Chuyện ở làng Mai

17:49 06/06/2008
Năm 1966 thầy Phan Linh dạy Toán lớp 7A tại trường cấp II xã Phúc Giang. Đó là năm chiến tranh phá hoại rất ác liệt. Máy bay Mỹ cứ nhằm những tụ điểm đông người thả bom. Học sinh đến trường phải đội mũ rơm. Để tránh bom đạn trường Phúc Giang phải sơ tán về các làng, các xóm học tạm. Lớp 7A của Phan Linh sơ tán về làng Mai.

Là năm cuối cấp, và cũng là năm cuối cùng Phan Linh đứng trên bục giảng. Theo yêu cầu của chiến trường, Phan Linh nhập ngũ. Làng Mai trở thành kỷ niệm sâu nhất của thầy thời bảng đen phấn trắng. Rất may lớp 7A của Phan Linh đậu cao, các em đều rất ngoan, hồn nhiên nên cuộc chia tay đầy bịn rịn, cả thầy và trò đều nước mắt rưng rưng. Phút cuối cùng của buổi chia tay ấy, Nguyễn Văn Nhỏ lớp trưởng nói với thầy:
- Không biết bao giờ thầy trò mình mới gặp lại nhau, chúng em xin thầy cho chúng em một câu cuối cùng.
Thầy Phan Linh thật sự xúc động. Giọng thầy chậm rãi như đóng đinh vào từng lời:
- Mai này, biết đâu các em có người làm ông nọ, có người làm bà kia. Nhưng dẫu sao thầy cũng mong các em thành người. Một chữ Người viết hoa đấy nhé!
Như chung một tấm lòng, các em đồng thanh:
- Chúng em xin hứa với thầy là chúng em phấn đấu để trở thành một con Người ạ.
Thầy Phan Linh giang rộng đôi tay như muốn ôm hết các em trong vòng tay của mình:
- Thầy cám ơn các em rất nhiều.
Thầy Phan Linh xa làng Mai từ đấy. Trên đường hành quân vượt Trường Sơn, Phan Linh thường tâm niệm: “Lâu nay mình thường dạy học sinh mình về lòng yêu nước. Cuộc ra đi này là mình lấy chính máu của mình làm linh hồn cho những bài giảng ấy”. Chiến trường nơi Phan Linh dừng lại để thử thách là chiến trường Quảng – Đà Nẵng. Một chiến trường hết sức ác liệt. Đại đội Linh vào đây 155 người. Đến ngày giải phóng miền , thống nhất đất nước, đại đội Linh đã hy sinh tất cả 139 người. Chỉ còn 16 người sống. Linh thấy mình không chết thật là một điều lạ. Lớn, nhỏ, Linh bị thương tất cả bảy lần. Rất may thầy không bị khiêng ra khỏi chiến trường.
Sau chiến tranh, đồng đội tình nghĩa với nhau, đã giữ Phan Linh ở lại Đà Nẵng. Hình như số phận đã giữ Phan Linh ở lại nơi máu xương mình và đồng đội mình đã đổ. Tuy vậy, lần nào ra Hà Nội, Linh cũng sắp xếp để lên thăm làng Mai. Học sinh cũ, cả phụ huynh học sinh cũ đều đến thăm, tíu tít. Đã là tình người với nhau, khó có lời nào nói hết. Bao nhiêu dồn nén ào ra với nhau như nước lũ.
Nhân chuyến đi du lịch Bắc Kinh lần này, trên đường về Phan Linh tách đoàn về thăm lại làng Mai.
Không muốn phiền ai, Phan Linh thuê một phòng trọ ở Thị tứ Phúc Giang. Phan Linh phôn cho học trò, Nhỏ và Lệ đến ngay. Phan Linh ôm hai học trò trong vòng tay. Hai học trò cũng hớn hở ôm ngang lưng thầy.
Trong chuyện trò, thầy Linh tỏ ra rất mừng:
- Lớp 7A xưa của chúng ta đều trưởng thành, tiến bộ cả. Mừng nhất là Nguyễn Xuân, làm tới đại tá, tỉnh đội phó. Các em thường qua lại với nhau đều chứ?
Nhỏ thủng thẳng đáp:
- Ai có phận nấy thầy ạ.
Còn Lệ thì rụt rè:
- Chúng em cũng gắng sống cho phải lẽ bạn bè.
