YẾN THANH
Đối với mỗi người Việt Nam, chuột là một “người hàng xóm” tự nhiên quen thuộc. Thật ra, trong lịch sử của loài người, có lẽ không loài động vật nào gắn bó tự nhiên với chúng ta hơn loài chuột.
Tranh của họa sĩ Đặng Mậu Tựu
Các nghiên cứu về lịch sử di dân của con người đến những vùng đất mới thường được căn cứ trên những dấu vết của chuột còn lưu lại. Bởi cứ con người đi đến đâu, thì những loài chuột đặc thù cũng theo chân di dân đến những vùng đất mới. Tuy vậy, nếu như người phương Tây thường tỏ ra sợ hãi chuột, thì loài chuột đối với người Việt Nam vừa sợ lại vừa thân quen; vừa là kẻ thù nhưng cũng là biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở hay khát vọng đấu tranh của những người bị trị. Có lẽ, tình thế lưỡng nan, lấp lửng hai mặt này đối với hình tượng chuột trong nền văn hóa của chúng ta là do Việt Nam xuất phát từ một nền văn minh lúa nước. Giữa con người với tự nhiên có mối tương liên, gắn bó mật thiết. Tư tưởng tôn trọng sinh mệnh tự nhiên và những dấu ấn văn hóa Totem thờ động vật, ngay cả những động vật gây hại cho đời sống con người đã trở nên quen thuộc, giống như ông cha của chúng ta từng thờ rắn, thờ hổ, thờ cá sấu, thờ thuồng luồng…
Ngay từ khi rất bé, tôi đã có một băn khoăn, và có lẽ băn khoăn này cũng là của nhiều người rằng, tại sao trong nền văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam, chuột lại là con giáp đứng đầu tiên chứ không phải hổ, rồng, rắn - những động vật đầy sức mạnh hoặc mang tính huyền thoại; hay chí ít cũng là trâu và ngựa - những con vật đầy cương mãnh và sức sống? Tính ra, chuột phải là loài yếu thế, nhỏ bé và dễ bị tổn thương nhất trong 12 con giáp. Sau này, khi đọc những công trình của giáo sư sử học, tương lai học người Israel là Yuval Noah Harari (như Sapiens - Lược sử về loài người; Homo Deus - Lược sử tương lai; 21 bài học cho thế kỷ 21), tôi nhận ra sự tương đồng trong cách mà hai loài người và chuột sinh tồn qua lịch sử tiến hóa, cũng như đã từng bước chia nhau thống trị thế giới này. Loài người trong ánh sáng và thế giới bên trên, còn loài chuột trong bóng tối và thế giới ngầm ở phía dưới. Homo Sapiens (loài người) tính ra không thể bay như chim, không có móng vuốt, không thể bơi như cá, không có sức mạnh siêu phàm như voi hay khả năng chống chịu đặc biệt nào kiểu như loài vi khuẩn gấu nước (Tardigrade).
