Chuyện của Pipa (phần 2)

15:51 06/06/2008
(tiếp theo phần 1)

LaoFu bắt đầu nói: – “Bố cháu và mẹ cháu là hai kẻ mồ côi của làng. Chẳng ai sắp xếp cuộc hôn nhân của họ cả. Khi họ lấy nhau đó là một cuộc hợp hôn của tình yêu”.
Lão làm một miếng mì đầy và tiếp tục. Bố tôi, lão nói, là một người thông minh và nhân hậu. Ông đã bỏ ra hàng năm trời để học đọc và những lúc rỗi rãi ông thường ngồi và mơ mộng trước tách trà của mình. Còn mẹ tôi là một người khôn khéo và mạnh mẽ. Bà ấy không khi nào nghỉ. Bà ấy có một biệt tài mà cả làng đều biết rõ. Nếu vật gì đó bị mất thì hầu như mẹ tôi đều có thể tìm lại được. Ở trên núi bà hiểu rõ trật tự của tạo hóa và kiếm được nhiều rễ sâm hơn bất cứ người nào khác. Bà là người đề xướng rằng bố tôi và bà ấy có thể tăng thêm thu nhập bằng cách đi tìm sâm. Xiao Niou và LaoFu đã đồng ý giúp đỡ họ.
– “Có một chuyện” – LaoFu nói – “Có lẽ vì bà ấy tin chắc”. – mẹ cháu đã đánh giá thấp Xiao Niou. – “Hắn ta là một người tàn nhẫn, đầy tham vọng, một kẻ luôn muốn mình là tuyệt nhất trong mọi việc. Và càng để ý tới mẹ cháu bao nhiêu hắn càng muốn bà ấy bấy nhiêu. Hắn thèm khát bà ấy. Hắn muốn ngăn chặn những việc làm và ý nghĩ kiên định của bà ấy; hắn muốn bà ấy chỉ nghĩ và làm mọi việc vì hắn”.
– “Mẹ cháu không đẹp nhưng bà ấy đầy sức sống đến nỗi không thể làm ngơ được. Bà ấy biết Xiao Niou thèm muốn mình nhưng bà ấy cho rằng bà ấy có thể chế ngự được hắn. Điều đó càng kích thích Xiao Niou cho đến khi hắn không thể chịu đựng được nữa”.