Dẫu Nhỏ và Lệ không nói hết lời, thầy Phan Linh cũng cảm thấy vẻ dửng dưng của họ đối với Nguyễn Xuân nên Phan Linh bỏ qua, chỉ thủ thỉ như tâm sự với bạn bè:
- Thầy đã từng sống, từng ở nhiều nơi, và thầy đã cảm nhận được một điều là con người ta quý nhau, nể nhau ở cái lương tâm, đúng như các cụ dạy: hữu xạ tự nhiên hương. Chính cái lương tâm đưa người ta lại gần nhau em ạ.
Nhỏ vui hẳn lên:
- Đúng như lời thầy dặn chúng em trong buổi chia tay hôm ấy, chúng em phấn đấu để thành Người.
Biết người nào việc nấy, Nhỏ lớp trưởng không thể báo hết cho các bạn 7A xưa, chỉ gọi mấy người quanh Phúc Giang, tới quán Nghĩa Tình ngay giữa Thị tứ. Sáu thầy trò ngồi vừa một mâm. Thầy Phan Linh đóng cái, ngồi hai bên gồm: Nhỏ, Lệ, Dưng, Đàn và Nguyễn Xuân. Phan Linh để ý từng học trò. Nhỏ, Lệ, Dưng, Đàn ăn mặc xuềnh xoàng, có vẻ còn hơi lôi thôi, nhếch nhác nữa. Riêng Nguyễn Xuân com-lê xanh, cà vạt đỏ chỉnh tề như đi hội nghị sang trọng. Xuân tỏ ra ríu rít với thầy hơn cả. Hết vuốt vai, vuốt lưng thầy, khen thầy khỏe mạnh, đếm từng sợi bạc trên mái tóc hoa râm của thầy, hỏi thăm cô, hỏi thăm các em. Chu đáo, nghĩa tình không thể chê.
- Em phải cám ơn thầy, vì thầy vẫn giữ được chiếc ảnh em chụp lúc mới nhập ngũ. Em mất từ lâu, không ngờ thầy nâng niu đến thế. Nhận được ảnh thầy gửi ra, cả nhà em chuyền tay nhau trầm trồ. Không có thầy, em đâu còn kỷ niệm trân trọng này.
Nhỏ hô nâng cốc. Cốc chạm nhau lách cách. Đã qua tuần rượu đầu, Phan Linh hỏi:
- Lâu nay các em làm ăn thế nào?
Dưng đặt cốc, thở dài:
- Làm nông trầy trật lắm thầy ạ. Đất đai xã em đang bị huy động cho công nghiệp. Chúng em đang rất lo. Lo nhất là chúng em nuôi các con đi học sao đây. Hàng trăm thứ thuế má, đóng góp đổ cả lên đầu hạt thóc.
Từ chuyện làm nông vất vả, kéo sang bàn luận về xã hội lúc nào không biết. Đàn như bắt được thời cơ thổ lộ tâm sự lâu nay âm ỉ trong lòng:
- Tất cả như rối tung cả lên thầy ạ. Vụ PMU 18 đúng là quái thai phải không thầy. Em đọc báo mới thấy bọn này dùng tiền Nhà nước đem phát tán như  thế nào. Hết xây nhà riêng đến đánh bạc, chơi gái. Chúng thuê cả một thiếu nữ xinh đẹp, lột truồng, khiêng đặt vào bồn tắm, rồi chúng đổ bia ngập bồn, rồi múc uống, chúc tụng nhau. Có thằng có tới mười ba cô bồ, sắm cho mỗi cô một biệt thự, một xe con. Hèn chi bọn nông dân chúng em nghèo là phải.
Đàn thêm vào:
- Chúng đánh những ván bài triệu đô. Sau bốn đứa cầm bài là bốn cô gái mặc xi-líp. Thắng thì chúng nhét mấy đồng vào xi-líp. Còn thua ba ván liền thì chúng vật cô gái xuống trước mặt mọi người, gọi là xả xui.
Lệ góp chuyện:
- Đó mới chỉ là một góc vụ PMU 18 thôi. Còn chuyện bọn được cho đi dẹp thuốc phiện lại buôn thuốc phiện từ biên giới đưa về, chuyện bọn quan tham Đồ Sơn nấp sau chiêu bài chính quyền cướp đất của dân chia nhau.
