Chuyện cổ tích

09:31 22/05/2020

MARK TWAIN  

M. Twain (1835 - 1910) là nhà văn lớn của Mỹ, từng phải lăn lóc nhiều nghề lao động chân tay trước khi trở thành nhà văn, do đó văn của ông rất được giới lao động ưa chuộng.

Ảnh: internet

Ông sống lang bạt đồng thời cộng tác với nhiều báo từ khoảng 1857. Đến 1863 ông mới cho ra đời bút danh Mark Twain và ông nổi tiếng từ 1864 với truyện ngắn “The Celebrated Jumping Frog of Calaveras County” (Con ếch nhảy xa lừng danh Hạt Calaveras). Những tác phẩm lớn của ông mang đậm chất hài hước và châm biếm xã hội nhưng rất hấp dẫn đại chúng và cả trẻ em vì nhiều nhân vật chính của ông là thiếu niên, như Tom Sawyer (1876), Life on Mississippi (1883; Cuộc sống trên dòng Mississippi), và Huckleberry Finn (1884). Truyện ngắn sau cũng mang chất châm biếm ấy.   







Hơn nghìn năm trước, miền đất nhỏ bé này là một vương quốc, có thể gọi là một vương quốc tí hon. Cuộc sống ở đó giản dị, con người ở đó phong nhã, lúc nào nó cũng chìm trong cơn mộng thái bình, ở đó chẳng có điều xấu, chẳng có ghen tị, tham vọng, chả hề có sự bất hạnh nào trên đời.

Vào thời đó, ông vua già băng hà và hoàng tử nhỏ tên Hubert lên nối ngôi. Tình yêu của dân chúng dành cho cậu ngày càng tăng. Cậu thật là tốt, thật thuần khiết và cao quý đến nỗi tình yêu đó dần dần trở thành một đam mê và hầu như là tôn sùng. Vào lúc cậu ra đời, các nhà chiêm tinh đã nghiên cứu các vì sao và tìm ra mấy điều ghi trong sách thánh về chuyện này:

Năm Hubert mười bốn tuổi sẽ xảy ra một biến cố quan trọng, con vật có tiếng hát ngọt ngào nhất đối với Hubert sẽ cứu mạng Hubert. Nếu nhà vua và cả nước vinh danh con vật này vì công trạng lớn lao ấy thì triều đại lâu đời này sẽ tồn tại mãi, đất nước sẽ không bị chiến tranh, dịch bệnh hay nghèo đói. Nhưng hãy coi chừng nếu lựa chọn sai lầm.

Và suốt năm hoàng tử được mười ba tuổi, các nhà chiêm tinh, chính khách, cả cái nghị viện tí xíu và toàn dân nữa, chỉ bàn về một chuyện là: Câu cuối của lời tiên tri phải hiểu như thế nào? Những câu đầu thì có vẻ như con vật cứu tử đó sẽ xuất hiện đúng lúc cần thiết, nhưng câu cuối lại như nói rằng nhà vua phải chọn trước và tuyên bố giọng con nào làm ngài hài lòng nhất, nếu ngài chọn đúng, con vật được chọn đó sẽ cứu mạng ngài, và triều đại cùng thần dân của ngài nữa, nhưng nếu “lựa chọn sai lầm” thì… hãy coi chừng!

Đến cuối năm, những ý kiến về vấn đề này vẫn rối lên y như hồi đầu năm, nhưng đa số kẻ thông thái cũng như chất phác đều đồng ý rằng phương kế tốt nhất là cho vị tiểu vương ấy lựa chọn trước, và càng sớm càng tốt. Thế là tất cả những ai có con vật nào hót được đều nhận lệnh phải mang đến đại sảnh của hoàng cung vào buổi sáng đầu năm mới. Lệnh được thi hành ngay. Khi mọi sự đã sẵn sàng cho cuộc lựa chọn thì chàng vua mới long trọng giá lâm cùng các đại thần, tất cả đều mặc lễ phục. Nhà vua bước lên ngai và sắp sửa phán quyết. Nhưng lúc đó chàng lại truyền:

“Tất cả đều hót một lượt như thế thì ồn quá, làm sao chọn gì được. Hãy đem tất cả ra và đưa vào từng con một.”

Thế là từng con chim với giọng ngọt ngào kế tiếp nhau véo von bên tai vua và lần lượt được đem ra nhường chỗ cho con khác. Nhưng nhà vua thấy khó mà lựa chọn được, và còn khó hơn nữa vì việc chọn sai sẽ chịu hình phạt khủng khiếp khiến nhà vua không dám tin ở tai mình nữa. Chàng thấy bồn chồn và long nhan đượm vẻ u sầu. Các đại thần nhận thấy ngay vì họ không rời mắt khỏi nhà vua lấy một giây. Bây giờ họ tự nhủ: “Ngài đã mất tự tin, không còn bình tĩnh nữa, ngài sẽ sai lầm. Ngài, triều đại và thần dân của ngài sẽ diệt vong mất!”

Sau nhiều giờ, nhà vua ngồi bất động hồi lâu rồi phán: “Mang con sẻ lanh vào.”

