Chung quanh vấn đề văn hoá, di sản và Festival.

10:20 08/12/2008
BỬU ÝMột đất nước có lịch sử lâu đời hẳn nhiên thừa hưởng di sản phong phú và đủ loại.Trước hết, vấn đề di sản không nhất thiết đi đôi với Festival. Di sản có thể nằm  một cõi, mà Festival lại nằm một nơi. Cũng có thể phát huy riêng rẽ, phục vụ quần chúng khác nhau, nhưng cùng chung một trục văn hoá để cùng được bảo tồn và phát huy. Nhưng nếu di sản sánh đôi với Festival thì đó là một cuộc nên duyên như được dành sẵn.

Huế được vinh hạnh tổ chức Festival hai năm một lần ngay trên di sản của mình.
Ta nhớ lại rằng quần thể di tích Huế là di sản đầu tiên của Việt Nam và là thứ 410 của Thế giới được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới tháng 12-1993 và được ông Daniel Janicot Phó tổng giám đốc trao chứng chỉ “di sản thế giới” ngày 2-8-1994.

Huế suốt đời không giải thông nổi bao nhiêu mâu thuẫn nội tại. Khởi đi từ cá nhân, rồi giữa con người với nhau, và lan ra xã hội. Làm sao vỗ êm giàu với nghèo, làm sao giải thông giữa phát triển và bảo tồn, giữa kinh tế và văn hoá. Đồng tiền có uy lực không lường nổi và dễ dàng tung hoả mù, biến trắng thành đen và làm băng hoại mọi giá trị. Đó là nguyên nhân chính khiến cho Huế ì ạch muôn đời.
Nay lại là một mâu thuẫn của thế kỷ: một mặt khẩn trương hoàn tất hồ sơ “Bổ sung sông Hương vào danh mục di sản thế giới của Huế”, mặt khác không thể không làm thoái hoá sông Hương, không sớm thì muộn, bằng một dự án xây dựng làm ăn đồ sộ tại một trong những yếu huyệt của sông Hương dựa trên một luận chứng ngoại phạm nào đó.
Di sản bao gồm những tài sản quý giá, vừa vật chất lẫn tinh thần, lưu truyền từ đời này sang đời khác, trước tiên là của một nước, một vùng trước khi có cơ may trở thành của nhân loại. Muốn khoác thiên chức như vậy, di sản phải trải qua thử thách của thời gian vốn nghiệt ngã, phũ phàng, dễ vùi dập hơn là vinh danh.

Ban đầu di sản được đồng hoá trước hết với những công trình kiến trúc bề thế. Về sau, nhận thức được mở rộng, người ta nghĩ đến không gian của di sản không phải chỉ bó hẹp vào diện tích của di sản mà phải kể luôn đến khu vực bao quanh di sản cho nên phải cần đến cảnh sắc tạo thành cái khung cho tấm tranh, đồng thời, người ta nghĩ luôn đến thời gian của di sản không phải phục vụ nhất thời mà phải nhắm đến mai sau và muốn được vậy, con người phải chăm lo những phương diện vệ sinh, bảo vệ, sửa sang cho môi trường. Như vậy nhận thức liên hợp được ba thì trong cách xử trí với di sản: di sản - cảnh quan - môi trường, như một hoạch định “tam bản” toàn vẹn. Cái nhìn cùng tầm nhận thức của con người tiến triển qua từng thời đại, không còn khu biệt vào thực thể di sản mà đã chuyển dịch sang vòng ngoài là cảnh quan và lan rộng đến môi trường.

Braque, cùng vớI Picasso, là người tiên phong trong trào lưu lập thể của nghệ thuật tạo hình. Ông có một quan niệm về bố cục tranh và thưởng thức tranh không ngờ lại thành khai thông mở lối cho những nhà di sản. Ông chủ trương rằng cái đáng kể trong tấm tranh không hẳn là những gì được thể hiện trong tranh, mà đáng kể hơn cả là những tương quan giữa những thứ được trình bày.
Từ đó, nhà di sản, khi lui về ngắm lại công việc đang làm, tự khắc nới rộng phạm vi hành động của mình: khởi đi từ công trình kiến trúc lịch sử, bước sang kiến trúc và môi trường, rồi kiến trúc và môi trường và khu vực... Không gian của di sản không dưng được mở rộng. Mà không riêng gì không gian, chính đời sống của di sản cũng trường thọ hơn: dĩ vãng hiện hình lên trước mắt, và hiện tại đang đòi hỏi trường tồn. Và muốn được vậy, tất nhiên phải có dinh dưỡng, phục chế, bảo trì, có khi phải tân trang hay hoá thân ít  nhiều để khoác thêm nhiệm vụ mới.