Phan Linh lặng lẽ ngồi nghe. Nhỏ, Lệ, Đàn, Dưng đều tưng bừng. Riêng Nguyễn Xuân ngồi lặng lẽ, dửng dưng. Phan Linh nói cho mọi người thấy sự thật:
- Đúng là bọn tham quan tệ hại, chúng phe cánh, rồi dùng quyền che chở cho nhau. Nhưng không thể qua mặt được nhân dân, nhân dân nhìn thấy hết.
Nhỏ hỏi:
- Nhưng nhân dân thấp cổ, bé họng, không có một mẩu quyền trong tay thì làm gì được thầy?
Phan Linh đáp:
- Làm gì sẽ tính sau. Nhưng biết đã là quan trọng. Này nhé, từ ngày đang còn chiến tranh, nhân dân đã nói: “Mỗi người làm việc bằng hai. Để cho chủ nhiệm mua đài mua xe. Mỗi người làm việc bằng ba. Để cho cán bộ xây nhà xây sân”. Đến thời bình này, nhân dân đã chỉ tận mặt bọn quan tham: “Quan chức chỉ có nhiệm kỳ, còn dân vạn đại, tội gì không tham”, “Thanh tra, thanh mẹ, thanh gì. Hễ nặng phong bì là hóa Thanh kiu”.
Đàn nói như reo:
- Nhân dân bị cướp đoạt, đã nhận diện kẻ cướp đoạt của mình, và tố cáo bằng văn học dân gian.
Phan Linh nói tiếp:
- Bọn quan tham tệ hại lắm. Song nhân dân đã nhìn tận ruột, tận giã tâm đen của chúng. Nhân dân đã đọc đúng tuyên ngôn mà chúng nén âm ỉ trong lòng: “Nhân dân còn tiền ta cứ ăn chơi. Thằng nào không chơi là thằng ấy dại. Rượu đã say rồi thì ta chơi gái. Mặc mẹ nhân dân, kệ bố đói nghèo.”
Mọi người xôn xao, xuýt xoa:
- Trời, đúng dã tâm đen của bọn quan tham quá!
Phan Linh giơ tay, bảo các em đừng ồn, làm ảnh hưởng đến nhà hàng, thầy thong thả nói với học sinh cũ của mình:
- Có lúc dân đã chửi chúng, mà chửi rất tục. Thầy phải xin lỗi các em về sự tục tĩu này. Nhưng thầy nghĩ các em đã là những công dân chính trực, thì các em cũng cần phải biết. Này nhé: “Quan tham luồn lách ác ôn. Xoáy tiền xong vội mò lồn bê tha”. Có khi rất cụ thể, chỉ mặt, gọi tên ra hẳn hoi: “Quan tham họ Phạm, tên Xuân. Cao tay nhất hạng tụt quần chị em”. Đây là Phạm Xuân chứ không phải Nguyễn Xuân đâu nhé. Xin Nguyễn Xuân đừng tự vận vào mình.
Dưng nhìn thầy Linh, hỏi:
- Dân đã lên tiếng, sao chính quyền cứ làm lơ hả thầy?
Phan Linh giải thích:
- Đã đến lúc không làm lơ được nữa rồi. Trì trệ mấy, họ cũng không thể quên: Ý dân là ý trời.
Tất cả đồng thanh:
- Chúng em cũng mong như vậy cho xã hội mình trong sạch lên. Xã hội có trong sạch thì mới tiến bộ được.
Phan Linh thấy nói chuyện về lũ quan tham ở quán này, vậy là đã vừa, không cần nói thêm nữa. Thầy chuyển sang chuyện khác:
- Câu nhà Phật nói: “Đời là bể khổ”. Chắc các em cũng thấm điều này rồi. Song mọi sự sẽ qua đi. Tất cả chỉ còn cái tình ở lại. Thầy mong các em giữ được chữ tình ở đời.
Suốt cuộc Phan Linh nói về đề tài dân nói, một người duy nhất tỏ ra không nghe là Nguyễn Xuân. Nguyễn Xuân luôn chúi đầu vào tai Lệ thì thầm. Tiện tay, Phan Linh cầm chai rượu đặt trước mặt, gõ vào vai Xuân như để nhắc không được nói chuyện riêng. Ai ngờ cái cổ chai loang rượu, trơn quá, tuột khỏi tay Phan Linh, rơi xuống đất, vỡ choang.
