Chuyện trò với nhà thơ Xuân Hoàng: tâm sự một đời cầm bút
08:44 22/07/2011
L.T.S: Nhà thơ Xuân Hoàng sinh năm 1925 tại Đồng Hới, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Nguyên là quyền Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, thuở nhỏ ông học ở Huế rồi dạy học ở Đồng Hới một thời gian trước khi thoát ly tham gia cách mạng.
Ông là một trong những nhà thơ đầu tiên ở đây gia nhập Đoàn Thanh niên Cứu Quốc và tham gia cướp chính quyền trong Cách mạng tháng Tám. Ông đã từng được nhiều giải thưởng về thơ của các báo, tạp chí văn nghệ trong các cuộc thi thơ toàn quốc. Tác phẩm chính đã xuất bản:
- Tiếng hát quê hương (tập thơ) 1959 - Du kích sông Loan (trường ca) 1963 - Miền Trung (tập thơ) 1967 - Hương đất biển (tập thơ) 1971 - Biển và bờ (tập thơ) 1975 - Dải đất vùng trời (tuyển thơ) 1976 - Về một mùa gió thổi (tập thơ) 1983 - Từ tiếng võng làng sen (trường ca) 1984 - Quãng cách lặng im (tập thơ) 1984
Bài phỏng vấn dưới đây được thực hiện thay lời chúc mừng của Sông Hương nhân dịp nhà thơ tròn 60 tuổi.
Tôi biết anh có thể nói là gần mười năm. Nhưng vả chăng, biết là một chuyện, còn hiểu, hiểu thật sự, hiểu sâu sắc về một con người, một nhà thơ là một chuyện khác. Huống chi con đường sáng tác của anh đã trải qua cũng khá dài, hơn 40 năm, liên tục, không ngừng, không nghỉ, mỗi chặng đường đều có những thành tựu nhất định. Thời chống Pháp, thời chống Mỹ và trong mười năm lại đây, mỗi thời kỳ thơ của anh đều có đâm bông kết trái, khi ít khi nhiều, khi là những nụ đầu còn tươi mát ngây thơ, hồn nhiên, khi nở rộ rực rỡ ngát hương khi sâu lắng tỏa hương thầm chín tới qua kinh nghiệm của thời gian, tuổi tác tuổi nghề và khát vọng vươn tới gạn lọc. Mà tôi, tôi chỉ hiểu được một vài mảnh rất nhỏ nhoi trong đó. Anh có cái cường tráng, cái hăng, cái bốc của tâm hồn thơ nên viết nhanh, viết khỏe, viết nhiều. Chuyện vơi nguồn cảm hứng, khô cằn sáng tác, dừng bút, nghỉ bút, treo bút, hình như không được đặt ra với anh. Cảm hứng của anh như vô tận, lai láng không bờ không bến. Nhưng thơ anh nói chung là không đều tay, bên cạnh một số bài hay, bài khá, bài được, còn một số khác ở cái dạng: không dở, không kém, mà cũng không hay, có nghĩa là “được được”, “tàm tạm”, “thường thường bậc trung”, mà số này cũng không phải ít, chẳng may ai đọc mãi nhằm loại này trong thơ anh thì dễ hiểu sai lệch, dễ có cái ấn tượng chẳng tốt đối với thơ anh nói chung.
Tiếp xúc với anh, người ta thấy mến, thương, có cảm tình, dễ gần gũi hơn là cảm giác nể, phục, sợ, chẳng biết ấn tượng đó có chủ quan không, nhưng quả đúng là như thế. Tác phong của anh là sự trộn lẫn giữa xoàng xoàng, giản dị và sự nguyên tắc, chững chạc. Có một anh chàng nhà giáo, một người làm công tác tuyên truyền trong một tâm hồn lãng mạn, nhạy cảm. Khi thì con người này, khi thì con người khác thắng thế trong thơ anh. Trong đối xử anh là một con người hồn hậu và có thể nói là vô tâm. Không bao giờ anh để bụng thù hằn ai hoặc giận ai quá lâu. Với chiều cao, khoảng một thước sáu lăm, vóc hình anh cân đối, nhờ cái bề ngang đầy đặn vừa phải so với chiều cao. Sáu mươi tuổi, nhưng trông anh có vẻ trẻ hơn tuổi, nhờ anh giữ điều độ, mực thước trong ăn uống, nghỉ ngơi và làm việc. Trưa nào cũng phải ngủ một giấc, tối ngủ sớm, tập thể dục thường xuyên, không thuốc lá, rượu khi vui mới uống và uống ít nhưng cũng hết được một cuộc, chỉ có cái khoản trà và cà phê là thường xuyên. Bản chất anh lạc quan, yêu đời, vô lo, hay đãng trí trong một số việc thường nhật, có khi được anh em văn nghệ trêu chọc như một giai thoại, hay cười khi gặp những điều thích thú, đặc biệt là những kỷ niệm vui về văn nghệ hay khi đọc sáng tác của mình, và đã cười thì rất to, cười ha hả như để cái thích của mình bộc lộ hết, tràn đầy ra ngoài.
