Chuyện về ngày 30-4, bây giờ mới kể

16:43 24/02/2009
NGÔ MINHỞ CỬA NGÕ XUÂN LỘCSư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1-4-1975.

Sư trưởng Nam Phong lệnh không được ai chặt chuối của dân. Rừng chuối Xuân Lộc rộng đến nỗi có đường ô tô ngang dọc để xe ô tô đi thu hoạch. Trong thời gian tấn công Xuân Lộc, anh em “làm báo” của sư đoàn như Phùng Khắc Bắc, tôi, Dương Huy... được điều về hầm chỉ huy Sư đoàn để hàng ngày nghe thông tin từ các mũi. Anh Phùng Khắc Bắc (nhà văn, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1992 với tập thơ “Một chấm xanh”, mất năm 1990) vào B2 từ đầu năm 1967, ở khu 6, rồi miền Đông Nam Bộ. Trông anh gầy và đen như gỗ lũa, chỉ đôi mắt là long lanh sáng. Tính anh hiền hậu, hay cười. Anh làm ở Ban tuyên huấn Sư đoàn, chuyên trách “bản tin”.

Cuối năm 1973, anh Bắc đưa Đoàn văn công Sư Đoàn về biểu diễn tại cứ Đồng Xoài, bên bờ Sông Bé phục vụ tiểu đoàn tôi. Chương trình văn nghệ gồm các tiết mục của Đoàn và các tiết mục chiến sĩ “tự biên”. Thấy trong sổ tay tôi có bài thơ “Bài ca chốt chặn” viết về những ngày thực hiện hiệp định Pari ở đường 14, anh Đại, chính trị viên Đại đội (người Nam Hà, Việt kiều Thái Lan về nước) bắt tôi lên “ngâm” bài thơ. Tôi không ngâm được, mà đọc. Sau khi tôi đọc thơ xong, anh Phùng Khắc Bắc tìm đến, hỏi tôi làm được nhiều thơ không. Anh bảo anh chưa bao giờ làm thơ, chỉ viết ít truyện ký và báo. Sau chuyến ấy anh đề nghị với cấp trên điều tôi lên Ban chính trị để làm bản tin. Đợt đánh Xuân Lộc này, anh em cùng nhau ở một chỗ nên rất vui. Đêm đầu tiên đánh cứ điểm Xuân Lộc, bộ đội ta mấy lần ôm bộc phá vào mở cửa mở, nhưng địch bắn rát quá, thương vong nhiều. Sư trưởng Nam Phong hét vào điện thoại chỉ huy hết mũi tiến công này đến mũi tiến công khác. Ông đang chỉ huy trận đánh mà nói năng rất tếu. Sư trưởng điện cho anh Đình chính trị viên D2: “Cái chốt bằng cái l. trâu ấy mà một ngày rồi các anh không ăn được à? Tôi ra lệnh nội đêm nay phải ăn cho hết cái l. trâu đó, nghe rõ chưa!”. Câu ra lệnh làm nọi người trong hầm chỉ huy ôm bụng mà cười.

Đêm hôm sau, tôi được cử ra chỗ bộ đội tiểu đoàn 2 đang đánh bộc phá mở cửa mở để tấn công một cứ điểm của địch để viết bài. Mật khẩu được phổ biến là “Sông Hồng”, phải trả lời là “Mê Kông”. Tôi đi một mình trong đêm trăng mờ giữa tháng 4. Bốn bề là rừng chuối và trảng cỏ khô! Tôi đang hoang mang tìm hướng đi thì nghe một tiếng quát “Sông Hồng”. Thế là tôi quên béng việc trả lời bằng mật khẩu, mà gọi toáng lên: “Tôi là Khôi ở Ban chính trị đây!”. Anh chiến sĩ đến chỗ tôi, cười bảo, em được lệnh đi đón nhà báo Sư đoàn từ tối tới giờ, đợi mãi. Biết là anh bị lạc đường. Mà sao anh không trả lời bằng mật khẩu? May em là người đi đón, tiểu đoàn cho biết tên anh, nếu không thì “toi” rồi đấy”! Tôi chui vào hầm tiền tiêu của đại đội Bảy. Ba chiến sĩ ôm bộc phá lên đánh hàng rào bị thương, máu chảy nhiều, được băng bó tạm bằng băng cá nhân, đang nằm rên ở góc hầm, đợi cáng về trạm phẩu thuật tiền phương. Mấy anh em khác lại đang cười đùa, hò hét đánh bài “tiến lên”, trông mặt mũi anh nào anh nấy điềm nhiên như chẳng có việc chỉ một vài phút nữa thôi ba người trong số họ lại bò lên hàng rào đánh bộc phá, rồi có thể hy sinh và bị thương như đồng đội đang nằm kia! Ở chiến trường miền Đông ác liệt này, không điềm nhiên như thế không sống mà  đánh giặc được!

