Chantha, có nghĩa là mặt trăng đó anh. Phò đặt tên em như một kỷ niệm về tình yêu của phò và me. Tên Việt của em là Phương Nam, ý phò là muốn em luôn hướng về Việt Nam. Chantha Nam là tên ghép của em.

Sau khi đất nước hòa bình, bác em là bộ đội Đoàn 559, sang xây dựng con đường hữu nghị Việt - Lào. Bác đã tìm được me con em. Bác xin đưa em về nước, cho học tiếng Việt và học bổ túc văn hóa. Học xong, bác xin cho em đi học lớp mậu dịch viên đào tạo cho con em người Lào ở thị xã Đồng Hới. Năm 1983 em về nước làm mậu dịch viên bán ở cửa hàng bách hóa Bản Đông”.

Câu chuyện Chantha Nam kể cứ cuốn hút tôi. Định nói một điều gì đó mà nghĩ chưa ra thì Cương cũng đưa thuốc đến và cho mẹ Chantha Nam uống. Dặn dò những việc cần thiết xong chúng tôi chia tay me và Chantha Nam.

Đêm ấy tôi cứ thao thức không ngủ được. Hình ảnh Chantha Nam cứ hiện về trong tâm trí tôi. Một cô gái người Lào gốc Việt, một cô đồng hương xinh đẹp, hồn nhiên, mà cuộc đời đã có nhiều nỗi gian truân. Lòng mình tự nhiên thấy thương và cảm tình với Chantha Nam.

Sáng dậy, lưỡng lự một lúc tôi cũng mạnh dạn lên phòng ông Tiểu đoàn trưởng. Tôi kể chuyện về Chantha Nam, về người mẹ đang bị sốt rét nặng cho thủ trưởng, ông nghe rất chăm chú. Đang vui, tôi buột miệng hỏi:

- Bộ đội Việt Nam có lấy được vợ Lào không thủ trưởng?

Ông gật đầu với đề xuất của tôi và không quên dặn:

- Việt - Lào là anh em, mình phải đối xử tốt với đồng bào để tình anh em bền vững. Nhưng cậu không được thể hiện tình cảm tán tỉnh, yêu đương con gái Lào đâu nhé. Nếu vi phạm thì cậu sẽ bị kỷ luật, tước quân tịch và đuổi về nước đấy.

Tôi lí nhí: “Dạ vâng ạ!”.

Gần trưa, tôi lên thăm mẹ của Chantha Nam. Chantha Nam đi làm chưa về. Mẹ Chantha Nam giờ đã cắt sốt, nước da có phần bớt tái xanh. Tôi trao phần quà của đơn vị gửi biếu, mẹ Chantha Nam nhìn tôi, chắp tay chào, miệng cất tiếng:

- Khop chay, Tha - hản! (Cảm ơn bộ đội!). Rồi bằng tiếng Việt vốn có, bà kể cho tôi nghe về những năm tháng chiến tranh một mình nuôi con vất vả. Bom đạn, sống chết kề bên, cái ăn cái mặc thiếu thốn trăm bề. Cuộc sống trong rừng sâu, nay đây mai đó để tránh bom đạn của địch. Nhờ ơn Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp với Bộ đội Pathet Lào đánh đuổi giặc Mỹ, bọn phỉ Vàng Pao nên người dân đã đổi đời, Chantha được học hành, nay có việc làm.

Những tâm tư của mẹ Chantha Nam làm cho tôi bồi hồi nhớ nhà, nhớ mẹ tôi. Những năm tháng chiến tranh, bố tôi đi bộ đội mẹ tôi ở nhà một mình cũng vất vả nuôi con. Chiến tranh ở đâu cũng thế, mà người chịu thiệt thòi nhất là những người mẹ.

Tôi sốt ruột ngóng Chantha Nam về, lòng cứ cồn cào. Có một cảm giác gì đó không nói nên lời làm cho tôi cứ nghĩ đến Chantha Nam. Như hiểu ra, mẹ Chantha Nam nhìn tôi nhỏ nhẹ:

- Ui! Mẹ quên mất, trưa nay Chantha Nam không về. Nói bảo có cuộc gặp với Công ty thương mại bên Việt Nam sang viện trợ gì đó!

Chia tay mẹ Chantha Nam ra về, tôi như hụt hẫng, bồi hồi nhung nhớ Chantha Nam, như lâu ngày không gặp.