Vào một ngày mùa thu đầy mây mù, cả bốn người đều đi tìm sâm. Ban đầu họ tìm kiếm cùng nhau. Suốt buổi sáng Xiao Niou luôn để mắt đến mẹ tôi. Sau bữa ăn trưa, mẹ tôi đề nghị họ chia nhau ra đi tìm ở các nơi khác nhau. Và Xiao Niou đề nghị hắn và bố tôi đi cùng với nhau.
Buổi trưa hôm đó sương mù dày đặc đến nỗi mẹ tôi và LaoFu làm việc gần sát chỗ nhau mà rất khó nhìn thấy nhau. Không gian rất yên tĩnh. Con đường mòn hầu như không thể nhìn thấy; cây cối và đá núi trông giống như hình người hay hình thú rừng vậy. Nếu không vì mẹ cháu, LaoFu nói, họ đã không tìm thấy đường xuống núi trở về làng.
Khi họ về đến làng, mẹ tôi đã đợi bố tôi và Xiao Niou trở về. Bà nhóm lửa và nấu bữa tối. Nhưng cả hai đều không trở về. Bà bắt đầu lo lắng. Cuối cùng khi làn sương màu xám đã chuyển thành màu đen kịt, Xiao Niou mới đứng trước cửa nhà tôi.
– “Dangbei đâu?” –  Xiao Niou hỏi.
– “Anh nói cái gì vậy?” – Mẹ tôi hỏi. – “Tôi nghĩ là anh ấy đi cùng với anh kia mà”.
– “Anh ấy về rất sớm” – Xiao Niou nói với bà ấy – “Anh ấy quyết định trở về làng rồi cơ mà”.
Suốt đêm hôm ấy mẹ tôi đã ngóng đợi, nhưng bố tôi vẫn không trở về. Ngày hôm sau mẹ tôi lên núi tìm bố. Bà ấy tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không tìm thấy bố tôi đâu cả. Cuối cùng mọi người trong làng bắt buộc mẹ tôi phải ở nhà vì bà ấy đang mang thai tôi. Mùa đông đã đến.
– “Mẹ cháu đã than khóc suốt mùa đông đó” – LaoFu nói: – “Bà ấy chỉ nói chuyện với tôi và Xiao Niou. Xiao Niou cầu xin bà lấy hắn, nhưng bà ấy từ chối bàn luận về bất cứ điều gì cho đến khi tìm thấy xác bố cháu. Mùa xuân đó, ngay trước khi cháu chào đời, dân làng đã tìm thấy xác bố cháu dưới đáy vực, nằm giữa bụi Thạch anh hồng. Sau khi sinh, mẹ cháu cứ nhất định đi lên núi đến chỗ mà người ta tìm thấy thi thể bố cháu”.
– “Còn đây mới là điều bí mật”– LaoFu nói – “Mẹ cháu chỉ nói với mình bác. Sau khi nhìn thấy nơi mà người ta tìm thấy thi thể bố cháu, bà ấy cầm chắc rằng bố cháu không tự đi đến đó. Nếu cả hai người cùng đào sâm ở chỗ mà Xiao Niou đã mô tả thì bố cháu đã không thể chết ở nơi mà người ta tìm thấy thi thể của ông ấy”.
– “Làm sao mà bà ấy biết được ạ?” – Tôi nói – “Vào một ngày đầy sương mù như thế trên núi thì một người có thể đi lạc bất cứ đâu”.
– “Bác đã hỏi bà ấy, – “Tôi hiểu Dangbei.” – Bà ấy nói – “Anh ấy không bao giờ lạc ở đó được”. Và bác tin bà ấy. Bà ấy biết rõ từng ngọn núi. Bác cảm thấy mình thật ngốc nghếch và tức giận. Quá nhiều chuyện đã xảy ra ngay dưới mũi bác mà bác lại chả hiểu gì cả”.
Lão nhìn tôi. Tôi làm ngơ đi và cúi đầu ăn. “Ngày đó bác còn quá trẻ và bác ghét nhất là mình sai việc gì đó” – LaoFu nói.
– “Mùa hè năm đó, một lần nữa Xiao Niou lại cầu xin bà ấy lấy hắn. Bà ấy đã kết tội hắn đã giết Dangbei, và Xiao Niou đã bỏ làng ra đi. Hắn ta biến mất trong nhiều năm và khi chúng ta nghe tin về hắn thì hắn đã lấy tên là Wens”.
Sau chuyện đó mẹ tôi đã bắt đầu ngồi nghiền ngẫm trước bếp lò. Sau đó bà nói với dân du mục Miao và xin được học phép thuật của họ. Bà ấy không thể quên những gì mà bà ấy bị mất mát.
– “Còn bây giờ,” – LaoFu nói khi câu chuyện kết thúc và hai cái tô của chúng tôi đã rỗng, – “Khi bác trở về làng, mẹ cháu sẽ hỏi bác xem cháu có giữ lời hứa với bà ấy không”
Tôi nhìn lão. Lão cũng hướng về phía tôi; một sợi mì còn dính trên bộ ria của lão. Tôi cảm thấy nóng mắt vì bối rối và tức giận. Tôi cảm thấy như thể thế giới nội tâm của tôi đã bị phơi trần. Lão lại chụp cái bóng của bà ấy lên tôi lần nữa và tôi không thể tha thứ cho lão được.