Đêm 20 tháng 4, trước sức tấn công của Quân giải phóng, đường vô Sài Gòn bị chặt đứt ở Dầu Giây, sư đoàn 18 Ngụy Sài Gòn bỏ chạy khỏi Xuân Lộc, sư trưởng sư 18 là tướng Lê Minh Đảo chạy về phía Vũng Tàu bị quân giải phóng bắt. Đơn vị tôi hành quân vòng qua thị xã thì đã quá nửa đêm, nên được lệnh nghỉ. Để đảm bảo bí mật, tất cả rờ rẫm mắc võng trong đêm. Nằm lắc lư trên võng, tôi nghe mùi hương quả chín thơm vào trong giấc ngủ. Sáng dậy, trời đất ơi, ngay trên đầu võng tôi, một trái sầu riêng trĩu xuống, thơm lừng. Tôi bật dậy, nâng trái sầu riêng lên mũi. Đó là lúc Nguyễn Văn Thiệu tổng thống ngụy đọc diễn văn từ chức trên đài phát thanh Ngụy Sài Gòn. Thế là ta thắng rồi! Trước mắt tôi, một rừng sầu riêng mênh mông, mùa trái chín thơm lừng. Nghe phía đường lộ, tiếng xe tăng, xe bọc thép và xe chở bộ đội của những binh đoàn quân giải phóng vẫn ì ầm hành quân về hướng Sài Gòn.

Tôi lần ra đường, thấy hai bác nông dân đen nhẻm, vác cuốc, mặc quần xà loỏng, dường như các bác đang trên đường đi làm rẫy. Hai người đứng bên đường đang đếm từng chiếc xe quân giải phóng trùm bạt rầm rầm tiếng về phía Sài Gòn. Thấy tôi mặc quần áo quân giải phóng, các bác hồ hởi khoe: “Xe tăng, xe pháo của ta nhiều đếm hổng xiết chú ơi, tôi đếm được gần một trăm rồi, nghe pháo nổ lại quên mất, lại đếm lại!”. Những ngày đó đơn vị tôi đóng quân ở rừng cao su Xuân Lộc, học chính trị, điều lệnh dân vận mới để chuẩn bị đánh Sài Gòn. Chúng tôi cắt tóc, cạo râu cho nhau. “Trước một trận đánh lớn vào “Cao điểm cuối cùng”, người chiến sĩ phải đàng hoàng. chững chạc”- Sư trưởng Nam Phong nói như vậy!

Sáng 30-4, Sư đoàn 7 của tôi được lệnh xuất kích đánh chiếm Sài Gòn ở hướng Đông -Bắc. Ngồi trên xe tải chở quân tôi thấy, quân ngụy tan tác thành từng mảng, cởi bỏ súng đạn, quân trang, quân dụng vất ngổn ngang dọc đường như rác. Một giờ chiều chúng tôi vào tới Dinh Độc Lập. Sư đoàn 7 được lệnh quân quản Quận Một. Bà con Sài Gòn đứng đông nghịt bên đường, phụ nữ mặc áo dài hoa, cầm cờ đỏ sao vàng vẫy chào. Sài Gòn tháng tư, nắng long lanh như mật, hình như nắng cũng rưng rưng niềm vui Các mẹ, các em Sài Gòn khoác khăn rằn, gánh tới những nồi cháo gà bốc khói thơm lựng. Các mẹ múc từng tô đưa cho chúng tôi, rồi ngồi ngắm chúng tôi ăn, như ngắm đàn con ở nhà. Tôi có cảm giác cháo gà ngon như cháo mẹ tôi nấu khi tôi còn nhỏ! Đó là bữa ăn đầu tiên của tôi trên đất Sài Gòn giải phóng!