Hình như tiếng chai vỡ kích thích Nguyễn Xuân vùng đứng dậy, giọng the thé:
- Thưa thầy bây giờ chúng tôi đã lớn cả rồi, không phải như thời chúng tôi trẻ con, thầy muốn nói gì thì nói. Thầy coi chúng tôi như thế thì chúng tôi xin hỏi thầy, thầy là cái gì? Thưa thầy, tôi xin vái thầy bảy lạy, để nói rằng thầy muốn coi chúng tôi là thế nào tùy thầy, thầy có đến với chúng tôi nữa không, tùy thầy. Tuy nhiên chúng tôi muốn thầy trả lời cho chúng tôi biết, thầy là cái gì?
Mặt Nguyễn Xuân hầm hầm, còn Phan Linh thì tỉnh bơ.
Lệ giục:
- Thầy trả lời Xuân đi thầy.
Phan Linh bạt tai Lệ hai cái để Lệ không nói gì thêm. Đúng lúc đó chủ nhà hàng yêu cầu khách ra hết. Đã đến giờ nhà hàng đóng cửa. Phan Linh giơ tay bảo mọi người ngồi yên, thầy nói giọng điềm tĩnh, chậm chạp:
- Xin cho tôi trả lời câu hỏi của Xuân, Xuân hỏi rằng, thầy là cái gì? Xin thưa, tôi là con chó. Được chưa. Thôi xin tạm biệt tất cả.
Khách ồn ào, nháo nhác ra khỏi cửa hàng. Phan Linh bắt tay mọi người. Đến Nguyễn Xuân thì Xuân rụt tay lại, vắt tay ra sau lưng, từ chối cái bắt tay của thầy. Tạm biệt mọi người, Phan Linh về lại nhà trọ. Khuya, phòng khách của Phan Linh có tiếng gõ cửa. Ai còn đến vào lúc khuya khoắt thế này không biết. Phan Linh ra mở cửa. Nhỏ, Lệ, Dưng, Đàn ùa vào. Phan Linh biết ngay các em tới để chia sẻ với mình.
Vừa rót trà nóng cho mọi người uống, Phan Linh vừa nói:
- Cám ơn các em đến để chúng ta nói tiếp câu chuyện đang dở dang.
Nhìn đám học trò cũ một lượt, Phan Linh nói tiếp:
- Dưng, Đàn, Lệ mở đầu bằng vụ PMU 18. Thầy nói tiếp với các em nhân dân ta đã nhìn thấu tim đen bọn tham quan như thế nào. Vậy mà Nguyễn Xuân lại nói: “Tôi xin vái thầy bảy lậy để nói rằng thầy muốn coi chúng tôi là thế nào tùy thầy”. Ngồi trong bàn ăn, cái “chúng tôi” mà Xuân nói là ai vậy. Thầy hoàn toàn có nói gì tới các em đâu. Cứ theo ngôn ngữ của Nguyễn Xuân, rõ ràng Nguyễn Xuân bảo vệ cho bọn tham quan, và ngẫu nhiên tự nhận mình là thành viên của bè lũ tham quan ấy! Vậy mà còn giả nhân giả nghĩa “Tôi xin vái thầy” làm như ta lễ phép lắm, thật là một trò dối trá, lừa lọc có hạng. Không có tật làm sao Nguyễn Xuân giật mình đến thế, run bắn người đến nỗi hoảng hốt như vậy nhỉ?
Dừng lại giây lát, Phan Linh lại khề khà:
- Nhân đây, thầy giải thích câu thầy trả lời Nguyễn Xuân. Đúng, thầy là một con chó, một con chó trung thành suốt đời với chủ, và người chủ ấy là nhân dân. Cho nên khi thầy nói đến bọn quan tham, toàn là chữ nghĩa của nhân dân cả. Các em thấy đúng vậy không?
Nhỏ gật đầu lia lịa:
- Một câu trả lời thật chí lí. Không biết đầu óc như đầu óc Nguyễn Xuân có hiểu nổi không?
Dưng cắt ngang lời Nhỏ:
- Ôi! Thằng Xuân thì có hiểu cái gì.
Phan Linh quay qua Lệ, cười hỏi:
- Thầy bạt tai em hai cái có đau không?
