Chuyện mèo xưa và nay

10:37 26/01/2010
ĐOÀN MINH TUẤN                     Tùy bútĐã từ lâu lắm, nhiều mùa xuân đã qua, nhà văn Đoàn Giỏi có cho tôi mượn cuốn sách rất hay viết về "chó và mèo trên thế giới" của hai tác giả người Pháp Marlyse et Frange.

Nhà văn Đoàn Minh Tuấn (trái) thời trẻ cùng Nguyễn Tuân - Ảnh: vietvan.vn

Hai ông đã sưu tầm, tìm hiểu qua nhiều sách vở, tranh ảnh nhất là qua bác sĩ Piorre Roussel et Blanc Chủ tịch câu lạc bộ mèo ở Paris (Cat Club de Paris). Những điều cần thiết về giống mèo qua ghi chép ở sổ tay, nay chờ đến năm con mèo mới có dịp mở ra để bạn đọc vui xuân.

Có truyền thuyết cho rằng vào một thời kỳ rất xa xưa, thời kỳ của những trận đại hồng thủy mà sau này chỉ thấy ghi trong kinh thánh: Trong cơn giận dữ thượng đế không để một ai thoát khỏi cảnh lụt lội trừ một tộc trưởng duy nhất là Noé.

Một mình đơn độc trên tàu suốt 40 ngày đêm giữa mưa bão khủng khiếp, ngay lúc đó Noé lại phải chống với tai ương đáng sợ: đó là loài chuột cắn phá dưới tàu. Đầy vẻ thất vọng ông đi tìm sư tử, chưa tể các loài vật và yêu cầu giúp đỡ. Xúc động trước cảnh khốn cùng của Noé, Sư tử nhìn ông và hắt hơi từ lỗ mũi khổng lồ chui ra hai con sư tử thu nhỏ. Đó là hai con mèo đầu tiên dưới trần thế. Chuyện về Noé có nhiều trong thi ca, trong sách vở: ở Trung Đông và nhất là ở Ai Cập là nơi đầu tiên xuất hiện về mèo.

Mèo là con vật rất đẹp đẽ, hiền hậu được nhiều người ưa thích. Từ vua cho đến thứ dân, từ nhà nghệ sĩ, nhà thơ, diễn viên múa hát đến các tiểu thơ cả nhà chính trị, mọi người ở các tầng lớp đều ngưỡng mộ và yêu mến con vật bé nhỏ và xinh đẹp, coi nó như người bạn thân trong nhà.

Vào thế kỷ thứ VI, nhà tiên tri vĩ đại Mahomet đã rất coi trọng và vô cùng thương yêu con mèo cái Muezza của mình. Khi con Muezza của ông ngủ trên tay áo rộng, ông ngồi dậy không muốn làm mất giấc ngủ của con vật yêu mến, nên ông đã tự cắt tay áo trong bộ y phục đắt tiền của mình. Và chính con mèo Muezza đã trả ơn chủ bằng tấm lòng tôn kính đặc biệt với sự âu yếm của đôi chân vuốt nhẹ nhẹ. Đức Hồng Y giáo chủ Richelieu (1585 - 1642), một con người đầy quyền uy, thượng thư, người sáng lập ra Hàn Lâm viện Pháp đã dành một căn phòng rộng lớn trong triều đình để nuôi mèo. Bà Rita ái thiếp của ông có được đặc quyền trông nom những "tác phẩm" sống này. Và người ta còn xì xào to nhỏ rằng không có thú vui nào hơn làm cho giáo chủ thỏa mãn bằng xem những con mèo của ông đã vờn các bộ tóc giả của các vị trong viện Hàn Lâm khi đến gặp Richelieu. Sau ông ta nhà văn Chateaubriand(1768 - 1848) cũng đã dành những tình cảm mãnh liệt của mình cho con vật bé nhỏ thân yêu này. Bạn bè của ông cho biết rõ sở thích của ông và giáo hoàng Léon XII (1760 - 1829) cũng rất mực thương yêu giống mèo. Nhà văn Victor Hugo đã đóng một cái ngai nhỏ cho con mèo đực Chanoine. Và Alexandre (1762 - 1866) đã cho xây ở Mote Criste một vườn bách thú và trong đó còn nuôi thêm 12 con chó và một triều đại mèo lấy tên là "Mysouff".