IN “BÁO” THỦ CÔNG Ở SÀI GÒN
Sài Gòn 1975, công nghệ in báo đã đạt đến tiến tiến thế giới lúc đó. Nhưng vào Sài Gòn từ 30-4, những người làm báo thủ công chúng tôi vẫn in báo theo cách của mình ở chiến khu. Vì bộ đội giải phóng hành quân nay đây mai đó, nên rất ít được đọc báo miền Bắc gửi vào hay báo xuất bản ở vùng giải phóng, nên đã hàng chục năm nay, nhiệm vụ của Ban chính trị là sau mỗi trận đánh hay một đợt huấn luyện phải ra “bản tin” và các tập sách “chuyên đề” để phát cho bộ đội đọc Bản tin Sư đoàn 7, gọi là “Chiến Thắng”. Tổ “Bản tin BA Vì” chúng tôi có anh Dương Huy người Hà Đông, anh Toan, Minh và tôi là người trẻ nhất. Tham gia viết ở các tiểu đoàn có anh Lê Huy Khanh, Nguyễn Quốc Trung (sau này đều trở thành nhà văn Việt ). Gọi là bản tin, nhưng hình thức và nội dung thì giống như tờ báo vậy. Cũng có tin tức thời sự trong nước, ngoài nước (in theo bản tin đọc chậm của Đài tiếng nói Việt nam), tin bài về gương chiến sĩ dũng cảm, thơ, nhạc, tranh vui... có khi in cả truyện ngắn do Dương Huy viết! “Báo” chúng tôi in khi 4 trang, khi 8 trang, hai màu hẳn hoi! Giấy báo, stelcil, mực in...trước 30-4 thì mua ở Cămpuchia, do anh Trần Hồng Lạc, người Thanh Hóa, trợ lý “quân nhu” của Ban chính trị, tuần nào cũng đạp xe đi chợ Mi Mốt, Krachê (Cămpuchia).

Chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh, anh Lạc đi mua rất nhiều các thứ cần thiết để in báo. Từ đầu năm 1975, hành quân hàng trăm cây số theo bộ đội từ Đồng Xoài lên đánh Phước Long, rồi lên Bảo Lộc, rồi quay về đánh Xuân Lộc, chúng tôi đều mang kè kè trên lưng vài chục cân giấy báo; vài trăm tờ Stelcil (giấy nến), mấy lọ mực xanh đỏ, một cái máy chữ và một khuôn in bằng vải lụa, vất vả không khác gì một người dân công hỏa tuyến thồ hàng ra trận! Sau mỗi trận đánh chúng tôi đều ra bản tin, in 500 tờ, phát về mỗi tiểu đội hai tờ. “Công nghệ in” của chúng tôi rất thủ công lạc hậu. Đầu tiên là đánh máy vào giấy stelcil, đánh chia cột theo “mi” báo, có chừa chỗ để in tranh và kẻ tít. Tít báo thì kẻ bằng bút kim. Tất cả trình bày trên tờ giấy nến cỡ 30x40 cm. Khi in, dán tờ giấy nến vào mặt sau khung lụa, đặt giấy báo bên dưới khung in, vặn vít cố định, rồi bắt đầu lấy một cái chổi bằng xơ dừa, quệt mực liên tục. Quệt “nháp” khoảng 20 tờ, thấy đều mực mới in chính thức. Khi in hai màu thì chờ khô màu thứ nhất, lại đưa vào khung in, in màu thứ hai.       