So với những người anh em gần gũi nhất như người Neanderthal (có não lớn gấp đôi chúng ta, nhưng đã tuyệt chủng ngay khi người tinh khôn bắt đầu bành trướng); hay loài linh trưởng to lớn nhất hiện nay còn tồn tại (Gorilla), Homo Sapiens (con người) vẫn yếu thế đến mức có thể ngay lập tức bị sát hại nếu đọ tay đôi sức mạnh với những họ hàng gần gũi của mình. Thế nhưng, tại sao những loài động vật mạnh mẽ, đầy sức mạnh và vũ khí tự nhiên kia đã tuyệt chủng, hoặc đang bên bờ của tuyệt chủng (sư tử, gấu trắng, voi, tê giác, cá voi, hổ…), còn chúng ta lại bành trướng khắp toàn cầu? Bởi vì, loài người có một xã hội rộng lớn, được cố kết bằng những cộng đồng tưởng tượng kết nối bằng tôn giáo hoặc tình dục, hoặc những câu chuyện diễn ngôn trừu tượng như nhà nước, dân tộc, văn hóa. Những diễn giải của Y.N.Harari, được bổ sung bởi Richard Holloway trong Lược sử tôn giáo và đặc biệt là Tình dục thuở hồng hoang của Christopher Ryan và Cacilda Jethá, đã cho thấy cách thức con người kết nối lại với nhau thành những cộng đồng đông đảo (các quốc gia, tôn giáo, dân tộc rộng lớn), tạo nên những sức mạnh khổng lồ có khả năng khai phá tự nhiên, di dân bành trướng liên tục và làm tuyệt diệt vô số những loài động vật khác hùng mạnh hơn rất nhiều so với chúng ta. Elizabeth Kolbert trong công trình Đợt tuyệt chủng thứ sáu cho rằng đang có một đợt tuyệt chủng qui mô lớn khắp toàn cầu. Cái khác của đợt tuyệt chủng hàng loạt này, so với 5 lần trước, là do một loài sinh vật gây nên chứ không phải do thảm họa tự nhiên. Con người chính là hung thủ gây ra tuyệt chủng hàng loạt hiện nay.
Loài chuột xét từ góc độ sinh học, tiến hóa, cấu kết xã hội và khả năng thích nghi chống chịu, đặc biệt là khả năng sinh sản cũng có nhiều nét giống con người. Trên thực tế, cùng với con người, chuột là loài động vật có vú đông đảo nhất và phổ biến nhất trên trái đất. Nếu như sự bành trướng của con người cùng nền văn minh công nghiệp đầy ô nhiễm môi trường của họ là một thảm họa môi sinh, thì đó lại là điều kiện phát triển thuận lợi dành cho chuột. Đâu có con người là ở đó có chuột, người càng nhiều thì chuột càng đông, bất kể là thành phố hay nông thôn, hiện đại hay lạc hậu. Chuột xét từ góc độ tính dục giống người ở điểm liên tục giao phối, sinh sản. Các nhà khoa học tính ra đây là phương thức mà chuột luôn bảo toàn và phát triển số lượng cá thể trong cộng đồng, bất chấp thiên tai, sự tàn sát của thiên địch (chủ yếu là con người) hay dịch bệnh. Đặc điểm này cũng tạo tiền đề tiến hóa nhanh hơn, nhằm kịp thích nghi với những điều kiện mới bên ngoài.
Về mặt lí thuyết, trong môi trường thuận lợi, chuột có khả năng thụ thai khi chỉ 5 tuần tuổi từ khi sinh ra. Một lứa đẻ từ 6 đến 20 con non, và chỉ sau 3 tuần, chuột mẹ có thể bắt đầu chu ki sinh sản mới. Dù tuổi thọ của chuột tối đa không quá 18 tháng, nhưng việc sinh sản liên tục này giúp chuột phát triển và bành trướng ra mọi không gian sinh tồn. Chính vì điểm tương đồng này giữa người và chuột, mà loài người trong biểu tượng về mặt văn hóa, luôn xem chuột là hiện thân của sự sinh sôi nảy nở, dấu hiệu của những mùa màng bội thu. Khát vọng phồn thực, sinh sản phát triển giống nòi của người Việt như thế, không thể tìm thấy biểu tượng totem nào hoàn hảo hơn chuột. Cấu trúc xã hội của chuột không quá phức tạp như loài người, nhưng cũng có những thứ bậc nhất định, giúp nó cố kết lại dưới các đẳng cấp phân tầng. Chuột cũng như người, dù có trên dưới, nhưng lại có thể chung sống bên nhau trong một lãnh thổ. Điều này là cơ sở để phát triển giống nòi nhanh chóng, so với những loài quen sống đơn độc, hay đánh dấu, phân chia lãnh thổ rõ ràng như chó sói hay hổ.