Lần nào anh cũng tiếp tôi với thái độ niềm nở, cởi mở và có thể nói là thân tình. Ánh mắt anh, và toàn bộ con người anh toát lên một dáng vẻ mong được cảm thông, được hiểu biết và được đánh giá đúng về mình. Tôi thì tôi trân trọng, quý mến anh và cũng rất mong được hiểu biết anh nhiều hơn, đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và cũng có cái háo hức của kẻ thám hiểm mong dò tìm vũ trụ thơ có những phần còn là những dải đất xa lạ mà mình chưa biết tới.
PV:Thơ anh rất nhiều tập, vậy xin anh cho biết những tập thơ nào được anh thích nhất?
XUÂN HOÀNG: Trước hết có thể đọc “Dải đất vùng trời”, đây là tập thơ tuyển ba mươi năm làm thơ của tôi nó khá toàn diện, đọc nó có thể hiểu được cuộc đời thơ ca của tôi một phần lớn. Sau nữa, các bạn có thể đọc hai tập thơ “Biển và bờ” (1976) và “Quãng cách lặng im” (1984), đó là hai tập thơ mà tôi thích nhất, tập đầu có xu hướng sử thi, tráng ca, anh hùng ca, tập sau là xu hướng trữ tình nội tâm, giọng tâm sự. Về trường ca, tập “Từ tiếng võng làng Sen” là tập tiêu biểu của tôi.
PV:Anh vừa nói xu hướng sử thi và xu hướng trữ tình trong thơ anh, vậy thơ anh có quy tụ theo hai hướng ấy không? Nếu có, những tác giả thơ mà anh chịu ảnh hưởng là những người nào?
XUÂN HOÀNG: Đúng, thơ tôi có hai hướng quy tụ chính nói trên. Thuở đi học, tôi thường chịu ảnh hưởng của Vich-to Huy-gô. Thơ ông vừa có cả hai hướng trên và hướng nào cũng có sự thành tựu. Còn ở Việt Nam, thơ trữ tình của Huy Cận, thơ sử thi của Huy Thông là những ví dụ tiêu biểu vạch hướng cho sự chọn lựa của tôi. Loại sử thi (épique) chủ yếu là thơ hát ca về cái hùng tráng của lịch sử và những con người anh hùng, cá nhân hay tập thể làm nên lịch sử. Mấy mươi năm qua, lịch sử đã xâm nhập thẩm thấu, quy định toàn bộ số phận dân tộc ta và cũng là số phận các cá nhân, không ai đi ra ngoài được quỹ đạo đó. Và lịch sử đó là lịch sử của một dân tộc anh hùng đã anh dũng chiến đấu với kẻ thù có sức mạnh vật chất gấp trăm lần mình mà đã chiến thắng. Thơ không thể không ngợi ca cái đó. Vả lại sứ mệnh của thơ ca và nhà thơ trong hoàn cảnh của một đất nước đang trải qua hai cuộc kháng chiến ác liệt, gian khó như vậy, không thể đứng ngoài cuộc, nhà thơ là tham dự, là chiến sĩ là người đứng đầu sóng ngọn gió, mô tả, hát ca về cuộc chiến đấu kiên cường; anh dũng của nhân dân mình, cổ vũ khích lệ nhiệt tình, đốt cháy ngọn lửa thiêng là lòng yêu nước nơi mỗi công dân. Và nhà thơ trong hoàn cảnh đó phải là một công dân, mà vũ khí cầm chặt trong tay là ngòi bút, tâm hồn, trí tuệ, lòng căm thù và tình yêu và hẳn là niềm tin vững chắc nữa. Nhà thơ đánh địch bằng vũ khí tinh thần. Nhưng nhà thơ còn là một con người - hiểu theo nghĩa con người nhân loại - nhà thơ phải cố gắng và nỗ lực trở nên nhân loại nhất và không cái gì thuộc về con người mà có thể xa lạ đối với nhà thơ”. “Cái tôi” phải có của nhà thơ và “cái ta” của dân tộc, của nhân loại phải cố gắng hòa nhập vào làm một, đó là cái bản lĩnh sống của người làm thơ và bản lĩnh của sự khái quát của anh ta và đó là cái gốc