Gần với thời chúng ta hơn Jean Costeau (1889 - 1963), nhà văn của thiếu nhi, nữ văn sĩ Gabile Collete (1873-1954), Paul Leautand (1872-1956). Marcel Jouhandeau 1888 - nhà văn thứ nhất chuyên viết chuyện thần bí và châm biếm Pháp đều đã yêu mến và viết về giống mèo để lại cho hậu thế những trang sách hay về con vật nhỏ nhắn dễ thương này.

Dĩ nhiên giống vật nhỏ bé này không chỉ đem đến cho người những tình cảm mến yêu mà còn có khi phẫn nộ ví như hoàng đế Charle IX và vua Henri đệ tam chỉ cần thấy mèo là ngất xỉu. Ngay Ronsard đã diễn tả lòng căm ghét ghê tởm trong thơ ông về loài mèo. La Fontaine đã gắn cho mèo những vai trò hết sức xấu vào trong truyện ngụ ngôn của ông. Những chàng Tatuffes nịnh hót tượng trưng cho thói đạo đức giả và bản chất bản thỉu, xấu xa cũng được đội lốt mèo.

Nhà danh họa Nhật Foujita đã trả lời, khi có người hỏi ông tại sao ông chỉ vẽ phụ nữ vào mèo, Foujita đã nói: "Đó chẳng phải là một sao? Khác chăng chỉ có cái đuôi và bộ ria". Bởi vì các vũ nữ dịu dàng ở Nhật đều có tên gọi rất dễ thương là "Necho". Necho có nghĩa là loài mèo. Vì phụ nữ và mèo đều rất dễ yêu - nhưng cũng rất dễ sợ vì móng nhọn - ý của người viết.

Hơn hai thế kỷ qua dân Huron - Huron là hồ lớn ở Bắc Mỹ 60.000 km giữa Mỹ và Ca-na-da - đã rất ngạc nhiên khi thấy từ bến sông người Pháp dỡ hàng lên với món quà rất lạ lùng: Cha Sagard tặng thủ lĩnh người Huron một đôi mèo giống bình thường, một loài thú lạ lúc bấy giờ hoàn toàn không được biết đến ở Châu Mỹ - lục địa mới này - được biết viên chức Pháp tội nghiệp đó bị dân bản xứ đón tiếp rất lạnh nhạt và đầy vẻ khinh bỉ. Họ không biết lợi ích của giống vật nhỏ nhắn này, đã để chúng chết. Sau đó người Huron đâu có ngờ vào năm 1749 ở bang Pensy Ivanli bị nạn chuột hoành hành dữ dội và bị đẩy lùi nhờ giống mèo, nên người Mỹ đã phải trao giải thưởng vàng cho loài mèo, con vật trước đây bị khinh rẻ.

Nhiều nhà văn nước ta đã viết nhiều truyện về mèo; Tô Hoài: "Con mèo lười", Nguyễn Đình Thi: "Cái tết của con mèo", Nguyễn Quang Sáng: "Con mèo và anh học trò lười"... Chuyện tốt gán cho mèo, chuyện xấu cũng đổ cho mèo, như chuyện khỉ và mèo của La Fontaine mô tả thói xấu ăn vụng của mèo. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết: Ra tuồng mèo mả gà đồng - mèo ở mả, gà ở đồng không về nhà, chỉ những hạng người vô lại không có căn cứ vì đó là những kẻ trốn chúa, lộn chồng.