Từ góc độ tâm lí học và văn hóa, người Việt Nam như đã nói, vừa sợ lại vừa yêu quý chuột. Họ sợ là bởi chuột tàn phá nông nghiệp, truyền nhiễm những căn bệnh dịch nguy hiểm. Lịch sử nhân loại từng chứng kiến những đợt suy giảm mạnh do dịch bệnh, mà tiêu biểu là giai đoạn 1347 đến 1351 tại châu Âu, có đến 25 triệu người đã chết (chiếm ¼ dân số châu Âu) bởi căn bệnh dịch hạch do vi khuẩn Yersinia Pestis gây ra và được truyền nhiễm qua chuột. Thật ra, cách thức sinh tồn và bành trướng thông qua việc làm loài khác tuyệt diệt bởi những căn bệnh dịch chết chóc ở quy mô rộng không phải là cách thức chỉ có riêng ở loài chuột. Homo Sapiens cũng từng làm người Neanderthal khỏe mạnh, thiện chiến hơn nhiều lần tuyệt diệt bằng cách này. Jared Diamond trong công trình Súng, vi trùng và thép, cũng chỉ ra đa phần những người da đỏ bản địa tại châu Mỹ đã bị tuyệt diệt bởi những căn bệnh dịch chết người mà người da trắng thực dân châu Âu mang đến. Như vậy, với góc độ là những chủng loài tàn sát và hủy diệt các loài bản địa trong quá trình di dân (kể cả đồng loại hay khác loài), chuột và người là những kẻ đồng hành trên những dấu chân chết chóc.
Với người Việt, chuột đem lại những kí ức không mấy tốt đẹp, bởi đối với đời sống nông nghiệp, chuột là thiên địch tàn phá mùa màng của con người. Không khó để ta tìm thấy trong vô số những câu thành ngữ nhắc đến chuột trong kho tàng tiếng Việt, đa phần đều mang lại những ấn tượng phản diện, xấu xa: cháy nhà ra mặt chuột, chuột chạy cùng sào, ướt như chuột lột, chuột sa chĩnh gạo, lù đù như chuột phải khói”. Ngay trong nhân tướng học, kẻ mặt chuột cũng là kẻ tiểu nhân, độc ác nhiều mưu kế hại người. Những kẻ “mắt dơi mày chuột” thường điển hình cho kẻ ác, thành phần đục khoét trong xã hội. Chuột từ một thiên địch tự nhiên trong sản xuất dần được ám chỉ, hoán dụ đến những thành phần xấu xa của xã hội. Lần giở lại kho tàng văn học Việt Nam trung đại, ta thấy Nguyễn Đình Chiểu từng viết Hịch bắt chuột (Thảo thử hịch). Đọc qua bài hịch, ta thấy cụ Đồ Chiểu rất am tường về đặc tính sinh học của loài chuột:
“Lớn nhỏ răng đều bốn cái, ăn của người thầm tối biết bao nhiêu/ Vắn dài râu mọc hai chỉa, vắng mặt chủ lung lăng đà lắm lúc./ Vả sáu mươi giáp hoa đứng trước, lẽ thì thiện tính linh tâm;/ Thì mười hai chí tuế ở đầu, cũng đáng cư nhân do nghĩa./ Cớ sao lại đem lòng quỷ quái?/ Cớ sao còn làm thói gian tham?”
Nhưng thực chất bản hịch lại nhằm khích lệ tinh thần dân tộc đứng lên kháng Pháp và bè lũ tay sai đục khoét:
“Giận là giận trộm đồ bàn Phật, trốn án mà xưng vương;
Căm là căm cắn sách kẻ Nho, đành lòng mà phá đạo.
Ngao ngán bấy cái thân chuột thúi, biết ngày nào ô thước phanh phui;
Nực cười thay cái bụng chuột tham, uống bao thuở Hoàng Hà ráo cạn.
Ví có ngàn giòng nước khảm, khôn bề rửa sạch tội đa dâm;
Dẫu cho muôn nén vàng đoài, cũng khó mua riêng hình bất xá.
Tội dường ấy đã nên ác quá;
Ta tới đây há dễ nhiêu dung.
