LGT: Nhà văn, nhà nghiên cứu sử học và văn hóa Mỹ Jon Holmes sinh ra tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng công nghệ Texas nơi ông từng tham gia phong trào nhân quyền và phản chiến, Jon Holmes chuyển đến New York làm việc cho một tạp chí nhiếp ảnh và phụ trách một chương trình sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ hiện đại cho một đại công ty ở Bos- ton.
Tác phẩm của Jon Holmes được giới thiệu trên các tạp chí Village Voice, Boston Phoenix, và Boston cùng nhiều ấn phẩm báo chí khác. Ông cũng chính là tác giả của hai tập sách nghiên cứu về lịch sử Texas: Texas Self Portrait và Texas Sport: The Illustrated History được minh họa bởi các tác phẩm của nhiếp ảnh gia Ansel Adams. Jon Holmes giành giải thưởng phim ảnh của hội đồng ACLU ở Masachusetts, được ghi danh là Người của Năm do the Ethical Society of Boston đề cử. Jon Holmes hiện sinh sống tại Lubbock, Texas với tư cách là một nhà văn nhà nghiên cứu tại Thư Viện Đặc Biệt Miền Tây Nam Texas.
Chùm truyện ngắn rút trong tập bản thảo Bầy Trẻ Cỏ Dại của Jon Holmes được Sông Hương trân trọng giới thiệu qua bản dịch của nhà văn Văn Cầm Hải đã vén lộ những góc nhìn tinh tế, hòa quyện phong cách giữa truyền thống và hiện đại, chất thơ mộng và hoang dã của văn hóa miền viễn tây Hoa Kỳ trong ngôn ngữ chứa đầy ẩn ức tâm lý của Jon Holmes.
JON HOLMES
Ký ức sân vườn
Khi gia đình tôi chuyển vào nhà của Nathaniel Cobb, đó là lúc kết thúc các cuộc đàm phán giữa các cường quốc kình địch ký kết hiệp ước với nhau, ngay cả khi lần này kết quả cuộc đàm phán giống với những gì diễn ra ở Munich hơn là Yalta.
Anh biết không, cha tôi là một người làm vườn. Ông lớn lên ở trang trại và vì vậy hai thập kỷ cư dân đô thị cũng không làm hao mòn mùi đất thôi thúc trong những móng tay hay nhu cầu được xem những chồi xanh vươn lên từ lòng đất của cha tôi. Ở căn nhà mà chúng tôi thuê trước đó, ông đã tạo ra được một bãi cỏ tươi tốt và vườn rau xanh tươi sai trĩu quả từ một con đường nhỏ vốn đầy đá, thùng phế phẩm và phụ tùng xe đạp rỉ rét. Nơi đó chúng tôi gần như có một cõi sống rong chơi ngoài trời trong mùa hè.
Tôi sẽ chẳng bao giờ hiểu nổi tại sao mẹ tôi lại muốn chuyển tới căn hộ mới. Căn hộ mới nhỏ hơn, nằm ở nơi ít thuận tiện hơn và tất cả các bức tường bên trong nhà bị phá làm cho nó không bao giờ có không gian riêng tư. Những gì có lẽ đáng để bù lại là một khu vườn nhỏ, đổ nát và đã nhiều năm không bàn tay chăm sóc ở sân sau.
Nat và Emily Cobb sống ở tầng trên. Con của họ đã lớn lên và đi khỏi đây, có lẽ họ đã sử dụng khu vườn tầm khoảng ba buổi tối mùa hè. Thất thường từ trong bản tính, Nat rất thích cà chua tươi nhưng bực bội với công việc làm vườn.