Tết Bunpimay, đó là những ngày giữa tháng Tư dương lịch, Tiểu đoàn cho chiến sĩ nghỉ thi công một ngày để tham gia Tết cổ truyền với đồng bào các bản lân cận nơi đơn vị đóng quân. Mọi người ăn mặc chỉnh tề, tham gia các nghi lễ với dân bản như: té nước, phóng sinh, buộc chỉ cổ tay, uống rượu cần vui vẻ. Tối đến, tôi cùng anh Việt, Cương về Bản Đông tham gia văn nghệ cùng thanh niên bản. Đống củi trước sân nhà rông được ông trưởng bản đốt lên, ánh lửa sáng rực cả khoảng sân soi rõ mặt người. Khi tiếng nhạc, tiếng khèn, trống vang lên đệm trên những bài hát quen thuộc thì mọi người mời nhau vào múa điệu “lăm vông”. Chantha Nam trong bộ trang phục truyền thống, khuôn mặt ửng hồng dưới ánh lửa bập bùng đưa tay mời chúng tôi tham gia điệu lăm tơi. Anh Việt và Cương nhường cho tôi cùng múa với Chantha Nam. Tôi lúng túng bên Chantha Nam vì chưa quen, còn Chantha Nam, tay cuộn lại, vừa ép ngón trỏ vào ngón cái, các ngón xòe rộng và uốn cong. Tôi vừa nhìn Chantha Nam múa để bắt chước, vừa lắng nghe nhạc để chân nhún cho đúng nhịp. Chantha Nam nhìn tôi, ánh mắt lúng liếng, một nụ cười hiền thảo cất lên từ cái miệng xinh xinh lúm đồng tiền: “Rồi sẽ quen thôi anh!”. Mới được một vòng múa, cao trào đang dâng cao thì tiếng kẻng báo động từ tiểu đoàn bộ dồn dập vang vọng khắp núi rừng, dội vào vách đá nghe gấp gáp. Mọi người dừng múa, hát. Ba chúng tôi chia tay Chantha Nam và cúi chào dân bản, rồi chạy như ma đuổi về đơn vị.

Ngọn lửa ngày một bùng to nơi doanh trại. Mọi người hối hả cứu cháy. Người thì khuân gạo, người vác súng, người xách ba lô quần áo... nhốn nháo cả lên. Gió ngày một to làm cho ngọn lửa càng hừng hực, hung tợn. Nhiều người chạy xuống suối múc nước té mạnh lên. Một lúc sau, thanh niên trai tráng trong bản cũng chạy về tham gia dập lửa. Tôi đang vác bao gạo nặng từ kho chạy đến chỗ an toàn. Vừa vất bao gạo xuống, tôi trượt chân ngã sõng soài.

Khi tỉnh dậy tôi thấy mình đang nằm ở Trạm xá Sư đoàn, đầu buộc băng trắng toát. Được biết, khi ngã xuống đầu tôi đập vào tảng đá sắc nhọn, bên thái dương rách toác, máu chảy nhiều. Tôi ngất đi. Anh em đơn vị đưa tôi về trạm xá cấp cứu, may chỉ bị thương phần mềm.

Một sáng chủ nhật, Chantha Nam cùng mấy thanh niên trong bản về thăm tôi. Trên chiếc gùi nào là chuối, đu đủ chín và chục quả trứng gà. Chantha Nam nắm lấy tay tôi: “Cố lên anh đồng hương!”. Tôi lặng yên để bàn tay mình trong bàn tay thon thả của Chantha Nam. Và cảm nhận một sự nồng ấm, một tình cảm dâng trào từ bàn tay ấy.

Sau hơn mười ngày điều trị tôi trở về đơn vị. Doanh trại đã được làm mới, mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Anh em đơn vị ai cũng mừng cho tôi, nhưng bên thái dương phải của tôi, cái sẹo như một “kỷ niệm” để lại.

Một hôm, ông Tiểu đoàn trưởng gọi tôi lên phòng ông. Sau khi rót cho tôi cốc trà Bắc Thái thơm lừng, ông nhìn tôi rất lâu rồi mới đưa cho tôi tờ Quyết định của Sư đoàn. Hồi hộp, lo lắng vì không biết có chuyện gì, tay tôi run run cầm tờ Quyết định. Sau khi đọc xong Quyết định, tôi mừng ứa nước mắt, mọi lo âu đã được giải tỏa.

Tôi về thăm Chantha Nam và mẹ cô để chia tay về nước. Được biết tôi có Quyết định đi học sĩ quan ở Hà Nội, Chantha Nam mừng lắm. Nhưng trong ánh mắt em không giấu được nét buồn mà lâu nay tôi chưa từng thấy. Tôi ngồi lặng im không biết nói gì hơn.