Vào Sài Gòn, việc đầu tiên của “tổ báo” chúng tôi là đi kiếm giấy in báo. Vì hành quân cả mấy tháng trời hết nhẵn. Tôi nghĩ ra cách đến các nhà in của ngụy để lấy giấy in báo. Lúc này ở Sài Gòn đang có phong trào “giúp bộ đội giải phóng”. Ai giúp thì được Sư đoàn cấp một giấy xác nhận thành tích có chữ ký sư trưởng Nam Phong đóng dấu đỏ hẳn hoi. Chúng tôi được phát những tờ khống chỉ như thế để làm quân quản. Tôi ra gọi một chiếc xe lam. Cậu y tá tên Thành, người Thái Bình ở trung đoàn bộ được điều đi giúp tôi lấy giấy in báo. Khi ra đường thấy chiếc xích lô máy chở nước đá cây đang lóng lánh bảy sắc cầu vồng trong nắng tháng Năm Sài Gòn, vì dân quê đi bộ đội là vào rừng, lần đầu tiên đến thành phố nên Thành không biết đó là thứ gì, Thành níu vai tôi la toáng lên: “Anh Khôi ơi! Kim cương! Kim cương nhiều chưa kìa!”. Tôi nín cười, mắng: “Im đi, họ cười cho đấy, đó là nước đá, họ làm đông nước thành đá!”. Thế mà chỉ vài ngày sau, cậu ta lại là người sáng kiến lấy giấy báo ủ để nước đá lâu tan. Chúng tôi in báo Trung đoàn, Sư đoàn bằng “công nghệ thủ công” ấy mãi đến năm 1976 mới thôi!

ĐI CHỢ SÀI GÒN 30-4...
Là một cử nhân tốt nghiệp Trường Đại học Thương nghiệp Hà Nội hẳn hoi, mà sáng 30-4, tôi mới lần đầu tiên biết thế nào là quảng cáo! Dọc đường từ Xuân Lộc vào Biên Hòa, trên sa lộ Sài Gòn có trưng rất nhiều  tấm biển to tướng với đủ màu sắc lòe lọet. Lớn nhất và gây ấn tượng là tấm biển vẽ một gương mặt người da đen đang cười, khoe hàm răng trắng tinh, đều răm rắp với chữ Hynos to tổ bố. Tấm biển rộng hàng chục mét vuông, được dựng bằng khung sắt bê tông cao lớn giữa cánh đồng, đi xa hàng chục cây số vẫn thấy! Tôi hỏi một chị du kích dẫn đường ở Biên Hòa là họ vẽ cái gì thế. Chị nhìn tôi như thể từ mặt trăng rơi xuống, rồi cười toáng lên: “Đó là quảng cáo hàng hóa. Họ quảng cáo loại thuốc đánh răng tên là Hynos! Cả miền này dùng loại thuốc đánh răng này đấy!”. Đó là thứ mà tôi chưa bao giờ được học ở trường đại học ở Hà Nội!

Từ ngày 1-5- 1975, ở Sài Gòn mua bán vẫn diễn ra bình thường. Sáng ngày 1.5.1975 và những ngày sau đó, chúng tôi lại “trốn” đi chợ Bến Thành, chợ Lớn. Lúc này, dù là quân quản, nhưng các chợ ở Sài Gòn bà con tiểu thương vẫn buôn bán bình thường. Các cửa tiệm quần áo may sẵn, vải, len, dạ. .. vẫn mở cửa. Các xe nước mía, nước sinh tố, các xe bánh mỳ... rôm rả tiếng chào mời.

Loại hàng chạy nhất lúc ấy là cờ đỏ sao vàng đủ loại to nhỏ và tấm biển mi-ca nền đỏ chữ vàng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Người ta đổ nhau đi mua. Cờ đỏ sao vàng để treo ở cổng nhà và lập bàn thờ Tổ Quốc có ảnh Bác Hồ, còn tấm biển “không có gì quý hơn độc lập tự do” để gắn lên tường. Sau này tôi mới biết là các loại cờ, biển ấy là do làng Thổ Tang (Phú Thọ) sản xuất và họ ùn ùn chở vào theo ngay sau đoàn quân giải phóng! Nhạy bén kinh doanh như thế phải gọi là siêu!  Loại hàng “cách mạng” thứ hai là phù hiệu, quần áo quân giải phóng! Bà con tiểu thương Sài Gòn không biết rằng, quần áo, sao mũ, quân hàm quân hiệu bộ đội là thứ cấm bán. Trang phục quần áo, dép cao su bốn quai (dép râu ) và cả quân hàm, quân hiệu hai màu xanh đỏ của Quân giải phóng mới toe không biết ở đâu ra mà nhiều lắm, bày la liệt trên các hiệu tạp hóa, và những mẹt hàng rong bên đường. Có lẽ bà con cho rằng hễ cứ đeo sao, đội mũ, mặc quần áo bộ đội giải phóng thì khỏi bị làm phiền, sẽ tránh được tai vạ trên đường chăng?