Chắc các bạn đã từng nghe qua giống mèo Pells Mamut hoặc mèo Pallas tên của một nhà tự nhiên học người Đức đã khám phá ra vào năm 1778 có lẽ một trong loài mèo rừng cổ ở Châu Á. Người ta vẫn thường khi gặp nó ở Iran, Mông Cổ, Trung Quốc... nó tự nuôi sống bằng chim, chuột và các loài gậm nhấm. Màu vàng đậm gần như nâu, mắt được viền trắng và đen, đuôi có một túm lông màu sậm, sống hoang dã. Có lẽ đó là tổ tiên loài mèo Châu Á.

Trong các đền chùa, miếu cổ ở ta, ít có tượng mèo, chỉ có ở Ba Tư,Ai Cập có tượng đồng cổ vào những thời đại xa xưa.

Félis Sylyestris mèo rừng Châu Âu, dẫu rằng sắp bị tiêu diệt người ta thỉnh thoảng vẫn gặp trong các khu rừng ở Pháp. Cũng đừng lẫm lẫn nó với loài harét đơn thuần là giống gia súc đã trở về cuộc sống tự do. Loài Felis Sylestris mập hơn mèo nhà nhiều, cân nặng trung bình khoảng từ 10 - 12 kg. Đôi mắt rất xa nhau và gần như nằm ngang trên cái đầu to tướng nặng nề. Đuôi ngắn hơn mèo thường lông rất xù xì, trên lưng dọc cột sống có vệt đen dài. Người ta thường gặp rất nhiều mèo hoang ở rừng Sologne, trong thung lũng cao Auvergne và vùng núi Alpes, chúng tự sống bằng cách bắt chim bắt cá, bắt loài bò sát, côn trùng, bắt cả rắn, thằn lằn. Vào năm 1945 một bộ trưởng Pháp bị chết vì loài mèo hoang nên đã kiến nghị Hội đồng tối cao về săn bắn quyết định những con mèo được tìm thấy ngoài khu vực dân cư 200 mét thì coi là mèo hoang và có thể bị bắn chết. Hội bảo vệ súc vật cho rằng kết quả của kiến nghị này coi như là giả tạo, vì nó có mục đích bảo vệ loài chim. Sau cuộc thảo luận sôi nổi Hội đồng nhà nước Pháp bác bỏ kiến nghị trên và vẫn bảo vệ giống mèo hoang.

Có một chuyện vui: Trong một chương trình truyền hình ở Pháp Abdre Malraux đã kể về trận đánh Azineourt giữa quân Anh và Pháp ngày xưa, vai trò giữa mèo và chuột vẫn quan trọng. Hồi ấy, người ta vẫn tin rằng trong trận Azineourt quân Pháp thất bại bởi vì mưa bão làm ướt hết bản đồ chiến sự. Trong khi đó quân Anh đã giữ được bản đồ tiến công của họ trong chiếc hộp không thấm nước, nên đã chủ động và chiến thắng. Nhưng gần đây một số tài liệu của Anh đã khám phá kể rằng, khi quân đội vào vị trí chiến đấu, trời mưa cả đám chuột dồn lên mặt đất. Lúc bấy giờ quân Anh có cả mèo đi theo, lũ chuột thấy hơi mèo quay trở lại quân Pháp. Thời ấy vũ khí chính là cung tên. Những dây cung của Pháp vừa được bôi mỡ, được dịp chuột cắn nát cả dây cung, thế là quân Pháp thua trận. Các bạn có biết Paris có bao nhiêu mèo không? Số mèo là 12 triệu con, nhiều hơn người dân sống ở thủ đô này. Tôi cũng có người bạn gái tuổi Mẹo rất sợ mèo, mỗi lần đến nhà ai có mèo là bạn ấy co cả hai chân lên bàn. Trái lại tôi lại rất thích nuôi mèo, cả đời tôi, chỉ riêng từ năm ẤT MÃO 1975 đến nay đã nuôi ít nhất là 20 con mèo. Nó bỏ đi theo tiếng gọi của "tình yêu" hoặc các quán "tiểu hổ" "bắt cóc"... tội nghiệp!