– “Bác hãy để cho cháu yên!” – Tôi nói – “Bác hãy nói với mẹ cháu rằng cháu sẽ không giữ lời hứa với bà ấy đâu. Tất cả những chuyện đó chẳng là gì với cháu cả. Cháu đã đi xa và bà ấy không thể đụng chạm tới cháu được. Bà ấy không thể bắt cháu làm những gì mà cháu không muốn làm. Hơn nữa, bây giờ thì không thể được nữa rồi”.
Lão mím môi cau có. Lão gật đầu. – “Được rồi. Cháu cứ làm những gì cháu phải làm. Bác sẽ đến thành phố tuần tới”.
– “Bác đừng đến thăm cháu nữa!” – Tôi nói.
Trở lại nhà Wens, tất cả gia nhân đang chuẩn bị cho bữa ăn tối quan trọng. Tôi đi tìm Meisi. Tôi muốn nói chuyện với cô ấy, nhưng người quản gia thứ hai đã đưa cho tôi một đống giẻ, một ít dầu thơm và bảo tôi lau chùi các khung gỗ đóng ô trong phòng ăn và phòng khách.
Khi tôi đang lau chùi và đánh bóng, những ý nghĩ đột nhiên hiện ra trong đầu tôi. Mùi dầu thơm ngạt mũi làm tôi nhớ đến các thứ thuốc của mẹ tôi. Tôi nhớ khi mẹ tôi thái cây thuốc trên chiếc bàn gỗ trong căn nhà nhỏ của chúng tôi, nhớ nỗi buồn thăm thẳm hiện rõ trên nét mặt bà trong ánh lửa. Bà đã yêu bố tôi, người mà tôi chưa hề biết mặt, đến nhường nào. Bao năm nay tôi âm thầm tin rằng mục đích tìm cây cỏ làm thuốc của bà, lời nói của bà chẳng phải để giúp đỡ người khác mà chỉ là để giữ tôi ở bên cạnh bà. Bây giờ thì việc đi xa của tôi hình như cũng ăn khớp với một ý định khó hiểu nào đó. Tôi bắt đầu nhận thấy LaoFu đã đúng. Tôi còn trẻ và thế giới này thật là huyền bí.
Xong việc, tôi đi dọc căn phòng. Và lần đầu tiên tôi nhận thấy có điều gì đó kỳ quặc trong ngôi nhà của Wens. Tôi thấy một ngôi nhà rộng lớn với những người đàn bà và người hầu như một bằng chứng của niềm khao khát không bao giờ nguôi của ông chủ nó, niềm khao khát phá tan mọi sự cản trở và sau khi đạt được thì vứt bỏ chúng. Ngôi nhà dường như ẩm, lạnh và có điều gì đó không thể giải thích được, như thể nó đang che giấu cội nguồn của nó. Các phòng rất rộng và trống không: quá sạch, quá mới và quá lạnh lẽo. Tôi nhìn hàng tá người đang quét dọn, lau chùi dưới nhà như thể ở đó quá bẩn phải tẩy rửa.
Khi tôi bước vào phòng ăn, một miếng giẻ tuột khỏi tay tôi và rơi đánh cạch một tiếng xuống sàn gỗ. Tôi quỳ xuống để nhặt nó lên nhưng rồi tôi dừng lại, đứng dậy và nhìn chằm chằm vào miếng vải cotton xanh thô.
Chụp lấy miếng giẻ, tôi vọt ra và lao lên cầu thang. Tôi cần phải tìm Meisi, bạn tôi, và nói cho cô ấy biết điều gì đã xảy ra. Tôi cần phải nghe xem cô ấy sẽ nói gì. Tôi cần phải gặp cô ấy. Tôi chạy rầm rầm lên cầu thang, qua tầng hai và lên tầng nhà chủ ở.
Ánh sáng mờ nhạt từ mấy cửa sổ chiếu sáng tầng lầu. Trước đây, tôi chưa hề lên cao như thế này, nhưng tôi nhớ câu chuyện từ bàn ăn của gia nhân: bốn bà, mỗi bà ở một phòng riêng và phòng cuối cùng là phòng của ông chủ sát lối cầu thang riêng biệt thông ra cửa ngoài để ông chủ có thể ra vào bất cứ lúc nào. Mọi cánh cửa đóng im ỉm. Mùi xà phòng thơm quyện với mùi nước hoa sực nức. Tất cả họ phải chuẩn bị sẵn sàng cho bữa tiệc tối. Tôi không tìm thấy Meisi. Tôi nghe thấy tiếng vặn khóa cửa và sau đó một cánh cửa khác mở ra và đóng lại ngay tức khắc. Tôi trông thấy hai cánh cửa ở cuối hướng bắc, một trong hai cửa đó khép hờ. Tôi bước vội đến và chạy xộc vào. Meisi lao ra. Khi thấy mặt cô ấy, tôi lặng đi trong giây lát.
– “Có chuyện gì thế?” – Tôi hồi hộp hỏi.