Chantha Nam rủ tôi ra bờ sông trước nhà ngồi hóng gió. Chantha Nam ăn mặc như đi dự lễ hội. Đó là chiếc váy tơ tằm, chân váy có những đường hoa văn mang màu sắc dân tộc, chiếc áo được may cầu kỳ hơn, có những đường viền thêu hình hoa lá, chim muông. Khuy áo được đính bằng bạc. Chiếc khăn “phạ-biềng” màu đỏ quàng chéo trước ngực. Chiếc dây thắt lưng bằng đồng bó sát eo làm nổi bật thân hình thon thả của Chantha Nam. Đôi hoa tai bằng vàng lấp lánh. Chiếc nhẫn bạc nổi bật những nét chạm trổ tinh xảo. Tôi nhìn Chantha Nam không chớp mắt, miệng trầm trồ không ngớt lời khen. Chantha Nam nhìn tôi âu yếm, khẽ nói:

- Hôm nay là ngày chia tay anh nên em ăn mặc như lễ hội. Đó là một sự trân trọng tình cảm quý mến của em trao cho anh - người đồng hương đáng yêu ạ!

Chantha Nam dẫn tôi đến vạt cỏ bằng phẳng dưới cây săng lẻ bên bờ sông. Hai chúng tôi cùng ngồi xuống bên nhau, mắt nhìn về phía xa xăm. Không có trăng nhưng bầu trời quang đãng, đầy sao cũng đủ cho tôi nhìn rõ khuôn mặt xinh xắn của Chantha Nam. Phía trước mặt là con sông Sê Pôn hiền hòa xuôi dòng. Nhìn con sông, Chantha Nam kể cho tôi nghe những kỷ niệm một thời trên dòng sông này. Đó là những ngày theo ông ngoại đi bắt cá, theo bà đi hái nấm, hái măng. Và Chantha Nam cho biết: “Giờ đây, ở phía bên kia sông đối xứng là các bản làng của người Kinh, Bru - Vân Kiều, Pa Cô của Việt Nam đang lập ấp sau ngày Quảng Trị giải phóng. Những dải đất dọc sông là địa điểm đắc địa, ai cũng muốn ở vì gần nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, đất đai lại màu mỡ. Những triền đồi ven sông Sê Pôn được bà con gieo trỉa lúa khô. Đây là thứ lúa nếp rất dẻo dùng để nấu xôi. Vào các ngày lễ, Tết, đồng bào hai biên giới lại nhộn nhịp băng rừng, vượt sông qua lại thăm nhau chan chứa tình anh em”. Tôi lắng nghe những lời tâm sự của Chantha Nam mà lòng thấy ấm áp, thân thương. Nhìn Chantha Nam rất lâu, tôi ngập ngừng hỏi:

- Rồi đây, Chantha Nam có ý định về Việt Nam thăm quê nội không?

Cũng chưa tính được anh à! Khi nào Chantha Nam lấy chồng thì dẫn chồng về thăm quê luôn. Rồi Chantha Nam sẽ về quê anh chơi!

Được đà tôi chuyển đề tài:

- Vậy Chantha Nam đã có người yêu chưa?

Một thoáng im lặng, Chantha Nam đưa tay bứt chiếc lá rồi nói:

- Em chưa! Con gái ở đây tuổi như em đã con bồng, con bế.

Tôi liếc nhìn Chantha Nam thấy em có chút buồn thoảng qua. Như có điều gì sâu thẳm tự đáy lòng mà em không nói ra, và tôi cũng không dám hỏi.

Tiếng cây rừng xào xạc, xua đi sự im lặng của hai chúng tôi. Không để cho thời gian trôi qua, tôi thầm thì:

- Chantha Nam xinh đẹp, dễ thương làm gì mà không có người yêu cơ chứ!

Tôi vừa nói xong, Chantha Nam đưa bàn tay nhỏ nhắn cầm lấy tay tôi. Bàn tay tôi nóng ấm trong bàn tay em. Tim tôi đập loạn nhịp. Em nhìn tôi, mặt ửng hồng dưới bầu trời đầy sao, giọng vừa ý tinh nghịch nhưng có vẻ nghiêm túc:

- Anh cũng dễ thương lắm. Nhưng dễ thương chứ thương đâu có dễ. Sau này người nào làm vợ anh chắc hạnh phúc lắm.