Chuyện về mèo - của năm con mèo - gợi ta nhớ chuyện mèo năm nào tháng 4 - 1975 - năm giải phóng miền . Năm Ất Mão năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc một cách chói lọi. Và các nhà điện ảnh Cu Ba đã cho ra đời bộ phim tài liệu "Tháng Tư năm Ất Mão" nổi tiếng. Năm nay Kỷ Mão 1999 năm cuối của thế kỷ 20, năm mà nước ta đã bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ta tin rằng nó sẽ đi vào lịch sử xây dụng đất nước giàu đẹp của ta một cách rực sáng.

Mùa xuân năm Kỷ Mão - 1999 nầy là chẵn 10 năm ngày mất của Đoàn Giỏi. Nhớ anh ghi lại chuyện Mèo coi như một nén hương tưởng niệm một nhà văn sinh thời rất quý yêu thiên nhiên, cây cỏ súc vật nhất là Mèo!

Bến Nghé năm Kỷ Mão
Đ.M.T
(120/02-99)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGGhi chép 1.Tôi tự đặt ra một “hạng mục” đinh cho chuyến đi thực tế sáng tác ở A Lưới lần này, và hạ quyết tâm thực hiện bằng được, đó là: phải lên được Đồi Thịt Băm!

  • LGT: Liên Thục Hương là một nhà văn Trung Quốc đương đại, tự ví mình là con mèo đêm co mình nằm trên nóc nhà, nhìn cuộc sống thành phố tấp nập đi qua đáy mắt. Liên Thục Hương còn ký bút danh Liên Gián, có số lượng bản thảo lên tới hơn hai triệu chữ. Năm 2003, “Bài bút ký đầy nước mắt” đã được post lên mạng và năm 2004 nó đã được dựng thành phim và bộ phim ngắn này làm tiền đề cho tác phẩm điện ảnh đoạt giải thưởng của Trung Quốc. Sông Hương xin giới thiệu câu chuyện này qua bản dịch của nữ nhà văn Trang Hạ.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNAnh em Nguyễn Sinh Khiêm - Nguyễn Sinh Cung sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ trên đường Đông Ba. Ngôi nhà giản dị khiêm tốn nằm lui sau cái ngõ thông với vườn nhà Thượng thư bộ Lễ Lê Trinh. Nhưng chỉ cần đi một đoạn ngang qua nhà ông Tiền Bá là đến ngã tư Anh Danh, người ta có thể gặp được các vị quan to của Triều đình.

  • BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.

  • PHONG LÊTrong dằng dặc của giòng đời, có những thời điểm (hoặc thời đoạn) thật ấn tượng. Với tôi, cuộc chuyển giao từ 2006 (năm có rất nhiều sự kiện lớn của đất nước) sang 2007, và rộng ra, cuộc chuyển giao thế kỷ XX sang thế kỷ XXI là một trong những thời điểm như thế. Thời điểm gợi nghĩ rất nhiều về sự tiếp nối, sự xen cài, và cả sự dồn tụ của hiện tại với quá khứ, và với tương lai.

  • XUÂN TUYNHĐầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, tên tuổi của Lê Thị K. xuất hiện trên báo chí được nhiều người biết tới. K. nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Với các bài thơ: “Cỏ”, “Gần lắm Trường Sa” v.v... Nhiều nhà phê bình, nhà thơ không tiếc lời ngợi khen K.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ 160 chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời mình, các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đã “cũ”.

  • NGUYỄN NGUYÊN ANChúng tôi đến Đông trong những ngày cuối hạ. Thị trấn Khe Tre rực rỡ cờ hoa long trọng kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Sau bão số 6 năm 2006, tôi lên Nam Đông, rừng cây hai bên đường xơ xác lá, hơn 700 ha cao su gãy đổ tơi bời và hơn 3.000 ngôi nhà bị sập hoặc tốc mái, đường vào huyện cơ man cây đổ rạp, lá rụng dày mấy lớp bốc thum thủm, sức tàn phá của bão Xangsane quả ghê gớm!