Lệ cười toe:
- Càng lúc em càng hiểu ra, Nguyễn Xuân không phải là đối tượng để thầy chấp trách. May lúc đó chủ hàng mời khách ra, chứ có ngồi lại, em tin là thầy cũng không thèm trả lời, vậy mà lúc ấy em lại vội vàng xúi thầy trả lời, em ăn hai cái bạt tai cảnh cáo là đúng lắm. Bạt tai cảnh cáo chứ đâu phải đánh, cho nên em có thấy đau tí nào đâu. Quả là em không ngờ Nguyễn Xuân lại hợm hĩnh, cứ cho là ta lúc nào cũng hơn người, nên đã tự vỗ ngực ta là cán bộ nhà nước, phải bảo vệ những người của nhà nước, dù đó là bọn quan tham, nên đã biện hộ cho chúng bằng cái giọng hàng tôm hàng cá. Chưa nói xong đã lòi ngay cái đuôi dốt nát, hợm hĩnh của mình.
Phan Linh vỗ vai Lệ:
- Thầy cám ơn em đã hiểu được ý thầy.
Nhỏ nhận xét:
- Nhưng lúc chia tay, nhìn mắt thầy, em thấy lộ ra những nét buồn.
- Không ngờ Nhỏ tinh thế - thầy đến bắt tay Nhỏ - Thầy buồn thật. Buồn vì cho đến tận năm 2007 này rồi, mà trong đội ngũ cán bộ của chúng ta lại có đứa dốt nát đến như thế, hợm hĩnh đến như thế. Suốt một thời gian dài nó làm cán bộ quản lý, cán bộ lãnh đạo thì quản lý cái gì, lãnh đạo cái gì. Chẳng lẽ khi bất lực lại giở cái trò hợm hĩnh của mình ra. Bây giờ thì thầy đã hiểu câu Nhỏ nói lúc thầy trò gặp nhau: “Ai có phận nấy thầy ạ”. Có lẽ phải thế thật. Một việc nhỏ vừa qua, làm thầy chợt nhớ câu của cổ nhân: “Tiểu bất trắc, tất mưu đại loạn”, nghĩa là: một việc nhỏ không kìm hãm được chắc chắn sẽ làm hỏng việc lớn. Các em cũng nên nhớ câu này để hành xử ở đời.
Lệ đến bên, ôm vai thầy, thủ thỉ:
- Lúc chia tay thầy ở sân nhà ăn, chợt chúng em ân hận quá. Ai đời mấy năm thầy trò không gặp nhau, chúng em chẳng đi vào Đà Nẵng thăm thầy thì chớ, thầy ra đây tìm chúng em, chúng em mời thầy đi nhà hàng Tình Nghĩa, thế mà Nguyễn Xuân dám “mắng” thầy. Thật chả ra

làm sao. Chợt chúng em cười ồ với nhau và bảo phải đi tìm thầy ngay. Bốn mươi năm xa nhau, quả nhiên thầy vẫn là thầy của chúng em. Thưa thầy điều thầy dặn chúng em lúc chia tay, chúng em luôn phấn đấu để làm một con Người, một con Người viết hoa đúng như thầy dặn.
- Thầy cám ơn các em rất nhiều.
Năm thầy trò mải nói chuyện, quên cả thời gian. Gà gáy xôn xao xung quanh như nhắc mọi người đêm đã sắp qua, bình minh sắp tới, mà chuyện thì cứ như dòng nước sông đầy, không hề biết cạn.
Biết là đã đến lúc phải chia tay, Phan Linh giang rộng tay choàng lên vai bốn học sinh cũ:
- Thầy đã nói khi đêm rồi, giờ nhắc lại, còn một chữ tình đó, đừng bao giờ chúng ta quên nhé. Không có tình thì chẳng còn gì để nói với nhau.
Nhỏ, Đàn, Lệ, Dưng gật đầu lia lịa:
- Thưa thầy, chúng em nhớ ạ.
          Đêm cuối năm, 26 - 1 - 2008
           (19 - Chạp - Năm Đinh Hợi)

NGUYỄN QUANG HÀ
(nguồn: TCSH số 231 - 05 - 2008)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG TRỌNG ĐỊNHPhòng giam chật chội, tối tăm...  Gần trần có một lỗ thông hơi. Bên ngoài lỗ thông hơi là bức tường tôn xám xỉn. Khe hở dài chừng 10 mét, rộng chừng 3 tấc, nằm song song và gần sát với mặt đường bên ngoài. Đứng trong phòng giam, từ lỗ thông hơi nhìn qua khe hở của bức tường, chỉ có thể thấy những bước chân người đi.

  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.