rễ của thơ trữ tình. Thơ trữ chính vốn xuất phát từ chủ thể cảm xúc, cái tôi riêng của nhà thơ trong các mối quan hệ với thế giới bên ngoài: thiên nhiên, xã hội lớn (đất nước, dân tộc, nhân loại), xã hội nhỏ (gia đình, tình yêu, bạn bè, thân thuộc) và đôi khi với cả chính mình, giữa những mâu thuẫn trong lòng không thể không biểu lộ, không thể không giải quyết sự xung đột một cách nào đó trong cảm xúc thơ để tiến tới sự hài hòa, bình ổn trong nội tâm. Thơ trữ tình là tiếng nói con tim, là lời biểu lộ tâm sự, là sự bộc bạch tâm hồn khi có tác động của thế giới bên ngoài hoặc là sự nhìn lại cái thế giới bên trong khi khối lòng có điều ngổn ngang muốn được cảm thông trong sự bày tỏ. Thơ trữ tình của tôi bao giờ cũng mong đạt tới sự hòa nhập hữu cơ giữa “trữ tình cá thể” và “trữ tình công dân”. Ngay cả trong chiến tranh tôi có tìm được cái vẻ đẹp bình thường của cuộc sống để tạo cho được sự quân bình, trong cái dữ dằn, khốc liệt của chiến tranh mà trong đó cảm xúc với thiên nhiên chiếm vị trí chủ đạo: một đêm trăng Trường Sơn bình yên và thanh thản, một vầng trăng ảo mộng đẹp như xứ sở của huyền thoại mà con đường uốn lượn theo những dốc đèo cheo leo, những thác sâu, vực thẳm, khuất, ẩn hiện vẻ đẹp của thiên nhiên đem lại sự bình ổn cho tâm hồn thơ và dĩ nhiên là cả cho độc giả, nó đem lại những giây phút nghỉ ngơi hiếm hoi để tái tạo lại sức mạnh mà tiếp tục chiến đấu giữa cuộc chiến tranh đang gào thét với những âm thanh cuồng nộ.
Tuy nhiên, theo tôi có lúc hai loại này - sử thi và trữ tình có sự giao tiếp và sự giao tiếp càng lớn và càng nhuần nhuyễn một cách vô hình bao nhiêu thì sự thành công của một bài thơ càng dễ đạt tới bấy nhiêu, đặc biệt là thơ về đề tài chiến tranh: Bởi thơ về chiến tranh của ta là thơ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nó thiên về ngợi ca, nhưng nó phải bộc lộ qua cái riêng của chủ thể trữ tình của người làm thơ, có thể nó mới không chung chung, sơ lược, hời hợt. Thơ chiến tranh của tôi đi theo hướng đó và phần lớn các tập thơ trước 76. Nhưng nói nó có được, có khá chưa, thì cái đó vẫn còn tùy độ chính xác của cảm xúc, của tứ thơ, của nghệ thuật âm thanh, hình ảnh, chữ nghĩa… Phải thú thật rằng thơ trữ tình đích thật và sâu xa của tôi trước năm 75 còn bị giới hạn do hoàn cảnh, tâm lý của thời đại, mà chính tôi và nhiều người làm thơ khác bị ràng buộc, trong đó, đôi khi còn cái cảm giác “sợ trật” làm thơ có phần nào thiếu bề sâu. Chính những tập thơ sau 75 của tôi, nhất là tập “Quãng cách lặng im” theo tôi, đó là một tập thơ trữ tình thật sự, cũng là do hoàn cảnh xã hội khác, thuận lợi hơn, quan điểm chỉ đạo văn nghệ rộng mở hơn, quần chúng cũng có nhu cầu khác, tinh thần khác trước và có thể nói tôi đã có phần chính trong kinh nghiệm bên trong mà cũng có thể là tâm hồn trữ tình của tôi được giải phóng do đó mà tập thơ này được dư luận chú ý và tác phẩm này là niềm vui của tôi, nó là bước tìm đường mới, cái mới lớn trong đời thơ tôi, và cũng từ nó tôi rút nhiều ưu khuyết điểm, sở trường, sở đoản trong nghề thơ.