(…)
Sắm sửa binh sương giáp sắt;
Trau giồi ngựa gió xe trăng.
Giống trống sấm xuất binh;
Phất cờ lau tập trận”.
Trong Thánh Tông di thảo (tương truyền của vua Lê Thánh Tông), Quyển hạ có truyện Thử tinh truyện (Truyện tinh chuột) kể về một con chuột tinh tu luyện lâu năm có khả năng biến được thành người. Con chuột tinh này biến hóa thành một Nho sinh đang đi học xa, hằng đêm về ân ái với người vợ của anh ta. Phép thuật của chuột tinh mạnh đến nỗi giữa trời nắng hay các đạo bùa thông thường không thể làm nó biến thành cốt thật. Mãi đến khi nhờ thần Phù Đổng dùng phép tiên, mượn Ngọc Hoàng thượng đế viên ngọc mắt mèo mới làm con chuột hiện nguyên hình. Có lẽ phát tích từ chuyện chuột tinh giả dạng thành ông cống nho sĩ, mà ngày nay dân gian hay gọi chuột là ông cống.
Trong kho tàng văn học Việt Nam hiện đại, khi còn ấu thơ, tôi nhớ mãi tác phẩm Cái tết của mèo con của Nguyễn Đình Thi vốn được đưa vào trong sách giáo khoa thuở ấy. Dưới thủ pháp nhân hóa đầy thú vị, Nguyễn Đình Thi đã xây dựng hình tượng “ông Chuột Cống” đầy hung ác, là đối thủ của chàng mèo con đầy hồn nhiên dễ thương. Cái kết của tác phẩm là cái chết của kẻ phá hoại hung ác, kẻ áp bức xã hội mang tên Chuột Cống. Thật ra, quan niệm nhìn nhận chuột như những kẻ phản diện, xấu xa, đại diện cho cái ác vốn không hiếm trong văn hóa phương Đông. Trong Kinh thi có bài Chuột xù ám chỉ bọn quan lại đục khoét nhân dân như chuột hại. Trong thiên Khuyến học của Tuân Tử, giống Ngô thử (chuột có năm cái tài nhưng chả có cái gì đến nơi đến chốn) cũng là những kẻ phản diện điển hình.
Tuy nhiên, hình tượng chuột chứa đựng nhiều mâu thuẫn và phức tạp trong cơ cấu tâm thức văn hóa Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung. Chuột vẫn được ngợi ca vì ngoài ý niệm sinh sôi, phồn thực, nó còn đại diện cho tầng lớp bị trị, những người nông dân thấp cổ bé họng. Chuột trong quan hệ với mèo là kẻ bị áp bức/ bị trị so với kẻ áp bức/ thống trị. Phàm là kẻ cai trị áp bức bao giờ cũng gian ác, ngu xuẩn và tham lam. Điều này phần nào giải mã tại sao một trong những bộ phim hoạt hình kinh điển nhất của nhân loại, được mọi nền văn hóa yêu mến, mọi lứa tuổi thích thú là Tom và Jerry (William Hanna và Joseph Barbera) của hãng MGM (và sau này là Warner Bros). Trong đó, chuột Jerry đại diện cho cái thiện, luôn luôn chiến thắng con mèo Tom tham ăn, hung ác nhưng ngu xuẩn. Biểu tượng văn hóa toàn cầu, nhân vật hoạt hình được yêu thích nhất của Walt Disney đó chính là chuột Mickey (họa sĩ Ub Iwerks sáng tạo nên năm 1928). Chuột Mickey đại diện cho giá trị của hòa bình. Tổng thống Mỹ Jimmy Carter từng nhận định: “Mickey là đại sứ thiện chí, nhà trung gian hòa bình, nói thứ ngôn ngữ tình bạn trên khắp thế giới”.