Bán đầy các vỉa hè Sài Gòn trong những ngày đầu giải phóng còn có  các thứ đồ dùng của lính Mỹ như bật lửa Zip-pô, các loại dụng cụ ăn uống bằng in-nox như dao, nĩa, thìa, khay đựng thức ăn lính, kể cả bình tông, ca uống nước, ba lô, quạt điện, bàn là, dao cạo râu... Đó là những món hàng mà người dân hôi được từ các sở Mỹ. Người thì mua để dùng, vì  những thú đồ đó rất tốt. Người thì mua để “kỷ niệm”. Chỉ cần vài nghìn đồng tiền Sài Gòn (cũ) hay nghìn tiền giải phóng lúc đó là có thể có một bộ đồ ăn của lính Mỹ mới tinh mà bây giờ có cả trăm nghìn bạc không thể nào mua được!

Loại hàng bán chạy thứ ba là hàng “lưu niệm” bán cho bộ đội về Bắc như: khung xe đạp, rađiô Nhật, đồng hồ Nhật, búp bê nhựa, áo len, khăn voan.v.v… Trên các bến xe, hình ảnh người bộ đội ba lô căng phồng, trên buộc một chiếc khung xe đạp và treo vắt vẻo con búp bê có đôi mắt chớp nhấp nháy, long lanh đã trở thành hình ảnh đặc trưng, quen thuộc!. Các loại khăn len búp bê, áo comple, áo len... thời đó ở chợ Bến Thành, Chợ Lớn... mua một chiếc được biếu một chiếc. Tất len (vớ) chỉ 5 đồng một đôi, lại được biếu thêm đôi nữa. Tôi hỏi chị bán hàng ở chợ Bến Thành: “Sao lại mua một biếu một thì còn gì lời lãi!” Chị bảo: “Buôn bán là dzậy, chú!”.

Phụ cấp lính giải phóng của chúng tôi những ngày ấy là 2.000 đồng tiền ngụy một tháng, có thể mua được chiếc đồng hồ Orien “3 cửa sổ”. Chị Chàng ở Kim Động (Hưng Yên), nơi tôi ở hai năm liền trong thời gian trường đại học sơ tán, không hiểu mần răng biết địa chỉ của tôi, mà  gửi vào mấy tờ 10 đồng tiền Cụ Hồ. Tờ mười đồng đó có thể đổi được 10.000 tiền ngụy. Nhưng tôi chẳng mua được gì về làm quà cho chị cả, mà dùng tiền đó để vài hôm lại “đi chợ”, vô nhà hàng ăn các món Sài Gòn “cho biết”! Có lần vào tiệm Tàu ở Chợ Lớn, thấy người ta bày ra bàn ăn đủ thứ khăn lớn nhỏ, rồi hàng chục thứ dao nĩa in nox sáng loáng. Mình dân nhà quê một cục, chưa dùng các thứ “phụ tùng” đó bao giờ. Thế là bộ đội có sáng kiến, cứ nói chuyện nhẩn nha, liếc xem các bàn bên họ dùng khăn nĩa như thế nào, cứ thế làm theo. Mấy lần cũng thành quen!

Bộ đội giải phóng đa phần là thanh niên học cấp 2 cấp 3 làng quê miền Bắc Họ lớn lên ở nông thôn, vào chiến trường lại ở rừng núi, nên vào Sài Gòn anh em rất bỡ ngỡ. Có chuyện vui mà mỗi lần nhớ lại tôi lại cười một mình. Anh Diên người Tày, quê Lạng Sơn là anh nuôi đơn vị tôi. Ngay buổi sáng 1.5. 1975 đi chợ mua chục con cá lóc. Anh về đếm mãi vẫn cứ 12 con, bèn lật đật ra chợ tìm cho được bà bán cá trả lại hai con vì “tội người ta”, “buôn bán kiểu này thì lời cái gì”. Khi anh tìm được bà bán cá, bà cười toáng lên: “Chú giải phóng ơi, “một chục” ở đây là 12 chứ không phải mười nghen!”. Anh về kho nấu bữa tối, còn hai con cá để lại ngày mai, anh cho vào chỗ bệ cầu vì thấy ở đó có nước! Sáng mai anh đi bắt cá để nấu cháo thì cá không còn nữa. Anh đi báo cáo thủ trưởng, tưởng có người làm mồi nhậu ban đêm. Đến nơi ai cũng ôm bụng cười vì cá thì mất, mà cầu thì tắc, phải nhờ ông thợ hàng xóm sang thông hộ.