  • Trang Web văn học cá nhân là một nhu cầu tương thuộc giữa tác giả và độc giả của thời đại thông tin điện tử trên Internet. Hoặc nói cách khác, nó là nhu cầu kết nối của một thế giới ảo đang được chiếu tri qua sự trình hiện của thế giới đồ vật.So với đội ngũ cầm bút thì số lượng các nhà văn có trang Web riêng, nhất là các nhà văn nữ còn khá khiêm tốn nhưng dù sao, nó cũng đã mở thêm được một “không gian mạng” để viết và đọc cho mỗi người và cho mọi người.

  • NGUYỄN NGỌC TƯSinh năm 1976. Quê quán: huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà MauNguyễn Ngọc Tư từng đạt nhiều giải thưởng trung ương và địa phương. Trong đó, truyện vừa Cánh đồng bất tận (giải thưởng Hội Nhà văn Việt ) đã được chuyển ngữ qua tiếng Hàn Quốc. http://ngngtu.blogspot.com

  • VÕ NGỌC LANThuở nhỏ, tôi sống ở Huế. Mỗi lần nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tôi vẫn gọi đó là ký ức xanh.

  • TÔN NỮ NGỌC HOATôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.

  • TRẦN HẠ THÁPThời gian tuôn chảy vô tình. Con người mê mải cuốn theo dòng cho đến khi nhìn lại thì tuổi đời chồng chất… Ngày thơ dại đã mịt mờ trong kỷ niệm. Mặt trăng rằm tỏa rạng còn đó nhưng dường như không còn là màu trăng xưa cũ. Thứ ánh sáng hồn nhiên một thuở mang sắc màu kỳ diệu không thể nào vẽ được. Dường như chưa trẻ thơ nào ngước nhìn trăng mà sợ hãi.

  • TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…

  • MAI TRÍHễ có dịp lên A Lưới là tôi lại đến thăm gia đình mẹ Kăn Gương. Song, lần này tôi không còn được gặp mẹ nữa, mẹ đã đi xa về cõi vĩnh hằng với 6 người con liệt sỹ của mẹ vào ngày 08/01/2006.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCNếu cắt một lát cắt tương đối như cơ học trong hành trình trùng tu di tích, cắt thời gian dương lịch của năm 2007, sẽ thấy đây là năm mà người ta nhận ra di sản Huế đang mỉm cười từ trong rêu cỏ dẫu đây đó vẫn còn có nhiều công trình đang thét gào, kêu cứu vì đang xuống cấp theo thời gian tính tuổi đã hàng thế kỷ.

  • NGUYỄN QUANG HÀBấy giờ là năm 1976, đất nước vừa thống nhất. Bắc trở về một mối. Người miền Bắc, miền xôn xao chạy thăm nhau, nhận anh em, nhận họ hàng. Không khí một nhà, vui không kể xiết.

  • HÀ VĂN THỊNH Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quãng thời gian ở Huế không phải là ngắn. Lần thứ nhất, từ mùa hè 1895 đến tháng 5 - 1901 và lần thứ hai, từ tháng 5 - 1906 đến tháng 5 - 1909. Tổng cộng, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (NTT - tên được đặt vào năm 1901) đã sống ở Huế 9 năm, tức là hơn 1/9 thời gian sống ở trên đời. Điều đặc biệt là, bước ngoặt quyết định của NTT đã diễn ra ở Huế; trong đó, việc tham gia vào phong trào chống thuế có ý nghĩa quan trọng nhất.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNVào những năm 1950 đến năm 1954, tại khu rừng Khuổi Nậm, Tân Trào. Ở chiến khu Việt Bắc, người ta thấy một cán bộ khoảng trên dưới 40 tuổi, người tầm thước, nói giọng Nghệ trọ trẹ, thường có mặt ở các cuộc họp quan trọng của Chính phủ kháng chiến để làm thư ký tốc ký cho Trung ương và Hồ Chủ tịch.