Giữa tràng véo von của con sẻ, chàng đã toan giơ vương trượng lên như dấu hiệu lựa chọn, nhưng chàng chợt nghĩ lại và phán:

“Nhưng để an tâm, hãy đem chim hoét vào cho chúng cùng hót.”

Chim hoét được mang vào và cả hai cùng hót. Nhà vua ngẫm nghĩ, rồi ý quyết định rõ dần. Mọi người có thể thấy điều đó trên nét mặt chàng. Hy vọng hồi sinh trong tim các lão thần, nhịp đập của chúng dồn hơn, vương trượng đang từ từ giơ lên thì… Thật là một cú cắt ngang kinh hoàng! Đó là một âm thanh như thế này… ngay ở ngoài cửa điện:

“Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô!...”

Minh họa: NGÔ LAN HƯƠNG


Mọi người giật nẩy mình. Kế đó, một cô bé nhà quê xinh xắn, độ chín tuổi, chạy vào trong điện, đôi mắt ánh lên vẻ nhiệt tình trẻ thơ, nhưng khi trông thấy hàng ngũ quan lại và những bộ mặt giận dữ thì cô sựng lại và òa khóc. Chẳng ai chào đón cô, chẳng ai thương hại cô. Thế rồi cô ngước nhìn lên qua màn lệ và nói:

“Tâu đức vua, xin ngài tha tội vì tôi không có ý làm bậy. Tôi mồ côi cha mẹ, chỉ có một con dê và một con lừa. Chúng là tất cả của tôi. Con dê cho tôi sữa, còn con lừa này khi nó kêu lên thì tôi thấy chẳng có thứ âm nhạc nào bằng. Nên khi nghe nói con vật nào có giọng hót ngọt ngào nhất sẽ cứu được đức vua và cả nước, nên tôi mang tới đây…”.

Cả triều phá ra cười, cô bé khóc lóc chạy ra không nói tiếp được. Ông tể tướng ra lệnh đưa cô bé và con lừa ra khỏi hoàng cung.

Rồi cuộc lựa chọn tiếp tục. Hai con hót hay lắm nhưng vương trượng vẫn bất động trong tay vua. Dân chúng bên ngoài chờ đến phát điên lên. Hoàng hôn xuống, bóng tối phủ dần. Nhà vua và triều thần không còn nhìn rõ mặt nhau nữa, nhưng chẳng ai nói gì, chẳng ai thắp đèn. Cuộc lựa chọn có vẻ như đã thất bại. Mọi người muốn giấu mặt vào bóng tối và che kín nỗi lo lắng trong lòng.

Sau cùng… Nghe kìa! Một giọng hót tròn trịa sung mãn với âm điệu du dương ngọt ngào từ mãi cuối sân điện tràn vào. Giọng của con sơn ca!

“Đây rồi!” nhà vua kêu lên. “Rung chuông lên, báo cho mọi người biết ta đã chọn xong và ta không sai lầm. Ngôi báu, triều đại và toàn dân đã được cứu thoát. Từ phút này hãy vinh danh loài sơn ca. Bất kỳ ai coi thường hay làm đau một con sơn ca sẽ bị tử hình. Ta phán như thế.”

Cả cái vương quốc tí xíu đó uống say với niềm vui. Lửa hội bùng lên trước cung điện và trong thành phố suốt đêm. Người ta nhảy nhót, nhậu nhẹt và ca hát. Tiếng chuông không lúc nào ngưng.

Từ ngày đó, sơn ca trở thành loài chim thiêng. Nhà nhà lắng nghe nó hót. Các thi sĩ làm thơ ca tụng nó, các họa sĩ vẽ nó. Tượng nó mọc lên khắp nơi, trên các bức tường, cổng vòm và dinh thự. Nó còn được đưa vào Hội đồng Cơ mật và không một vấn đề quan trọng nào của đất nước được quyết định trước khi các nhà chiêm tinh đưa nó ra trước mặt con sơn ca hoàng triều, rồi chuyển dịch cho hội đồng biết con chim thiêng đã hót gì về vấn đề đó.

*

Vị vua trẻ rất ham săn bắn. Mùa hè đó, một ngày nọ, chàng rong ngựa đi săn với lũ chim ưng và bầy chó, cùng mấy tùy tùng. Trong một cánh rừng, chàng bị lạc. Chàng cứ nghĩ rằng tới đàng kia là gặp lại họ, nhưng đó chỉ là ảo tưởng. Chàng cứ phóng ngựa mãi, ban đầu còn đầy hy vọng, rồi sau cùng chỉ còn lại nỗi sợ hãi. Hoàng hôn đã xuống mà chàng vẫn một mình trên đất lạ.

Trong ánh sáng lờ mờ, chàng thúc ngựa nhảy qua một bụi cây mọc nhô ra bên bờ vực. Cả hai rơi xuống, con ngựa gãy cổ còn chàng thì gãy chân. Vị vua trẻ tội nghiệp đành nằm đó chịu đau, mỗi phút trôi qua dài như một tháng. Chàng lắng nghe xem có âm thanh nào mang lại hy vọng giải cứu không, nhưng chẳng có gì cả. Không một tiếng tù và hay chó sủa. Sau cùng, chàng không còn hy vọng gì nữa và tự nhủ, “Thôi, cứ mặc cho Thần Chết tới!”