PV:Xin anh cho biết hai bài thơ mà anh đắc ý nhất?
XUÂN HOÀNG: Đó là hai bài tiêu biểu trong hai tập thơ mà tôi yêu thích, bài Phu-la-nhích trong tập “Biển và bờ” có âm hưởng sử thi, có cái giọng điệu hùng tráng. Còn bài thứ hai là bài “về với biển” trong tập “Quãng cách lặng im” đó là giọng trữ tình sâu lắng, mượn hình ảnh của biển để nói những khát vọng của tâm hồn của đời thơ ký thác tâm sự với đời, với những người trẻ và bài đó kết tinh cả cuộc đời bên trong của tôi. (Rồi anh đọc cho tôi nghe hai bài đó, tôi nhận thấy đúng là hai bài thơ loại hay)
PV:Anh sở trường thể thơ nào?
XUÂN HOÀNG: Một anh bạn thân có ý kiến cho rằng tôi sở trường về loại thể thơ 5 chữ, 7 chữ, và lục bát. Tôi thấy ý kiến đó cũng có phần đúng, nhưng tôi nghĩ rằng mỗi thể thơ như một khí cụ âm nhạc thường phù hợp với loại nhạc riêng, và mỗi loại có một cái hay riêng, vĩ cầm, dương cầm, ghi-ta đều có cái âm sắc độc đáo của nó. Mỗi thể thơ cũng vậy, nó phù hợp với loại cảm xúc, một loại tâm trạng, như hai bài thơ tâm đắc mà tôi mới nói trên đều viết theo thể tự do. Và tôi nghĩ đã đi hẳn với nghề thơ nên cố gắng thạo mọi thể thơ, như thể thơ sẽ đa dạng hơn về mặt hình thức và nghệ thuật. Đôi khi một cảm hứng bất chợt nào đó hiện lên nó đã sẵn có cái áo khoác thể thơ này hay thể thơ kia rồi.
PV:Anh có lần nào suy ngẫm lại sở trường và sở đoản của mình chưa? Và cả việc lắng nghe ý kiến dư luận nữa?
XUÂN HOÀNG: (Nét mặt anh đăm chiêu và có vẻ hơi ưu tư): Có người nói một số bài thơ tôi trước kia có vẻ tản mạn, loãng. Có người cho rằng một số bài khác có chữ nghĩa sáo, đôi người khắt khe hơn còn cho rằng có một số bài hời hợt. Tôi cho rằng tất cả cái đó đều có phần đúng. Đó là những người đọc gặp loại thơ trung bình hoặc trung bình kém của tôi. Âu đó là sở đoản đôi khi không tránh khỏi một người làm thơ nhiều và khá mạnh như tôi. Nay qua kinh nghiệm của mấy tập thơ gần đây, tôi đã “chín” hơn và bài nào tôi mới viết khoảng thời gian lại đây cũng “cô đọng” hơn, tập trung hơn, và có chiều sâu hơn. Và sự trăn trở viết cho hay hơn, là ước vọng của mỗi người làm thơ, nhất là đối với tôi, mỗi nhà thơ nếu muốn tồn tại đều phải bắt đầu lại, tuy nhiên sự bắt đầu này hẳn khác chặng đầu tiên, nó là sự bắt đầu của một biện chứng, một tổng hợp mới do bản thân, sự phát triển của cuộc sống và đời sống thơ ca quy định, đó là ý nghĩa của mọi tìm tòi, đổi mới mà tôi đang cố gắng vươn tới.