Chỉ vài ba ngày sau “anh nuôi” Ban chính trị của tôi đã không phải đi chợ mua thực phẩm nữa, mà đã có các bà ở chợ Cầu Bông gánh cá thịt vào bán ngay ở cổng. Còn các loại xe nước mía, nước sinh tố, các xe bánh mỳ... rôm rả tiếng chào mời đêm ngày. Ở hẻm Cây Điệp, cứ đêm đêm lại có tiếng rao hàng mà luyến láy du dương như hát: “Bột nếp, bột mì, nhân đậu, nhân thịt... ờ hơ...”. Lúc đầu tôi chẳng hiểu họ rao gì. Hỏi mới hay là họ bán bánh bao! Ừ, mình cử nhân thương mại xã hội chủ nghĩa mà ngây ngô thật, đến việc quảng cáo, rao hàng cũng lạ lẫm...

Mới đó mà đã ba mươi năm. Con cái tôi bây gờ nó đã lớn hơn tuổi mình ngày đầu tiên đi mua thịt cầy ở Sài Gòn. Nhưng sao những kỷ niệm cứ như mới hôm qua, thơm nức mùi quần áo lính...
Huế, xuân 2005
N.M

(nguồn: TCSH số 194 - 04 - 2005)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGGhi chép 1.Tôi tự đặt ra một “hạng mục” đinh cho chuyến đi thực tế sáng tác ở A Lưới lần này, và hạ quyết tâm thực hiện bằng được, đó là: phải lên được Đồi Thịt Băm!

  • LGT: Liên Thục Hương là một nhà văn Trung Quốc đương đại, tự ví mình là con mèo đêm co mình nằm trên nóc nhà, nhìn cuộc sống thành phố tấp nập đi qua đáy mắt. Liên Thục Hương còn ký bút danh Liên Gián, có số lượng bản thảo lên tới hơn hai triệu chữ. Năm 2003, “Bài bút ký đầy nước mắt” đã được post lên mạng và năm 2004 nó đã được dựng thành phim và bộ phim ngắn này làm tiền đề cho tác phẩm điện ảnh đoạt giải thưởng của Trung Quốc. Sông Hương xin giới thiệu câu chuyện này qua bản dịch của nữ nhà văn Trang Hạ.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNAnh em Nguyễn Sinh Khiêm - Nguyễn Sinh Cung sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ trên đường Đông Ba. Ngôi nhà giản dị khiêm tốn nằm lui sau cái ngõ thông với vườn nhà Thượng thư bộ Lễ Lê Trinh. Nhưng chỉ cần đi một đoạn ngang qua nhà ông Tiền Bá là đến ngã tư Anh Danh, người ta có thể gặp được các vị quan to của Triều đình.

  • BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.

  • PHONG LÊTrong dằng dặc của giòng đời, có những thời điểm (hoặc thời đoạn) thật ấn tượng. Với tôi, cuộc chuyển giao từ 2006 (năm có rất nhiều sự kiện lớn của đất nước) sang 2007, và rộng ra, cuộc chuyển giao thế kỷ XX sang thế kỷ XXI là một trong những thời điểm như thế. Thời điểm gợi nghĩ rất nhiều về sự tiếp nối, sự xen cài, và cả sự dồn tụ của hiện tại với quá khứ, và với tương lai.

  • XUÂN TUYNHĐầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, tên tuổi của Lê Thị K. xuất hiện trên báo chí được nhiều người biết tới. K. nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Với các bài thơ: “Cỏ”, “Gần lắm Trường Sa” v.v... Nhiều nhà phê bình, nhà thơ không tiếc lời ngợi khen K.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ 160 chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời mình, các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đã “cũ”.