Tôi nghe Chantha Nam nói mà lòng xốn xang, định hỏi: “Vậy Chantha Nam có muốn làm vợ anh không?”. Nhưng nhớ lời thủ trưởng dặn nên tôi không dám. Chantha Nam âu yếm nhìn tôi nói:

- Giá như em là người Việt Nam thì mọi chuyện sẽ khác... Mà thôi chúng ta sẽ là bạn mãi mãi anh nhé... Mãi đừng quên nhau...

Nói rồi Chantha Nam trao cho tôi món quà có buộc sợi chỉ đỏ. Cầm món quà Chantha, tôi cảm động vô cùng, và tôi cũng lấy món quà trao cho Chantha Nam. Đó là cuốn sổ tay do tôi đóng, trong đó chép bài hát “Tình Việt - Lào” của Hồ Hữu Thới, bằng tiếng Việt và tiếng Lào. Tay Chantha Nam run lên, bất ngờ quay sang ôm tôi hôn chụt lên má rồi đứng dậy, tay cầm dép, tay nâng váy chạy nhanh về nhà. Tôi bàng hoàng đứng dậy, như người mộng du. Khi chợt tỉnh tôi chạy theo Chantha Nam, đến cổng thì Chantha Nam đã vào nhà, tay vẫy vẫy. Tôi đứng ngẩn ngơ như trời trồng, nhìn vợi theo bóng Chantha Nam sau cánh cửa liếp. Tay tôi sờ lên má, nụ hôn như còn đó.

Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn liên lạc thư từ cho nhau, kể cho nhau nghe chuyện cuộc sống hằng ngày. Những lá thư thưa dần, thưa dần rồi bặt tin khi Chantha Nam thông báo cô đã đi lấy chồng. Kỷ vật mà Chantha Nam tặng tôi là một tấm hình của Chantha Nam được gói trong chiếc khăn tay thêu đôi chim câu đang bay lượn bên nhau. Những kỷ vật đó đã theo tôi suốt những dặm dài đường Trường Sơn.

*

Tôi mở điện thoại, tay định bấm số gọi cho Chantha Nam. Nhưng, như có điều gì cứ làm tôi phân vân, lưỡng lự. Và rồi tôi bấm nút tắt, lòng thầm nhủ: “Rồi Chantha Nam sẽ hiểu!”. Những giọt cà phê đăng đắng, nhưng khi nuốt vào thì để lại nơi đầu lưỡi vị ngọt, thơm... và tôi chợt nghĩ, cuộc đời là vậy. Đằng sau cái đắng là sự ngọt ngào, đó là sự kết tinh của đất trời. Cũng như cuộc đời có những buồn vui, sướng khổ. Và có những kỷ niệm đẹp đẽ, được cất giấu để rồi mãi theo ta năm tháng.

Ngoài kia, trời nắng vàng rực rỡ, bầu trời trong xanh vời vợi. Tôi ra vườn với tâm trạng khoan khoái, ngắm nhìn những nụ bông bưởi đang tỏa hương thanh khiết, lòng trào dâng một niềm vui. Con chim tu hú cất tiếng hót vang trong vườn báo hiệu một ngày mới đẹp trời.

N.Đ.D
(TCSH437/07-2025)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • HOÀNG TÙNG Ăn của rừng rưng rưng nước mắt                                 (Tục ngữ)

  • TRẦN CHẤN UY Đơn vị đặc công chúng tôi nhận mật lệnh thọc sâu hậu cứ địch chuẩn bị địa bàn cho chiến dịch Mậu Thân. Nói đơn vị cho có vẻ sang, nhưng thực ra chúng tôi chỉ có mười hai người kể cả một đồng chí du kích dẫn đường.

  • PHẠM PHƯƠNG Y cao lớn và nhàu nát. Điều đó làm cho con người y trở nên bí ẩn khác thường. Ở y, người ta thấy rõ đường nét của một người Âu với sống mũi cao và đôi mắt sâu hoắm như một vết thương. Nhưng, cũng trong vết thương sâu hoắm ấy, rõ ràng hiển hiện một sự mênh mang đến kì cục. Trong đôi mắt ấy... có biển cả. Và, đen sì - một màu đen Hoa Bắc chính gốc không lẫn đi đâu được.

  • HỒNG NHU BỮA TIỆC ĐÔI TÌNH NHÂN

  • NGUYỄN THÀNH LONG - Kính lạy Cha. Cha cho gọi con. Cha thấy trong người thế nào ạ? - Cha cảm ơn con đã tới. Có lẽ con là người cuối cùng Cha trò chuyện ở trên đời. Sắp sửa ra đi. Cha thấy Cha cô độc lắm.