PV:Và đó cũng là cách trả lời của anh cho những cuộc thảo luận về thơ, hướng đi, chất lượng của thơ đang sôi nổi hiện nay?
XUÂN HOÀNG: Vâng, có lẽ thế một phần. Người ta nói thơ cần cách tân cả nội dung lẫn hình thức cho phù hợp với nhu cầu của giai đoạn mới, nhất là nhu cầu của độc giả. Có xu hướng đòi nội dung phải mạnh mẽ hơn như một số vấn đề mà các tác phẩm văn xuôi hiện nay đang đề cập, có xu hướng thì đã đổi mới hình thức như kiểu thơ trí tuệ, thơ văn xuôi… Riêng tôi cho rằng bản lĩnh của mỗi nhà thơ là tìm cách biểu lộ phù hợp nhất với cái tạng của mình và cách nhìn nhận của mình đối với những biến đổi của cuộc sống. Tôi cũng đang thử nghiệm cả thơ trí tuệ, lẫn thơ văn xuôi, nhưng tôi cho rằng thơ gì đi nữa “cái chất thơ” của tâm hồn người viết và của bài thơ là điều chủ yếu. Riêng tôi, tôi khẳng định cái xu hướng thơ “trữ tình cá thể” gắn chặt với “trữ tình công dân”. Nhà lý luận nói rằng ngôn ngữ khoa học, nhà thơ phải nói bằng ngôn ngữ thơ và cái chính là bằng tác phẩm. Tập thơ “Quãng cách lặng im” của tôi là một sự đổi mới của phong cách thơ và nó đã có một tiếng vang, một thành công nhất định nào đó.
PV:Anh có đọc thơ của những người viết trẻ không? Cảm tưởng của anh ra sao?
XUÂN HOÀNG: (Anh ngần ngừ một lúc, đắn đo, rồi trả lời). Mỗi thế hệ đều có quyền có tiếng nói của mình, có cách nhìn nhận và đánh giá cuộc sống của mình, đó là điều cần phải tôn trọng. Anh em làm thơ trẻ, có nhiều tìm tòi, nhiều suy nghĩ cả về mặt hình thức, lẫn nội dung. Tôi đang cố đọc và cố tiếp xúc thật nhiều và đang xem xét. Có cái tôi chịu được, có cái không hợp tạng, thế thôi.
PV:Dự định sáng tác sắp tới của anh ra sao? Nếu có thể xin anh cho biết anh có định ra mắt tập thơ nào mới?
XUÂN HOÀNG: Tôi đang định viết một trường ca dài gồm nhiều chương về vùng đất Bình Trị Thiên này trong một thời gian mấy trăm năm, cả huyền thoại lẫn lịch sử và đã lên đề cương và đã bắt đầu viết xong chương thứ nhất. Còn cho ra mắt tập mới ư? Tập thơ “Quãng cách lặng im” của tôi vừa rồi người ta cho biết là bán rất chạy và đã hết sạch, nhà xuất bản rất tiếc là đã in ít và do đó tôi hy vọng họ sẽ dễ dàng với tập thơ mới của tôi. Tôi đang tập hợp khoảng 70, 80 bài thơ viết về Huế và trên một trăm mấy chục bài viết về đề tài Đồng Hới, hai quê hương của tôi và sẽ gởi cho nhà xuất bản tập này. Tôi còn khoảng hơn 200 bài xon-nê mà tôi định lọc lại để chọn thành một tập khác. Hiện nay tôi cũng đang viết một vài truyện ngắn theo lối tôi cho phù hợp với tôi, truyện ngắn pha với tùy bút, truyện có chất thơ.
PV:Xin cảm ơn anh và chúc anh có nhiều thành tựu mới trong sự nghiệp văn chương.
Anh xiết chặt tay tôi. Chia tay với anh, tôi hiểu thêm nhiều về một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ ca Bình Trị Thiên, một con người có năng lực sáng tạo rất dồi dào, sung sức và đang đi tới những thành tựu mới và một con người có tính tình hồn hậu, đầy nhân tính và đang mong ước được đổi mới như dòng đời, như thơ, vốn luôn trẻ mãi mà già dặn bên trong.