  • NGUYỄN NGUYÊN ANChúng tôi đến Đông trong những ngày cuối hạ. Thị trấn Khe Tre rực rỡ cờ hoa long trọng kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Sau bão số 6 năm 2006, tôi lên Nam Đông, rừng cây hai bên đường xơ xác lá, hơn 700 ha cao su gãy đổ tơi bời và hơn 3.000 ngôi nhà bị sập hoặc tốc mái, đường vào huyện cơ man cây đổ rạp, lá rụng dày mấy lớp bốc thum thủm, sức tàn phá của bão Xangsane quả ghê gớm!

  • Trang Web văn học cá nhân là một nhu cầu tương thuộc giữa tác giả và độc giả của thời đại thông tin điện tử trên Internet. Hoặc nói cách khác, nó là nhu cầu kết nối của một thế giới ảo đang được chiếu tri qua sự trình hiện của thế giới đồ vật.So với đội ngũ cầm bút thì số lượng các nhà văn có trang Web riêng, nhất là các nhà văn nữ còn khá khiêm tốn nhưng dù sao, nó cũng đã mở thêm được một “không gian mạng” để viết và đọc cho mỗi người và cho mọi người.

  • NGUYỄN NGỌC TƯSinh năm 1976. Quê quán: huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà MauNguyễn Ngọc Tư từng đạt nhiều giải thưởng trung ương và địa phương. Trong đó, truyện vừa Cánh đồng bất tận (giải thưởng Hội Nhà văn Việt ) đã được chuyển ngữ qua tiếng Hàn Quốc. http://ngngtu.blogspot.com

  • VÕ NGỌC LANThuở nhỏ, tôi sống ở Huế. Mỗi lần nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tôi vẫn gọi đó là ký ức xanh.

  • TÔN NỮ NGỌC HOATôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.

  • TRẦN HẠ THÁPThời gian tuôn chảy vô tình. Con người mê mải cuốn theo dòng cho đến khi nhìn lại thì tuổi đời chồng chất… Ngày thơ dại đã mịt mờ trong kỷ niệm. Mặt trăng rằm tỏa rạng còn đó nhưng dường như không còn là màu trăng xưa cũ. Thứ ánh sáng hồn nhiên một thuở mang sắc màu kỳ diệu không thể nào vẽ được. Dường như chưa trẻ thơ nào ngước nhìn trăng mà sợ hãi.

  • TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…

  • MAI TRÍHễ có dịp lên A Lưới là tôi lại đến thăm gia đình mẹ Kăn Gương. Song, lần này tôi không còn được gặp mẹ nữa, mẹ đã đi xa về cõi vĩnh hằng với 6 người con liệt sỹ của mẹ vào ngày 08/01/2006.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCNếu cắt một lát cắt tương đối như cơ học trong hành trình trùng tu di tích, cắt thời gian dương lịch của năm 2007, sẽ thấy đây là năm mà người ta nhận ra di sản Huế đang mỉm cười từ trong rêu cỏ dẫu đây đó vẫn còn có nhiều công trình đang thét gào, kêu cứu vì đang xuống cấp theo thời gian tính tuổi đã hàng thế kỷ.

  • NGUYỄN QUANG HÀBấy giờ là năm 1976, đất nước vừa thống nhất. Bắc trở về một mối. Người miền Bắc, miền xôn xao chạy thăm nhau, nhận anh em, nhận họ hàng. Không khí một nhà, vui không kể xiết.

  • HÀ VĂN THỊNH Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quãng thời gian ở Huế không phải là ngắn. Lần thứ nhất, từ mùa hè 1895 đến tháng 5 - 1901 và lần thứ hai, từ tháng 5 - 1906 đến tháng 5 - 1909. Tổng cộng, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (NTT - tên được đặt vào năm 1901) đã sống ở Huế 9 năm, tức là hơn 1/9 thời gian sống ở trên đời. Điều đặc biệt là, bước ngoặt quyết định của NTT đã diễn ra ở Huế; trong đó, việc tham gia vào phong trào chống thuế có ý nghĩa quan trọng nhất.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNVào những năm 1950 đến năm 1954, tại khu rừng Khuổi Nậm, Tân Trào. Ở chiến khu Việt Bắc, người ta thấy một cán bộ khoảng trên dưới 40 tuổi, người tầm thước, nói giọng Nghệ trọ trẹ, thường có mặt ở các cuộc họp quan trọng của Chính phủ kháng chiến để làm thư ký tốc ký cho Trung ương và Hồ Chủ tịch.