Ở Pháp người ta thống kê được 40.000 công trình di sản từ xưa đến nay còn tồn tại, trong đó thế kỷ XX chỉ xây dựng được 1.200 công trình, chiếm tỷ lệ 3% mà thôi. Thế kỷ xây dựng phong phú hơn cả là thế kỷ XII.
Tại Âu châu, ưu tư về di sản phát sinh từ đất nước Ý từ thế kỷ XVI tại những vùng nằm trong ảnh hưởng của Giáo hội. Đầu thế kỷ XVII, vùng đất Toscane thành lập một hội đồng bảo vệ của cải nghệ thuật. Tại Pháp phải chờ đến Cách mạng 1789 mới ra đời phạm trù di sản.

Vấn đề di sản thuộc phạm vi quản lý của Bộ văn hoá. Cách đây không lâu, khoảng mươi năm trở lại, nhiều nước trên thế giới không cho rằng Bộ văn hoá là một Bộ thật sự cần thiết trong các Bộ ngành của Chính phủ, và cho đó là một sự đặt để của hai ba nước ở Âu châu mà thôi. Bộ văn hoá ở Pháp thành hình là do quan niệm của một văn hào Pháp vào năm 1959: đó là André Malraux lãnh đạo Bộ này. Vấn đề bảo vệ văn hoá, vấn đề tập hợp, tổ chức, và phát huy con người và tài sản văn hoá vốn là mục tiêu của Cách mạng Pháp 1789 từ xa xưa từng đề ra: “Hãy trả lại cho nhân dân những gì mà giới quý tộc và vua chúa đã cướp mất của họ. Các đền đài, nghệ phẩm và văn hoá đều là tài sản của tất cả chúng ta. “Bộ văn hoá tổ chức kỳ thi tuyển chọn những chuyên gia phụ trách từng ngành nghệ thuật: nhiếp ảnh, kiến trúc, hội hoạ, điêu khắc, vũ, sân khấu, điện ảnh,... Từ những người này, người ta lập nên những thanh tra sáng tác có nhiệm vụ đi gần với các nghệ sĩ, khuyến khích nâng đỡ nghệ sĩ và, nếu cần, phân cấp các nghệ sĩ để tiện việc hỗ trợ phương tiện và tài chính. Bộ văn hoá gồm sáu vụ: văn khố, sách, kiến trúc và di sản, viện bảo tàng, nhạc vũ kịch, nghệ thuật trình diễn. Có những hội đồng hỗn hợp bao gồm nghệ sĩ và thành viên của Bộ văn hoá để cứu xét những vấn đề tài trợ. Các thư viện, nhà hát, đoàn nhóm văn nghệ đều được phân cấp tài trợ.

Ngày nay trên thế giới, để bảo tồn và phát huy di sản, người ta đặt ra một ngày lễ trong năm gọi là Ngày di sản. Có thể là một ngày, hoặc hai ba ngày liền. Ở Pháp, người ta chọn ba ngày cuối tuần trong tháng chín.
Lễ này được tổ chức kể từ 1984. Đó là ngày hội ngộ của công dân với đất nước của họ qua hiện vật và qua lịch sử. Đó là những ngày được nhìn ngắm, được sờ mó cổ vật di tích, được hồi tưởng và được rung cảm với lịch sử, cổ nhân. Có hiện vật như là tác phẩm nghệ thuật để thưởng ngoạn. Có hiện vật không khác nào án thờ của tập thể. Thế hệ trẻ, mà đa số là những thanh thiếu niên đang tuổi đi đến trường học, có dịp học những bài học bổ ích về lịch sử, văn hoá, nghệ thuật, chính trị... qua những cuộc tiếp cận, thăm viếng như vậy. Đó là dịp khám phá, hoặc khám phá ra lại, đất nước mình. Nhân “Ngày di sản”, nước Pháp mở rộng cửa của hơn 10.000 thắng tích và công trình để đón khách.
Di tích được phân thành hai loại:
- Địa điểm hoài niệm: có tích lịch sử, thời kỳ, khảo cổ.
- Địa điểm nhân sinh: chỗ ở của nhà văn, xưởng nghệ thuật, sở công nghiệp, tiệm, công trình trang trí, nơi chốn thực thi uy quyền và chủ quyền quốc gia.
Ở nước ta, “Ngày di sản” mới được xác lập: đó là ngày 23 tháng 11.