HỒNG NHUĐó là “Tình bậc thang” (NXB Hội Nhà văn 2006) và “Mặt cắt” (NXB Hội Nhà văn 2007) của một nữ thi sĩ mà cho đến nay không nhiều người biết đến, ít nhất là trong làng thơ. Vì một lẽ rất giản đơn: chị mới xuất hiện trên thi đàn Việt Nam vài ba năm nay thôi.
FAN ANHTrong cuộc sống của tất cả chúng ta, đôi khi nụ cười không đồng nghĩa với sự hạnh phúc, cũng như nước mắt không phải bao giờ cũng đồng điệu với nỗi đau. Chính vì thế, mặc dù tiểu thuyết Ba ơi, mình đi đâu? của Jean Louis Fournier là một tác phẩm có thể “gây ra” không ít những tiếng cười, nhưng cảm xúc thanh lọc (Catharsis) mà cuốn sách nhỏ này mang lại cũng lớn lao như bất kì một vở bi kịch nào.
Ngày 6 tháng 4 năm 2007 tại Hà Nội, chúng tôi đến thăm nhà thơ Dương Tường tại nhà riêng. Dương Tường ngồi sau một chiếc bàn nhỏ và thấp chất đầy sách vở và ly tách giữa một căn phòng rộng dùng làm phòng triển lãm tranh. Tranh treo kín các tường.
ĐOÀN TUẤNTrong tâm tưởng của tôi, thi sĩ Nguyễn Bính là một người có dáng gầy, vóc nhỏ, gương mặt nhẹ nhõm với đôi mắt sáng, tinh anh, mũi dọc dừa và cái miệng cân đối. Tóc Nguyễn Bính không bao giờ để dài. Áo quần Nguyễn Bính thường có màu sáng. Ông đi lại nhanh nhẹn, nhiều khi vội vã. Gương mặt Nguyễn Bính là một gương mặt ưa nhìn bởi trong đó chứa đựng chiều sâu của nhiều ý nghĩ và sắc mặt thay đổi theo tâm trạng thất thường của ông.
PHẠM QUANG TRUNGTôi muốn nói đến bài “ Tạm biệt” (hay “ Tạm biệt Huế”) của nhà thơ Thu Bồn. Dẫu đã có nhiều bài thơ hay, rất hay lấy cảm hứng từ Huế, tôi dám quả quyết là nó sẽ vẫn được nhắc tới như là một trong những bài thơ hay nhất. Xin kể một kỷ niệm đẹp riêng với tôi.
NGUYỄN KHẮC PHÊNâng hợp tuyển “Hải Bằng” (HTHB) sang trọng và trĩu nặng trên tay, thật nhiều cảm xúc tràn đến với tôi. Cuốn sách được gia đình nhà thơ Hải Bằng tặng cho tất cả những người đến dự ngày giỗ lần thứ 11 của nhà thơ được tổ chức tại một ngôi nhà mới xây ở cuối đường Thanh Hải - lại là tên nhà thơ quen thuộc của xứ Huế.
TÔN PHƯƠNG LANCũng như những nhà văn mặc áo lính thuộc thế hệ đầu và tờ tạp chí Văn nghệ quân đội của họ, Trần Dần là một tên tuổi quen thuộc mà gắn với tên tuổi ông là cuốn tiểu thuyết Người người lớp lớp. Là một học sinh thành phố, khi Cách mạng tháng Tám thành công, 19 tuổi, ông bắt đầu hoạt động cách mạng rồi đầu quân tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động văn nghệ.
Hồ Thế Hà sinh năm 1955, quê ở thị trấn Ngô Mây, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Anh tham gia quân đội từ 1978 đến 1982, chiến đấu tại Campuchia. Hồ Thế Hà tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Huế năm 1985 và được giữ lại trường. Hiện anh là Phó Giáo sư, Tiến sĩ đang giảng dạy tại khoa Ngữ văn, trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Anh đồng thời là Ủy viên Ban chấp hành Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Huế nhiệm kì: 2000 - 2005; 2005 - 2010. Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế, nhiệm kì 2000 - 2005; 2005 - 2010.