Trước khi chúng tôi chuyển tới, mẹ gặp nhà Cobbs để đàm phán về hợp đồng thuê, theo yêu cầu của cha tôi, cả việc sử dụng sân sau và khu vườn. Vào lúc đó, Nat có vẻ vui mừng khi khách hàng tiềm năng sẽ giúp ông chăm sóc nơi ấy. Tôi nghe thấy ông nói với mẹ, “Chắc chắn rồi, cứ sử dụng tất cả. Dù sao chúng tôi sẽ phải tới nhà con rể để lắp đặt các thiết bị cho vườn nhà nó, thế nên chúng tôi sẽ ở đó cả tháng Tám. Tất cả tôi cần ở đây là chỗ cho một vài cây cà chua Big Boy.” Tất cả mọi thứ được giải quyết như là vấn đề Ba Lan trong các hiệp ước.
Vào một ngày mùa xuân chúng tôi chuyển đến nhà mới, cha tôi mang cái hộp đầu tiên đi thẳng tới cửa kính trượt ở đằng sau để xem những gì ông phải làm. Khi tôi lững chững đi vào với túi đồ chơi, tôi cảm thấy rất khó hiểu thấy ông vẫn đứng đờ đẫn giữa phòng, há hốc mồm, mắt đăm nhìn ra sân. Nat lúc đó đang đào bới khu vườn, rõ ràng là đang trồng cây vào từng phân vuông.
Cha tôi cực kỳ thất vọng nhưng vẫn giữ được bình tĩnh. Sau một vài tuần thu xếp đồ đạc và định cư, ông bắt đầu làm việc trên phần cỏ của sân. Thật không may, có vẻ như mỗi khi ông chạm vào một cây bồ công anh hay cành non cỏ dại, Nat lại huýt còi từ ban công của mình với vẻ vô vùng giận dỗi. Có lẽ ông ta nghĩ việc làm cỏ của cha tôi ngụ ý một lời chỉ trích về cách ông ta duy trì tài sản của mình. Tháng tám đến, nhà Cobbs đi chơi một tháng, tất cả mọi thứ trong khu vườn đã chết ngoại trừ cỏ dại tràn lan. Cha tôi thà ngồi trên bậc thềm trước nhà ngắm nhựa đường còn hơn là nhìn cỏ dại.
Mùa xuân đến, mẹ tới gặp Nat một cách nghiêm túc để nói về lời hứa cho phép chúng tôi được sử dụng vườn của ông. Mẹ đứng trên ban công cùng với tôi, Nat và một cô con gái của ông ta để khảo sát khu vực đó. “Tất nhiên”, Nat nói, “tôi ghét công việc vườn tược và tôi lại phải làm vườn cho nhà rể tôi lần nữa trong năm nay, vì vậy cứ làm hết ở đây đi. Trồng toàn bộ những gì gia đình ông bà muốn, hoặc ông bà có thể để lại cho tôi hơn hai mươi mét vuông để trồng cà chua của tôi trong đó là được.”
Mẹ cảm thấy nhẹ nhõm còn cha rất vui mừng khi chúng tôi thỏa thuận được với Nat. Thứ bảy kế tiếp, ngay từ sớm, tất cả những gì có trong ngày của cha tôi là những cuốc và xẻng, cánh tay lao động và mồ hôi. Ông xóa bỏ và gây dựng lại khu vườn từ thảm họa của năm trước. Cha tôi xới lớp bụi bay trên mặt đất hòa trộn với phân bón được pha với vôi. Toàn bộ đống hỗn tạp ấy được thay thế cho lối canh tác hao mòn. Cha tôi tiếp tiếp làm cho chúng trở nên trơn tru như từng ô vuông như trò chơi bowling của người Ý và mang đi bón cây. Ông gieo hạt giống cà rốt rất sâu, hạt rau diếp, rau bina dưới bóng mát của một cây to và đậu Hà Lan bên cạnh hàng rào. Đến cuối ngày, cả khu sân vườn mịn đất, ngay cả trong phần đầu của khu vườn, nơi mà ông chuẩn bị cho Nat trồng cà chua.
Chủ nhật, một thảm họa xảy ra trong khi chúng tôi lái xe thăm thú vùng quê thôn dã. Khi trở về, chúng tôi không thể tin được trước mắt mình khi thấy Nat đang cào xới trong vườn. Ông ta vứt hết tất cả các hạt giống của cha đi và trồng lại bằng hạt của mình trên toàn bộ chiều dài và chiều rộng của khu vườn.