Quay trở về với văn hóa Việt Nam, trong tranh dân gian Đông Hồ, một trong những bức nổi tiếng nhất có lịch sử hơn 500 năm tuổi là bức Đám cưới chuột. Tựa đề là đám cưới chuột nhưng nội dung bức tranh là một đoàn chuột đi rước các lễ vật (cá, chim) để cống cho một con mèo to hung ác. Người nông dân dưới chế độ phong kiến bị bóc lột đến tận xương tủy, muốn sống hay tồn tại được, họ phải cúng tiến, hối lộ cho kẻ cầm quyền. Bức tranh là một sự châm biếm xã hội, thể hiện ý thức đấu tranh giai cấp. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, dù hình tượng chuột thường hiện ra xấu xa, vẫn có những bài ca dao thể hiện sự phản kháng giai cấp thông qua hình tượng chuột:
Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo
Tác phẩm truyện thơ Nôm cổ nhất còn lưu giữ được ở Việt Nam cũng liên quan đến chuột, đó là truyện Trinh thử, gồm 850 câu (tương truyền là của Hồ Huyền Quy). Câu chuyện có cốt truyện khá liêu trai, kể về một cuộc đánh ghen giữa gia đình chuột cái - đực với cô chuột bạch không may lạc vào. Ngoài ý nghĩa đạo đức Nho gia, ca ngợi lòng trinh bạch của chuột bạch, câu chuyện là một tâm sự thầm kín của tác giả khi muốn giữ lòng trinh bạch, trung hậu với triều Trần, giữa lúc bị Hồ Quý Ly thoán đoạt cướp ngôi báu. Trong văn học Việt Nam hiện đại, đọc truyện O chuột của Tô Hoài, chúng ta thấy sự áp bức tàn bạo của loài mèo đối với những con chuột bé nhỏ: “Mèo và chuột là đôi loài có thù không đội trời chung với nhau. Mèo ghét chuột quá, ghét kịch liệt. Ý giả mèo ta tin rằng giống mình giỏi nhất thiên hạ; những tên chuột, tất cả lò nhà chuột, chỉ đáng đem thân làm nô lệ cho loài mèo thần thánh. Thế mà cái giống thấp hèn ấy không biết điều mà lại hay tắt mắt, táy máy, bặng nhặng làm nghịch mắt và rác tai bề trên”. Sâu thẳm trong quan niệm nghệ thuật của Tô Hoài cho thấy một sự bênh vực, cảm thông với kẻ yếu. Trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái, chúng ta thấy xã hội loài chuột có nhiều giá trị tốt đẹp, cho dù chúng là ẩn dụ phóng chiếu về nhau. Khi nhân vật Chuột trùm chết, cả xã hội chuột dưới quyền trung thành với nó sẵn sàng tự sát chết theo để thể hiện lòng trung thành: “Trên màn hình máy tính, hàng trăm hạt gạo đỏ lao xuống sông. Những hạt gạo đỏ tung tóe hoa cà hoa cải từ trên đỉnh dốc xuống. Cả một trời pháo hoa chuột tóe ra. Cả một dòng thác chuột màu đỏ trút xuống. Sông Hồng bên dưới trong đêm đen bỗng đỏ rực lên. Cả một mảng sông như dòng nham thạch đỏ trôi về phía biển”.
Xã hội loài người sẽ đi về đâu, tha hóa đến mức nào? Có lẽ chúng ta cần soi vào chuột để hiểu mình và tự điều chỉnh. Có một sự thật chắc chắn, nếu con người tàn sát nhau và phá hủy thế giới này, chuột sẽ thay loài người làm bá chủ thế giới, như chúng ta đã từng thay thế khủng long để cai trị hành tinh này. Trong những khu vực chết sau thảm họa nguyên tử Chernobyl, tương truyền xuất hiện những loài chuột khổng lồ có khả năng ăn thịt người do bị đột biến, chúng là chúa tể vùng đất hắc ám mà loài người không thể tồn tại do phóng xạ. Tôi cố gắng không nghĩ đến viễn cảnh đen tối đó, để hy vọng về một thế giới mà ở đó, khoa học công nghệ giúp loài người, chuột cùng tất cả những loài khác vẫn có thể chung sống hòa bình, chia sẻ hành tinh này. Biểu tượng chuột trong tương lai của loài người, cần phải khác những con chuột khổng lồ tại Chernobyl hay Papua New Guinea (nơi tồn tại loài chuột Bosavi lớn nhất thế giới với chiều dài 81cm); đó cần là chú chuột Mickey hòa bình, hay con chuột máy tính cầm tay mà năm 1963, Douglas Engelbart đã phát minh ra để thay đổi nền văn minh này.