  • NGUYỄN ĐẠT Nhớ Đoàn Đại Oanh   Có thể chiều tối đã xuống lúc tôi say, ngủ gục ở bàn rượu. Không phải mình tôi, mà chúng tôi; cả thảy bốn người, tính gồm chủ gia trong đó, anh ấy tên Giang.

  • UÔNG TRIỀU   Khi còn bé, đã có lần Điểm Bích được mọi người kể cho nghe câu chuyện về mẹ mình. Mẹ Điểm Bích là nàng Ba, một thôn nữ xinh đẹp, bạc phận.

  • HẠO NGUYÊN 1. Trong căn phòng chạng vạng và thoảng mùi khói thuốc, hai người đàn ông trầm ngâm.

  • TRẦN THÙY MAITối thứ bảy cuối tuần, Phương tuyên bố:- Tuần sau anh bắt đầu viết tập hai bộ tiểu thuyết của anh Nhớ đừng huy động vào việc gì hết đấy nhé...

  • LÊ MINH KHUÊ Tường lên chuyến xe rời khu cải tạo phạm nhân sau cùng. Đành phải ngồi cạnh một người đàn bà. Tường nhận ra bà khi ngồi sau bàn nói chuyện với bố.

  • HOÀNG NHI “Chẳng có chút kinh nghiệm nào trước cõi vô tận không dò được của tâm hồn. Chỉ có sự kinh ngạc trước sự bấp bênh về cái tôi và bản sắc của nó.”                                                 (Milan Kundera)

  • LGT: Trại sáng tác văn học Hương Vân (thôn Lại Bằng, huyện Hương Trà) do Hội Nhà văn TT. Huế đứng ra tổ chức. Trong vòng 10 ngày của tháng 7 trăng vàng trong các mảnh vườn hoa trái, 10 trại viên đã để lại tình cảm sâu đậm với người dân xứ miệt vườn nơi đây bằng những trang văn đầy chất lãng tử. Bên cạnh đó, ở mặt chìm của tác phẩm, những “bụi bặm” từ xã hội công nghiệp cũng được phản ảnh một cách thâm trầm nhưng khẩn thiết...Sông Hương xin giới thiệu một số ít tác phẩm từ Trại viết này.

  • TRIỀU NGUYÊN Chị Mảnh vác chiếc xe đạp nước đi trước, còn tôi vác sào, chống lẽo đẽo đi sau như cái bóng. Đi một quãng tôi phải dừng lại trở vai, rồi cố bước thật nhanh để bám kịp chị.

  • NGUYỄN TOÀN Nhà có hai chị em. Chị như chim công, nó chẳng bằng cú. Đấng tạo hóa sau khi tạo tác một sinh vật xinh đẹp như chị chắc phải lấy làm mãn nguyện sung sướng. Rồi trong lúc quá chén ngài đã vô tình tạc nên một sinh vật dị hình nữa, là nó.

  • PHẠM PHƯƠNG Thằng bé đứng bên sông. Nó thấy màu đỏ ửng phía chân trời, nơi có hàng thùy dương và con đường đất ẩm. Đứa con gái nhà ai, trong làn khói lam chiều rơm đốt giữa mùa, mặc một bộ đồ cỏ úa, đang tha thẩn nhặt cỏ gà.

  • NGUYỄN HỮU HỒNG MINH Khi về già người ta thường hoài niệm về tuổi trẻ và thích ngồi đợi những buổi sáng. Bởi vì đêm tối lạnh lẽo và âm u làm sao!

  • DẠ NGÂN Sau giấc ngủ trưa, hai chiếc gối kê cao trên đầu giường, tôi bắt đầu buổi làm việc tại nhà như vậy. Đó là sự nhân nhượng của toà báo với những biên tập viên cao niên và tôi, cũng như nhiều đồng lứa trong giới, tận hưởng đặc quyền đó bằng trách nhiệm tự giác thường trực.

  • NHẤT LÂM Tết êm đềm trôi hết tháng Giêng, mà bầu trời thung lũng Mu Lu còn khá lạnh. Chập tối, hơi đá từ dãy núi Ta Chan phả ra, sương buông màn màu sữa đục.

  • HUY PHƯƠNG Đã nghe thấy tiếng gió rì rào, như từng đợt sóng nhỏ tràn qua mái nhà. Trời trở rét… Chả trách mà tối hôm qua, cánh cửa kính cứ hết sập lại mở, rập rình mấy lần làm anh mất ngủ.

  • LÊ VĂN… Rồi cũng xong … Anh lơ xe nhảy lên cuối cùng, la lớn:- Tới đi chú Tám ơi!