LTS: Kỷ niệm 150 năm ngày sinh của chí sĩ Phan Bội Châu, Sông Hương được tiếp cận với bản thảo “Vụ án Phan Bội Châu năm 1925: Hồ sơ thẩm vấn”. Đây là nguồn tư liệu quý, nằm trong tập Bổ di II lần đầu được công bố về vụ án chí sĩ Phan Bội Châu.
Ảnh: internet
Qua Hồ sơ thẩm vấn, 1.997 câu hỏi của Hội đồng xét xử của Tòa Đề hình đã làm việc hàng ngày, vào buổi sáng và buổi chiều liên tục thẩm vấn Phan Bội Châu từ ngày 29/8/1925 đến ngày 9/11/1925 cho thấy sự gắt gao, đầy o bế của chính quyền thuộc địa trong việc cố khép tội cụ Phan Bội Châu về những hành động cách mạng, yêu nước và chống lại chính phủ Bảo hộ. Nhiều nhân vật trong Hội đồng Đề hình thay nhau hỏi cung, đưa ra nhiều bằng chứng chống lại cụ Phan Bội Châu do Sở Mật thám và Sở Toàn quyền Đông Dương cung cấp, cho thấy hệ thống mật thám của Pháp đã kỳ công, can thiệp, nắm thông tin từ nhiều nguồn, hòng buộc cụ Phan phải nhận tội. Tuy nhiên, với năng lực phán đoán, sự thông minh, sắc sảo và khả năng nắm bắt tâm lý, xử lý thông tin, nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu đã nhận ra những bẫy chông trong các câu hỏi, bản cung thẩm vấn và lèo lái vấn đề sang những hướng khác khiến Hội đồng Đề hình “chóng mặt” như đi vào đường “dê lộ kỳ”, không nhận được đâu là sự thật, đâu là hư cấu. Cụ đánh lạc hướng, “khai man” để bảo vệ các đồng chí của mình cũng như đại cuộc cách mạng đang lên, bảo toàn sức chiến đấu và ý chí quật cường của dân tộc. Điều cốt yếu, cụ Phan Bội Châu đã thể hiện tinh thần yêu nước của kẻ sĩ, bằng mọi giá phải cứu nguy dân tộc khỏi vòng nô lệ, là minh chứng sự khí khái của một nhà Nho ái quốc, bất khuất trước miệng sói kẻ thù. Cả cuộc đời, sự nghiệp của chí sĩ Phan Bội Châu được soi lại trong Hồ sơ thẩm vấn theo cách nhìn “xử tội” của người Pháp nhưng lại là ngọn đuốc chỉ dẫn thêm nhiều trang tư liệu bị bỏ ngỏ về cuộc đời danh nhân Phan Bội Châu.
Phàm lệ rằng, Hồ sơ thẩm vấn sử dụng nhiều ký hiệu để hỏi cung theo thứ tự và chức trách người thẩm vấn, để tiện tra cứu chúng tôi chỉ chọn 2 nhân xưng là Người thẩm vấn (NTV) và người bị thẩm vấn là cụ Phan Bội Châu (PBC); các đề mục nội dung thẩm vấn là chúng tôi thêm vào và sắp xếp theo thứ tự nhóm nội dung thay vì thứ tự các ngày tháng thẩm vấn.
“Vụ án Phan Bội Châu năm 1925: Hồ sơ thẩm vấn”, Nxb. Thanh Niên, Công ty TNHH Văn hóa Đông Tây dự kiến sẽ xuất bản vào cuối năm 2017. Đây là tâm huyết sưu tầm công phu cũng như sự hiệu đính và giới thiệu của GS. Chương Thâu, người dành cả đời nghiên cứu về danh nhân Phan Bội Châu với hàng chục công trình có giá trị. Bản dịch thuật nghiêm túc, cẩn trọng của hai dịch giả Đào Hùng và Đặng Công Toại, cũng như sự sao chụp từ thư viện quốc gia Pháp do công cô Nguyễn Phương Ngọc (Pháp) với 440 trang tư liệu đã mang Hồ sơ thẩm vấn đến với người đọc một nội dung toàn vẹn nhất.
Được sự đồng ý của GS. Chương Thâu và sự hợp tác của nhà thơ Đặng Thiên Sơn (BTV, đại diện Công ty TNHH Văn hóa Đông Tây). Sông Hương chân thành cảm ơn GS. Chương Thâu, các cộng sự và Công ty TNHH Văn hóa Đông Tây đã tạo điều kiện để Sông Hương tiếp cận bản thảo thực hiện Chuyên đề PHAN BỘI CHÂU - BẢN LĨNH YÊU NƯỚC. Trân trọng giới thiệu đến bạn đọc một số trích đoạn trong tập hồ sơ quý giá này.
Ban Biên Tập
(TCSH346/12-2017)
Tải mã QRCode
Tháng Bảy âm. Tháng cô hồn. Mồng một âm đã rả rích mưa báo hiệu cho một tháng âm u của Tiết Ngâu. Sắp rằm, tâm trí chợt như hửng ấm khi tiếp được cái giấy Hà Nội mời dự lễ khánh thành nhà bia và Khu tưởng niệm đồng bào ta bị chết đói năm 1945. Chợt nhớ, công việc này đã manh nha từ hơn mười năm trước…
LTS: Nguyễn Hưu, bút danh Thanh Minh, sinh năm 1914, quê huyện Can Lộc, hoạt động báo chí và văn học từ những năm 1934 - 1935. Ông là nhà báo, nhà thơ, dịch giả Hán - Nôm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà quản lý văn hóa văn nghệ có nhiều thành tựu và cống hiến. Ông là Hội trưởng Hội văn nghệ Hà Tĩnh đầu tiên. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông [21.8], VHNA sẽ lần lượt đăng một số bài viết về ông.
Vùng quê nghèo chúng tôi nằm sát chân núi Hồng Lĩnh có Hàm Anh (nay là xóm 1 xã Tân Lộc) từng sản sinh ra một Tiến sĩ xuất thân Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) (1499) đời Lê Hiến tông tên là Phan Đình Tá (1468-?)
HỒ DZẾNH
Hồi ký
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
NGUYỄN DU
LÝ HOÀI THU
Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.
PHẠM THỊ CÚC
(Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)
Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.
CAO THỊ QUẾ HƯƠNG
Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.
THÁI KIM LAN
Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.
Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?
Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.
Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.
DƯƠNG PHƯỚC THU
LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.
NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN
(Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)
BÙI KIM CHI
Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…
LÊ MINH
Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)
… Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.
NGUYỄN KHOA BỘI LAN
Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.
(SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.
NGUYỄN CƯƠNG
Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.