Y.T
(TCSH372/02-2020)
Tải mã QRCode
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP...Nguyễn Huy Thiệp không phải là người duy nhất đổi mới phương thức trần thuật. Trước ông đã có Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng... tích cực mở đường. Nhưng phải đến Nguyễn Huy Thiệp thì sự khai phóng về tư tưởng nghệ thuật mới được thể hiện một cách đậm nét. Tất cả được Nguyễn Huy Thiệp kiến tạo qua một trò chơi đầy tính bất ngờ. Giống như người nghệ sĩ ba lê tài năng, Nguyễn Huy Thiệp trình diễn một thế giới đa sắc trên đầu những đầu mũi ngón chân. Những ngón chân ấy bám trụ vào hiện thực một cách tinh diệu, xoay chuyển một cách nhịp nhàng với những vòng quay, những vũ điệu ngôn từ...
PHAN NGỌC THUTrong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, Xuân Diệu (1916-1985) là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất, đồng thời cũng là nhà phê bình văn học kiệt xuất. Từ những bài tranh luận văn học sôi nổi thời Thơ Mới (1932-1945) đến Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958); từ Phê bình giới thiệu thơ (1960) đến Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập I (1981), tập II (1982) và Công việc làm thơ (1984)... "chỉ tính riêng các tác phẩm lý luận phê bình, đã có thể gọi Xuân Diệu là một đại gia"(1)
BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v..v...
HÀ KHÁNH CHINgày 20 - 3 - 2003, siêu cường lớn nhất mọi thời đại là đế quốc Hoa Kỳ đã mở đầu cuộc chiến tranh kỳ quái nhất trong lịch sử bằng cách tấn công Iraq sau khi đã bắt quốc gia này phải tự phá huỷ vũ khí tự vệ của chính họ. Đó là bài học chưa hề thấy về chút hy vọng cuối cùng mà lương tri nhân loại có thể đòi hỏi. Để có thể hiểu rõ hơn những gì đang xảy ra hôm nay - có lẽ cũng rất cần ôn lại một trong những vấn đề lớn nhất mà loài người có thể nghĩ tới: cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây gần 30 năm.
HOÀNG ĐĂNG KHOA Văn học Việt từ sau 1975, nhất là từ thời kỳ đổi mới, là một quá trình văn học rất phong phú, đa dạng và không ít phức tạp, lại còn đang tiếp diễn. Cuốn sách Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy ra đời đáp ứng nhu cầu mang tính thời sự: nhu cầu nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện về tiến trình văn học ba mươi năm qua, chuẩn bị cho sự ra đời của những công trình văn học sử và những chuyên khảo về giai đoạn văn học này.
NGUYỄN QUANG HÀTrong đời có những bài thơ người ta quên, mà chỉ nhớ một câu nằm lòng. Bởi đó là những câu thơ thực sự, những câu thơ thi sĩ. Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về thơ: Thơ là tiếng hát của trái tim; Thơ là hạt muối kết tinh của tình cảm; Thơ là phút giây rung động của tâm hồn... Nói chung, những định nghĩa ấy cho ta hiểu rằng ở đâu có được sự rung động của trái tim thì ở đó có thơ.