PHẠM PHÚ PHONGĐúng vào dịp Huế chuẩn bị cho Festival lần thứ III năm 2004, Vĩnh Quyền cho tái bản tập ký và truyện Huế mình, tập sách mới in trước đó chưa tròn một năm, năm 2003. Trước khi có Huế mình, Vĩnh Quyền đã có nhiều tác phẩm được bạn đọc chú ý như các tiểu thuyết lịch sử Vầng trăng ban ngày, Mạch nước trong, Trước rạng động, các tập truyện Người tử tù không chết, Người vẽ chân dung thế gian, Màu da thượng đế, tập bút ký Ngày và đêm Panduranga và tập tạp văn Vàng mai.
...Không có sự lựa chọn nào cả, tôi đến với thơ như một nghiệp dĩ. Tôi nghĩ thơ là một thứ tôn giáo không có giáo chủ. Ở đây, các tín đồ của nó đều được mặc khải về sự bi hoan trần thế và năng lực sẻ chia những nỗi niềm thân phận. Cuộc đời vốn có cái cười và cái khóc. Người ta, ai cũng có thể cười theo kiểu cười của kẻ khác, còn khóc thì phải khóc bằng nước mắt của chính mình. Với tôi, thơ là âm bản của nước mắt...
…Có thể thấy gần đây có những xu hướng văn học gây “hot” trong độc giả, ví như xu hướng khai thác truyện đồng tính. Truyện của tôi xin khước từ những “cơn nóng lạnh” có tính nhất thời ấy của thị trường. Tôi bắt đầu bằng chính những câu chuyện giản đơn của cuộc sống hàng ngày, những điều giản đơn mà có thể vô tình bạn bước qua…
NGÔ KHAKỷ niệm 40 năm ngày Bác Hồ ra đi, chúng ta đều nhớ lại di chúc thiêng liêng của Bác để lại cho nhân dân ta. Đó là tình cảm và niềm tin của Bác đối với chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau.
Nguyễn Khắc Phê quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh. Anh xuất thân trong một gia đình trí thức. Bố anh từng đậu Hoàng Giáp năm 19 tuổi. Các anh trai đều là bác sĩ, giáo sư, tiến sĩ nổi tiếng như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Khắc Dương, Nguyễn Khắc Phi... Có người nói vui “Nguyễn Khắc Phê con nhà quan tính nhà lính”.
NGUYỄN QUANG SÁNGMấy năm gần đây, dân ta đi nước ngoài càng ngày càng nhiều, đi hội nghị quốc tế, đi học, đi làm ăn, đi chơi, việc xuất ngoại đã trở nên bình thường. Đi đâu? Đi Mỹ, đi Pháp, đi Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc... Nhà văn Văn Cầm Hải cũng đi, chuyến đi này của anh, anh không đi những nơi tôi kể trên, anh đi Tây Tạng, rất lạ đối với tôi.
HÀ KHÁNH LINHDân tộc ta có hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, đã xảy ra nhiều cuộc nội loạn ngoại xâm, nhiều thế hệ người Việt Nam đã cầm vũ khí ra trận giết giặc cứu nước, nhưng mãi đến cuối thế kỷ 20 những chàng trai nước Việt mới phải đi giữ nước từ xa, mới đi giữ nước mà mang trong lòng nỗi nhớ nước như tứ thơ của Phạm Sĩ Sáu.
LÊ VĂN THÊSau sáu năm (kể từ 2002) nhà văn Cao Hạnh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, (cuối năm 2008); Hội Văn học nghệ thuật Quảng Trị mới có thêm một nhà văn được kết nạp. Đó là Văn Xương.
NGÔ MINHTrong đợt đi Trại viết ở Khu du lịch nước nóng Thanh Tân, anh em văn nghệ chúng tôi được huyện Phong Điền cho đi dạo phá Tam Giang một ngày. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Thế là người dẫn đường. Anh dân sở tại, thuộc lòng từng tấc đất cổ xưa của huyện.
PHẠM PHÚ PHONG…Làng em đây, núi rừng Trung Việt cũng là đây/Xưa kia đã hùng dũng đánh Tây/Giờ lại hiên ngang xây thành chống Mỹ/Đường Trường Sơn là đường chân lý/Đã cùng quê em kết nghĩa hẹn hò… (Quê em, 1971)