Meisi hai tay bưng lấy mặt thổn thức: – “Ôi thật kinh khủng – Tớ phải đi khỏi đây! Tớ không thể làm việc ở đây được nữa”.
– “Chuyện gì xảy ra vậy?”– Tôi hỏi.
Hai tay ôm chặt lấy hông, Meisi chạy xuống phòng. Tôi lao xuống cầu thang, băng qua mấy người làm đang ngạc nhiên nhìn.
– “Meisi!”. Tôi chạy theo và khẩn khoản: “Hãy để tớ giúp cậu!”. Cô ấy lao vào phòng mà chúng tôi ở chung với vài người khác. – “Làm ơn để tớ giúp cậu đi.” – Tôi nói – “Cậu luôn tốt với tớ mà”.
– “Cậu có cái áo nào sạch không?” – Meisi khóc thút thít, hai tay vẫn ôm chặt trước ngực – “Áo của tớ đang giặt”.
– “Nó quá lớn”. – Tôi nói nhưng vẫn đưa cho cô ấy một cái. Meisi đưa tay đón lấy cái áo và tôi thấy cái áo cô ấy đang mặc bị rách toạc một mảng lớn. Meisi cởi cái áo bị rách của mình ra. Tôi thấy bốn vết tím xanh hình dấu tay trên tay cô ấy cùng với nhiều vết cào xước, thâm tím trên ngực Meisi.
Sau đó thì tôi biết tôi phải làm gì. Tôi tìm cái kéo và cắt hòn đá từ những miếng giẻ mà tôi vẫn cầm trong tay. Tôi chạy trở lên cầu thang, đi qua tầng hai và phòng thư viện và leo lên tầng ba. Cửa ra vào phòng của ông chủ vẫn khép hờ. Tôi bước tới cái giường lớn rủ trướng và giấu hòn đá vào trong đó. Khi tôi xuống phòng thì cả Meisi lẫn đồ đạc của cô ấy đã biến mất.
Tối đó tôi được yêu cầu giúp việc ở thư viện. Hai mắt tôi nhức nhối mệt mỏi. Tôi lục tìm sách ở chiếc kệ sách cao qua ánh sáng hắt lên từ lò sưởi.
– “Các anh nhầm rồi” – Tôi nghe thấy tiếng ông ta nói – “Họ sẽ không làm gì phương hại đến các anh và công việc của các anh đâu. Tốt hơn hết là các anh ở lại Trung Quốc và giữ những gì mà các anh đang có. Không ai nói trước được điều gì sẽ xảy ra nếu các anh bỏ chạy và để lại mọi thứ”.
Người đàn ông ngồi sát bên lò sưởi chẳng nói gì.
– “Họ chẳng bao giờ động chạm đến các ông đâu!” – Ông ta nói.
Một lát sau, một người trong số những người ngoại quốc ngồi trong phòng nói: – “Điều gì sẽ xảy ra với ông, hả ông Wens? Ông cất giấu tiền của mình ở đâu? Ông gửi ra nước ngoài được bao nhiêu?”.
– “Tôi đã nói với các anh rồi,”– Wens nói một cách tự tin: – “Làm sao mà họ có thể bạc đãi một người cùng giai cấp với họ được. Họ chẳng đụng đến tôi đâu”.
Cuối cùng thì tôi cũng tìm được cuốn sách mà ông ta cần, và ông ta cho phép tôi đi nghỉ. Khi tôi đi ra trong phòng vẫn yên ắng. Tôi xuống phòng, thay chiếc áo ngủ và leo lên giường. Khi tôi nhắm mắt lại tôi bỗng thấy mình nhẹ như một cọng rơm. Tôi bồng bềnh trên cao trong gió trên ngôi nhà rộng lớn của Wens và bay trở về nơi tôi đã ra đi. Tôi bay cao trên châu thổ sông Giang Tử xanh trù phú với những người dân chài và đồng lúa mênh mông, xuôi theo dòng sông rộng lớn cho đến khi nó hợp lại đổ xuôi theo dòng thác cuồn cuộn, sau đó tôi bay tiếp về hướng tây, về những ngọn núi của làng tôi. Đêm buông xuống; những ngôi sao lấp lánh trên đầu tôi. Khi tôi hạ xuống đất, không gian tràn ngập hương đất nồng ấm và hương hoa mận ngọt ngào. Tôi bước nhẹ nhàng theo con đường tối, băng qua cái giếng, đi về góc nơi có căn nhà nhỏ của mẹ tôi hơi chùng xuống.
Tôi nhìn qua cửa. Khuôn mặt bà hằn những nếp nhăn sâu, làn da nhợt nhạt; mái tóc dài màu muối tiêu xõa sau lưng. Bà ngồi bó gối trong ánh lửa trước vô vàn hình nhân nhỏ bằng giấy. Bà rì rầm những câu niệm chú, người đu đưa, thì thầm những âm thanh như hơi thở một lời nguyền vô tận. Tôi nhìn vào bếp lửa, than đỏ rực. Tôi nhìn qua cửa sổ cho đến khi hình ảnh của mẹ tôi nhạt nhòa trong khói.