Ngay lúc đó, có tiếng sơn ca hót ngọt ngào vọng tới.

“Thoát rồi!” nhà vua kêu lên. “Đây là chim thiêng và lời tiên tri đã thành sự thực. Chính thần thánh đã giúp ta khỏi lựa chọn sai lầm.”

Chàng không kìm nổi niềm vui. Chàng tưởng như có tiếng người giải cứu đang tiến tới. Nhưng mỗi giây phút qua là thêm thất vọng. Chả có cứu giúp gì cả, chỉ có con chim thiêng hót mãi. Chàng bắt đầu nghĩ mình đã chọn sai. Đến bình minh, chim thôi hót. Buổi sáng đến cùng cơn đói và khát nhưng chẳng ai tới cứu. Ngày thứ nhì qua đi. Sau cùng nhà vua nguyền rủa con sơn ca.

Ngay lúc đó, có tiếng hót của sẻ lanh vang trong rừng. Vua thầm nghĩ, “Đây mới là con chim đích thực. Mình chọn sai rồi, sẽ có người tới ngay thôi.”

Nhưng chẳng có ai đến. Chàng nằm bất tỉnh hồi lâu. Khi tỉnh lại, có tiếng chim hoét đang hót. Chàng lắng nghe, lòng đầy ác cảm. Niềm tin đã mất. “Bọn chim này,” chàng nghĩ, “chẳng được tích sự gì. Ta, dòng họ và dân tộc tiêu vong rồi.”

Chàng kiệt sức vì đói khát và đau đớn, rồi thấy cái chết gần kề. Thực tình chàng cũng mong được chết. Nhiều giờ qua, chàng nằm đó, không suy nghĩ, cảm giác hay cử động. Rồi chàng tỉnh lại. Bình minh của ngày thứ ba đã rạng. Ôi, thế giới như vô cùng xinh đẹp trước mắt chàng. Đột nhiên, lòng khát sống nổi lên dữ dội, chàng muốn thấy lại hoàng cung và bè bạn một lần nữa. Ngay lúc đó chợt vọng lại một âm thanh mỏng manh, xa xôi. Mà ôi! Sao nghe nó ngọt ngào dịu dàng vậy.

“Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô!...”

“Ôi! Tiếng hót ngọt ngào, ngàn lần ngọt ngào hơn lũ sơn ca sẻ lanh hay chim hoét, vì nó không chỉ mang lại hy vọng mà còn mang lại sự cứu giúp. Mạng của ta và thần dân ta sẽ được cứu vớt.”

Âm thanh tuyệt vời ấy cứ tới gần, ngày càng rõ và ngọt ngào hơn với đôi tai của kẻ đang khốn khổ. Con lừa nhỏ xuất hiện. Nó thấy xác con ngựa và nhà vua. Nó bước tới ngửi loanh quanh, chỉ vì tò mò thôi. Nhà vua vỗ lưng nó và nó nằm phục xuống như mỗi lần cô chủ nhỏ muốn leo lên lưng nó. Dù hết sức đau đớn và khó khăn, vị vua trẻ vẫn bò được lên lưng nó. Con lừa vừa đi vừa kêu và mang chàng vua về lều cô bé nhà quê. Cô dọn giường, vắt sữa dê cho chàng rồi chạy đi báo tin cho nhóm tìm kiếm cô gặp đầu tiên trên đường.

Nhà vua khỏe lại. Việc đầu tiên là chàng tuyên cáo rằng con lừa là linh vật, thứ nhì là đưa ngay con lừa cứu mạng ấy vào hội đồng cơ mật và phong nó làm tể tướng. Việc thứ ba là cho phá hủy mọi hình tượng chim sơn ca trên toàn quốc và thay vào đó là hình tượng con lừa. Thứ tư, chàng tuyên bố rằng cô bé nhà quê, khi đủ mười lăm tuổi, sẽ được phong làm hoàng hậu. Và chàng đã giữ đúng lời mình.

*

Đó là chuyện cổ tích. Chuyện này giải thích tại sao hình ảnh con lừa có mặt ở mọi bức tường, cổng vòm và nó cũng lý giải tại sao, trong nhiều thế kỷ, con lừa cứ là tể tướng trong Hội đồng Cơ mật của các triều đình, thậm chí trong hầu hết những nội các thời nay cũng vẫn còn như thế. Nó cũng giải thích tại sao, trong tiểu vương quốc đó suốt bao thế kỷ, mọi bài thơ tuyệt tác, mọi diễn văn hùng biện, mọi pho kinh điển lớn, mọi buổi đại lễ và mọi chiếu chỉ tuyên cáo của triều đình đều khởi đầu bằng cái giọng lừa rất hào hứng:

“Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô!...”.

Phạm Viêm Phương dịch  
(SHSDB36/03-2020)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.

  • WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?

  • SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.

  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.