ĐỖ LAI THUÝPhê bình văn học Việt Nam, sau sự khởi nguồn của Thiếu Sơn với Phê bình và Cảo luận (1933) chia thành hai ngả. Một xuất phát từ Phê bình để trở thành lối phê bình chủ quan ấn tượng với Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam (1942). Lối kia bắt nguồn từ Cảo luận tạo nên phê bình khách quan khoa học với Vũ Ngọc Phan của Nhà văn hiện đại (1942), Trần Thanh Mai của Hàn Mặc Tử (1941), Trương Tửu của Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1945). Sự phân chia này, dĩ nhiên, không phải là hành chính, mà là khoa học, tức sự phân giới dựa trên những yếu tố chủ đạo, nên không phải là không thể vượt biên. Bởi, mọi biên giới đều mơ hồ hơn ta tưởng, nhất là ở khoa học văn chương.
LTS: Marcel Reich-Ranicki, sinh năm 1920, người ở Đức được mệnh danh là "Giáo hoàng văn học", là nhà phê bình văn học đương đại quan trọng nhất của CHLB Đức. "Một lời biện hộ cho thơ" là bài thuyết trình đọc vào ngày 30.11.1980 nhân dịp ra mắt Tập 5 của "Tuyển thơ Frankfurt" trong khuôn khổ chuyên mục thơ của nhật báo "Frankfurter Allgemeine Zeitung" (FAZ) mà tác giả là chủ biên phần văn học từ 1973 đến 1988.Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài "Một lời biện hộ cho thơ" của ông sau đây do dịch giả Trương Hồng Quang thực hiện.
TRẦN HUYỀN SÂMGeorge Sand (1804-1876) là một gương mặt độc đáo trên văn đàn Pháp thế kỷ XIX. Cùng thời với những cây bút nổi tiếng như: A.Lamartine, V.Hugo, A.Vigny, A.Musset... nữ sĩ vẫn tạo cho mình một tầm vóc riêng không chìm khuất. George Sand bước vào thế giới nghệ thuật bằng một thái độ tự tin và một khát vọng sáng tạo mãnh liệt. Với hơn hai mươi cuốn tiểu thuyết đồ sộ, G.Sand đã trở thành một tên tuổi lừng danh ngay từ đương thời. Dĩ nhiên, bà lừng danh còn bởi nhiều mối tình bất tử, trong đó có nhà thơ Pháp nổi tiếng A.Musset và nhạc sĩ thiên tài Chopin người Ba Lan.
PHẠM QUANG TRUNGCó lần, dăm ba người có thiên hướng lý luận chúng tôi gặp nhau, một câu hỏi có thể nói là quan thiết được nêu ra: trong quan niệm văn chương, e ngại nhất là thiên hướng nào? Rất mừng là ý kiến khá thống nhất, tuy phải trải qua tranh biện, không đến nỗi quyết liệt, cũng không phải hoàn toàn xuôi chiều hẳn. Có lẽ thế mới hay!
NGUYỄN HỮU HỒNG MINH1- "Thơ trẻ- Những giá trị mới" là một "mưu mô" của nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn và nhóm "Văn nghệ mới" (bao gồm Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Vĩnh Tiến, Dạ Thảo Phương... và một số người khác) dự tính tập hợp, tuyển chọn 1 tuyển thơ của 10 (hay nhiều hơn) tác giả trẻ từ 30 tuổi trở xuống, xuất hiện trong vòng 3 năm cuối cùng của thế kỉ để trình làng giới thiệu chân dung thế hệ mình.
NGUYỄN HOÀN Trịnh Công Sơn là một hiện tượng độc đáo của âm nhạc và văn hoá Việt Nam được ái mộ không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Vì thế mà từ khi ông qua đời đến nay đã có trên chục đầu sách viết về ông, một số lượng hiếm thấy đối với các nhạc sĩ khác. Gần đây có cuốn “Trịnh Công Sơn vết chân dã tràng” của Ban Mai do Nhà xuất bản Lao Động, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2008. Với niềm ngưỡng mộ tài hoa và nhân cách nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi đã hăm hở tìm đọc cuốn sách mới này nhưng tiếc thay, chưa kịp trọn nỗi mừng đã phải thất vọng về những trang viết đánh giá đầy sai lệch và thiếu sót, phiến diện về Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam.