Festival, như tên gọi đã chỉ rõ, tạo ra những ngày đặc biệt. Nhưng điều mâu thuẫn và khó khăn lại nằm ở chỗ không nên tạo ra cách biệt lớn lao giữa những ngày mệnh danh là đặc biệt với những ngày tạm gọi là không đặc biệt, giữa những người “trong” Festival và những ngươi “ngoài” Festival. Ta còn nhớ văn hào Hoa Kỳ Hemingway từng phong tặng “ Paris là một lễ hội”, ngầm cho rằng thủ đô hoa lệ ấy ngày nào cũng là ngày hội. Một thành phố ngày nào cũng sạch, đẹp, đông vui: quả là đáng mơ ước!
Mục đích đầu tiên của Festival là vui chơi, là tiêu khiển. Cái vui chơi dễ kết hợp: ai cũng như ai, đều biết cười và vỗ tay. Nhưng cái vui chơi này đi liền với ý thức về thời gian và không gian phát sinh văn hoá đại chúng, vẫn biết văn hoá đại chúng này đựợc nhận thức ở mức độ khác nhau.

Festival Huế “năm chẵn”, ở thế kỷ 21 này, qua bao lần thu hút người trong nước lẫn khách nước ngoài. Đó chưa chi đã là một đặc điểm gây suy nghĩ và cân nhắc không ít. Mọi người đều đặt mình trước những giá trị nghệ thuật và văn hoá gọi nôm na là “cũ” và “mới”. Ngay những giá trị cũ, dù đã qua thử thách của thời gian, vẫn không mặc nhiên được mọi người ưa chuộng, vẫn cần được củng cố, hoặc phải cách điệu, cách tân thêm. Còn những giá trị mới, thật là rối rắm! Đó là chưa kể bao nhiêu thứ mới đối với ta mà cũ đối với người. Ta hãy nhớ lại buổi đầu của tranh trừu tượng, tranh lập thể, hình khỏa thân, nghệ thuật sắp đặt: vất vả và vật vã cho mọi người. Nhưng chóng đâu vào đấy và đời vẫn trôi xuôi. Cái mới, việc gì phải khước từ, gạt bỏ, xua đuổi, miễn sao bản sắc cầm chắc trong tay và đề phòng tha hoá.

Ta thừa biết rằng Festival không bao giờ đơn thuần là Festival, nó luôn luôn kèm theo mưa móc kinh tế: thêm một lý do nặng cân để tổ chức Festival. Thêm vào đó, nói như Auguste Comte: “Người chết đang nhìn chúng ta”, chúng ta có trọng trách làm tốt hơn, đẹp hơn, và biến nợ Festival thành duyên văn hoá.
                    B.Y

(nguồn: TCSH số 208 - 06 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LTS: Liên tiếp trong hai ngày 30 tháng 9 và 1 tháng 10 năm 2009, tại Abu Dhabi, Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Quan họ Bắc Ninh và Ca Trù của Việt Nam đã chính thức được Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) ghi danh vào danh sách di sản văn hóa của nhân loại. Quan họ Bắc Ninh được ghi vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể Đại diện của nhân loại; Ca trù được ghi vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

  • TRẦN VĂN QUYẾNTrong quá trình đi điền dã thu thập tư liệu Hán Nôm ở huyện Phú Lộc Thừa Thiên Huế, chúng tôi đã được tiếp cận hai đạo sắc phong cho người có công trị thủy ở từ đường dòng họ Lê Kim, thôn Đông, làng Bàn Môn, xã Lộc An.

  • PHAN THANH HẢIDưới thời quân chủ, hầu như ở tất cả các nước phương Đông đều có tục tế giao. Tế giao tức là tổ chức nghi lễ cúng để con người có thể giao tiếp được với trời, đất và các bậc thần linh.

  • LÊ NGUYỄN LƯUI. QUAN NIỆM VỀ SỐNG CHẾT

  • HUỲNH ĐÌNH KẾT

    Di tích cảnh quan Huế là một bộ phận cấu thành diện mạo văn hoá Huế. Ngày nay, di tích cảnh quan được quan niệm là loại hình văn hoá vật thể (Tangible culture) trong hàm nghĩa phân biệt với văn hoá phi vật thể (Intangible culture). Dẫu sao cũng chỉ tương đối.