Thỉnh thoảng vào khoảng nửa đêm tôi thường thức giấc vì tiếng súng. Đó là ngày Mười hai tháng Năm, quân đội Đỏ đã đánh chiếm Thượng Hải.
So với những sự kiện đã xảy ra ở Trung Quốc và trên thế giới thì câu chuyện của tôi là chuyện nhỏ và chẳng có gì thú vị cả. Nhưng đó là câu chuyện của riêng tôi. Giống như rễ sâm, quá khứ bị chôn vùi của chúng tôi có những khía cạnh khác nhau. Tôi không bao giờ còn gặp lại mẹ tôi được nữa. Sau khi LaoFu cứu tôi ra khỏi nhà Wens, tôi chạy trốn sang Đài Loan. Một năm sau tôi gặp một người đàn ông cùng làng và ông ta nói cho tôi biết những gì đã xảy ra ở đó: Quân đội Đỏ đã tiến đến làng tôi sau khi Thượng Hải thất thủ một vài tháng và mẹ tôi cũng đã chết.
Ở Đài Loan tôi làm việc cho một thư viện. Bây giờ thì tôi làm việc ở bộ phận sách Trung Quốc cho một Đại học lớn ở Mỹ. Tôi đã có chồng, có hai con và cả hai đều đang học đại học. Chúng tôi có một ngôi nhà nhỏ. Tôi không bao giờ giữ ngôi nhà quá sạch và cố gắng không làm cho con gái tôi sợ như mẹ tôi đã làm đối với tôi. Nhưng có những chuyện tôi không bao giờ quên được và những chuyện mà cả nhà tôi biết rằng họ đừng bao giờ làm. Đó là họ không bao giờ đốt lửa ở lò sưởi, thậm chí cả khi tôi không có mặt ở nhà hàng giờ đồng hồ, bởi vì mùi khói còn phảng phất sẽ làm tôi nhớ đến mẹ tôi.
Tôi hình dung thấy sự nghiền ngẫm quá khứ của bà và tôi nhận thấy rằng thật chẳng khôn ngoan chút nào khi nhìn lại quá lâu và quá sâu sắc về những gì đã qua đi. Nhưng tôi vẫn không thể không nhớ về Thượng Hải, về ngôi nhà của ông chủ Wens khi ngọn lửa tràn qua, thiêu hủy những tấm ván gỗ đắt tiền, những tấm màn cửa, phá vỡ những lá cửa sổ bằng kính và tro tàn bay lả tả trong đêm. Tôi cũng không thể không nhớ về Meisi, bạn tôi và sự nhân ái của cô ấy. Có những điều chúng ta nên quên, nhưng có những điều chúng ta không thể quên...
LINH CHI (Dịch từ The Best American stories – 1994)

LAN SAMANTHA CHANG
(nguồn: TCSH số 231 - 05 - 2008)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.

  • SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.

  • BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.

  • JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).

  • KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...

  • MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.

  • YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.

  • MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!

  • AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.

  • HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.

  • OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979  những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.

  • NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.

  • OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.

  • BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.

  • RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.