HOÀNG QUỐC HẢIThơ Lý - Trần có mạch nguồn từ Đinh - Lê, nếu không muốn nói trước nữa. Rất tiếc, nguồn tư liệu còn lại cho chúng ta khảo cứu quá nghèo nàn.Nghèo nàn, nhưng cũng đủ tạm cho ta soi chiếu lại tư tưởng của tổ tiên ta từ cả ngàn năm trước.
NGUYỄN VĂN THUẤN (Nhóm nghiên cứu - lý luận phê bình trẻ)Thời gian gần đây, tại Việt , các tác phẩm của nhà văn Nhật Bản H.Murakami thường xuyên được dịch và xuất bản. Là một giọng nói hấp dẫn trên văn đàn thế giới, sáng tác của ông thu hút đông đảo công chúng và dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình. Một trong những tiểu thuyết làm nên danh tiếng của ông là Rừng Nauy.
PHAN TÂMQuê hương Phan Đăng Lưu, xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, cách Kim Liên, Nam Đàn, quê hương Hồ Chí Minh khoảng 60 km.Hai nhân cách lớn của đất Nghệ An. Không hẹn mà gặp, xuất phát từ lương tri dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đến chủ nghĩa Mac - Lê nin, thành hai chiến sĩ cộng sản Việt Nam nổi tiếng.
THÁI DOÃN HIỂUNhà thơ Võ Văn Trực thuộc loại tài thì vừa phải nhưng tình thì rất lớn. Chính cái chân tình đó đã giúp anh bù đắp được vào năng lực còn hạn chế và mong manh của mình, vươn lên đạt được những thành tựu mới đóng góp cho kho tàng thi ca hiện đại của dân tộc 4 bài thơ xuất sắc: “Chị, Vĩnh viễn từ nay, Thu về một nửa và Nghĩa địa làng, người ta sẽ còn đọc mãi.
HÀ ÁNH MINHBài thứ nhất, Một cuộc đời "Ngậm ngải tìm trầm" của Vương Trí Nhàn, đăng trên tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số Xuân Canh Thìn năm 2000, và bài thứ hai "Sư phụ Thanh Tịnh làm báo tết" của Ngô Vĩnh Bình, đăng trên báo Văn Nghệ, số Tết cũng năm Canh Thìn 2000. Bài đầu tiên viết dài, giọng văn trau chuốt điệu nghệ. Bài sau ngắn, mộc mạc.
LÊ THỊ HƯỜNGDẫu mượn hình thức của thể kí, dẫu tìm đến vần điệu của thơ, điểm nhất quán trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cái tôi say đắm thiên nhiên. Đằng sau những tài hoa câu chữ là một cái tôi đa cảm - quá chừng là đa cảm - luôn dành cho cỏ dại những tình cảm lớn lao.
BỬU NAM1. Nếu văn xuôi hư cấu (đặc biệt là tiểu thuyết) chiếm vị trí hàng đầu trong bức tranh thể loại của văn học Mỹ - La tinh nửa sau thế kỷ XX, thì thơ ca của lục địa này ở cùng thời gian cũng phát triển phong phú và rực rỡ không kém, nó tiếp tục đà cách tân và những tìm tòi đổi mới của những nhà thơ lớn ở những năm 30 - 40.
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP1. Khi chạm vào cơn lốc và những điệu rock thơ mang tên Vi Thuỳ Linh, bất chợt tôi nhớ đến câu thơ dịu dàng và sâu thẳm của Paul Eluard: Trái đất màu xanh như một quả cam. Với P. Eluard, tình yêu là một thế giới tinh khiết, rạng rỡ và ngọt ngào: Đến mức tưởng em khỏa thân trước mặt. Còn Vi Thuỳ Linh, nếu ai hỏi thế giới màu gì, tôi đồ rằng nàng Vi sẽ trả lời tắp lự: Màu yêu.