  • LIỄU THƯỢNG VĂNCố đô Huế, một trong những trung tâm văn hoá, lịch sử của Việt Nam. Không những thế, Huế còn là một tổng thể di tích quan trọng, sánh hàng kì quan trên thế giới. Cố đô thơ mộng mang đầy tính nghệ thuật lẫn với cái nét sâu thẳm, ẩn bóng của học thuật Đông phương và truyền thống dân tộc…

  • NGUYỄN HÀO HẢITrong lịch sử, việc làm những đồ nghệ thuật giả chỉ bắt đầu xuất hiện ở những xã hội có đời sống kinh tế, đời sống văn hóa tinh thần khá phát triển.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNChuyện xưaGiờ đây, những vị tham gia biên dịch Mục lục Châu bản Triều Nguyễn (MLCBTN) trong Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam thuộc Viện Đại học Huế những năm sáu mươi của thế kỷ trước, đã lần lượt quy tiên. Chỉ còn lại một người cuối cùng đang dưỡng lão trong một ngôi nhà khá yên tĩnh dưới bóng những lùm cây sớm chiều toả mát trong một xóm ven sông Cẩm Lệ, thuộc huyện Hoà Vang, ngoại ô Đà Nẵng. Đó là bác Ngô Văn Lại, năm nay ngoài tuổi bảy mươi.

  • NGUYỄN HỮU THÔNGCó những câu hỏi đặt ra, Huế mãi không có câu trả lời thuyết phục:* Tại sao mặt hàng lưu niệm trong thị trường du lịch, trong các lễ hội Festival là nghèo nàn đến thế! Sản phẩm thủ công Huế lác đác chen chúc khuất lấp trong lớp lớp hàng Trung Quốc và các tỉnh khác trong nước?* Tại sao trong quá trình trùng tu, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lại phải mời thợ từ "Đàng Ngoài" trong nhiều khâu kỹ thuật từ sơn, thếp, mộc, làm ngói men, gạch bát tràng...?* Tại sao nhà phục chế Trịnh Bách lại phải sống ở Hà Nội, để gửi vào Huế những tấm long bào, long cổn, hia, mão và kể cả những phiên bản phục chế men lam thời Nguyễn?...

  • HOÀNG ĐẠO KÍNHVăn hoá xứ Huế là một hiện tượng: sinh sôi và thịnh vượng trong khoảng thời gian và không gian địa lý hạn hẹp. Cả hai nhân tố, vật thể lẫn phi vật thể, đều kịp đạt đến trình độ cao và thấm đậm những cái riêng, so với các thời kỳ lịch sử trước đó và so với các miền đất khác. Di sản văn hoá xứ Huế không chỉ phong phú, không chỉ đặc sắc, mà còn kiệt xuất, bởi nó sở hữu rất nhiều những cái duy nhất.

  • BEATRICE KALDUN         (Nhân viên chương trình Văn hoá của UNESCO tại Bangkok)Xin chào quý vị đại biểu!Hôm nay, tôi xin bày tỏ sự vui mừng khi có mặt tại đây, đại diện cho Ngài Richard Engelhardt, Cố vấn Văn hóa khu vực châu Á - Thái Bình Dương tham gia cuộc Hội thảo về vấn đề bảo tồn và phát triển hội nhập của Huế, một trong những di sản quý giá nhất của Việt Nam và Thế giới.

  • PHAN THUẬN ANSự quan hệ công tác giữa UNESCO với Việt Nam đã bắt đầu có từ hơn 50 năm về trước. Nhưng, sự hợp tác chặt chẽ để mang lại những hiệu quả thiết thực và hữu ích cụ thể thì chỉ mới diễn ra trong vòng vài chục năm trở lại đây. Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Bộ Văn hóa Thông tin nước chủ nhà đã đóng góp những vai trò xúc tác quan trọng trong mối quan hệ làm việc giữa tổ chức UNESCO đóng tại Paris và các quan chức Việt Nam ở những tỉnh có di sản văn hóa và di sản thiên nhiên nổi bật.

  • PHAN TIẾN DŨNGHuế một vùng non sông kỳ tú, với sự sáng tạo của con người đã lưu giữ trong lòng mình những tài sản vô cùng quý giá. Một trong những giá trị nổi bật mang tính toàn cầu là Quần thể Di tích Huế đã được công nhận vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới (World Heritage List) ngày 11-12-1993. Bên cạnh đó, Huế còn là hội điểm về những di sản vật thể vừa phong phú vừa đa dạng. Từ mảnh đất này đã hình thành nên những phong cách, tạo nên nhiều loại hình nghệ thuật, đã sinh thành nhiều tài năng, đã hội tụ nhiều danh nhân để góp phần nên một Huế vừa mang đặc trưng bản sắc Việt Nam, vừa có sắc thái riêng của một vùng đất Cố đô.

  • NGUYỄN VĂN MỄ                    (Trích)Huế - thành phố lịch sử, một trung tâm văn hóa du lịch, là vùng đất có bề dày văn hóa với những tầng văn hóa khác nhau: di chỉ Khảo cổ học thời Tiền, Sơ sử; các dấu tích của văn hóa Sa Huỳnh; văn hóa Chămpa; văn hóa Đại Việt... và vô cùng quan trọng là hệ thống di tích Cố đô được xây dựng dưới vương triều Nguyễn.

  • LƯU TRẦN TIÊUHiếm có một miền đất nào mà ở đó những giá trị văn hóa lại đậm đặc, phong phú, đa dạng và đặc sắc như ở Huế. Từ góc nhìn địa - chính trị - văn hóa, xứ Huế xưa như là một vị trí chiến lược trọng yếu, vừa là cầu nối, vùng đất mở, vừa là nơi diễn ra sự chồng lấn, dung hợp, tiếp biến các vùng văn hóa, các dòng văn hóa để tạo dựng thành một trung tâm văn hóa trên cái nền chung của văn hóa Việt Nam, lóng lánh những nét riêng đặc sắc của mình.

  • NGUYỄN QUỐC HÙNGNăm nay, chúng ta kỷ niệm 10 năm Quần thể Di tích Kiến trúc Huế được ghi vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới của UNESCO, 10 năm với rất nhiều thành tựu đổi thay. Nhớ lại chỉ sau 5 năm trở thành Di sản Văn hóa Thế giới, Tiến sĩ Richard Engelhardt chuyên gia về văn hóa khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO đã mạnh dạn tuyên bố: “tình trạng cứu nguy khẩn cấp của khu di tích Huế đã qua đi” và “chúng ta chuyển từ giai đoạn khẩn cấp sang giai đoạn ổn định trong chiến dịch vận động bảo tồn di tích Huế”(1)

  • NGUYỄN KHOA ĐIỀMTrong các di sản văn hoá ở nước ta, Huế giữ một vị trí đặc biệt. Chính vì thế mà ngay sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giữa bộn bề công việc, Đảng và Nhà nước ta vẫn dành cho di sản văn hoá Huế sự quan tâm thích đáng. Dù chưa tập hợp được hồ sơ đầy đủ, chưa có được nguồn kinh phí thoả đáng, nhưng từ năm 1979, Nhà nước ta đã có văn bản đặc cách quy định việc bảo vệ di tích thành nội Huế.

  • PHÙNG PHUCách đây vừa tròn 10 năm, ngày 11 tháng 12 năm 1993 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng đối với Huế và với cả nền văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam: Quần thể Di tích Cố đô Huế đã chính thức được UNESCO ghi tên vào danh mục Di sản Văn hoá Thế giới với dòng chữ “Ghi tên vào danh mục này là công nhận giá trị nổi bật toàn cầu của một tài sản văn hoá hoặc thiên nhiên để được bảo vệ vì lợi ích của nhân loại”. Lịch sử vùng đất Phú Xuân- Huế với Di sản Văn hóa Thế giới đầu tiên của Việt Nam mở ra một trang mới, giang rộng vòng tay đón bè bạn trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu và truyền đạt kinh nghiệm trong công việc bảo tồn và phát huy giá trị.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCSau Hiệp định Paris năm 1973, Thành uỷ Huế chủ trương phải xây dựng thêm các tổ chức cách mạng biến tướng để tập hợp lực lượng trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên ở nội thành; tạo cho được những hoạt động công khai, hợp pháp nhằm thu hút quần chúng ở vùng địch tạm chiếm hướng đến mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc, đòi dân sinh, dân chủ, tiến tới đòi thi hành Hiệp định Paris.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCCách đây gần tròn 50 năm, từ Đại hội Anh hùng Chiến sĩ Thi đua lần thứ 3 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động chiến dịch “Vì miền Nam ruột thịt”. Thực hiện chủ trương nầy, năm 1957 Bộ Văn hoá và Thư viện Quốc gia Việt Nam đã chính thức chỉ đạo 26 thư viện các tỉnh và thành phố ở miền Bắc xây dựng trong lòng mỗi thư viện một “Thư viện Kết nghĩa” vì miền Nam ruột thịt theo quan hệ kết nghĩa giữa các tỉnh, thành Bắc-Nam.