Tôi mừng là cha không có một khẩu súng lúc đó, nếu không thì ông có thể đã sử dụng nó như một hành động công lý cao cả hơn so với bất kỳ hành động nào tòa án có thể đạt tới. Tất nhiên, một trong những điều may mắn của nền văn minh là nó cho chúng ta lựa chọn. Chúng tôi không còn bị giới hạn trong thù địch, nên chiến đấu hay bỏ chạy nữa. Bây giờ chúng tôi có thể lựa chọn sự tuyệt vọng.
Cha tôi rút lui. Mặc dù ông gần như không bao giờ mạo hiểm đi từ các căn hộ nhỏ vào sân và cũng không bao giờ đề cập đến nó với chúng tôi dẫu rằng ông vẫn ngồi hàng giờ trên các bậc thềm nhìn chằm chằm vào khu vườn. Bụi hoa hồng đã chết vì bị Nat bỏ bê, cha cũng im lặng. Khi Nat sử dụng chất hóa học mạnh, vụng về làm vung vãi trước khi tưới nước, để lại các dấu cỏ cháy ngoằn ngoèo trên sân, cha tôi cũng cho qua mà không một lời than phiền.
Đến mùa hè thứ hai, Nat càng trở nên ám ảnh với tiềm năng trồng cà chua tươi của ông ta. Một tá cây cà chua chen chúc nhau trong vườn rau, sau đó một nửa tá được trồng trong chậu nhựa màu xanh lá cây lớn chặn hết lối đi trong khu vườn. Cuối cùng, lớp hoa trang trí cũng biến mất để thay thế bằng “sự màu mỡ” của Nat. Đến giữa tháng bảy, Nat đã có tổng cộng hai mươi bảy cây, và khi các cây lai khổng lồ phát triển nhất, cái sân nhỏ gần như không có chỗ để đi vào.
Tất nhiên, tôi còn quá trẻ để nhớ tất cả mọi thứ đã xảy ra vào mùa hè năm đó. Tôi tin rằng tôi nhớ nhà Cobbs rời đi vào cuối tháng bảy, vì họ thấy nhà quá yên tĩnh. Tuy nhiên câu chuyện trở về của họ đã được kể đi kể lại rất nhiều lần tới mức ký ức của tôi không còn chắc chắn ngay cả những việc tôi chứng kiến tận mắt.
Nhà Cobbs trở lại vào rạng sáng ngày quốc tế lao động sau cả một đêm lái xe dài mà Nat từ chối chia sẻ tay lái. Mắt ông mơ màng bởi hàng lít cà phê bên đường. Emily chạy thẳng lên lầu, và Nat phải đã thực hiện hàng chục chuyến di chuyển tất cả các đồ dùng gia đình như va li, túi vải thô, đồ chơi bãi biển, quà lưu niệm, dụng cụ nấu nướng và thiết bị hi-fi. Đối với tôi, nó giống như một bộ phim hoạt hình sáng thứ bảy về một tổ kiến nhưng chỉ có một con kiến đi đi lại lại, lên lên xuống xuống trong vội vã vì nó vô cùng đơn độc.
Cha và tôi lúc đó đang chơi trên cái hiên nhà mà vào thời gian đó nó tựa như là một cao nguyên nhỏ nhô lên từ khu rừng nhiệt đới của cây cà chua và quả của chúng bị hỏng nằm lăn lóc trên mặt đất. Tiếng chuông điện thoại reo, cha đi vào bên trong để trả lời trong khi tôi tiếp tục chơi một mình.
Ngay sau đó cánh cửa vách ngăn bật mở. Nat hiện ra ở tầng hầm với máy cắt cỏ quyền lực của mình, bắt đầu thực hiện một điệu nhảy Dervish làm nền đất rung lên bần bật. Cắt xén, lá, cành và những đống quả Big Boys chín đã bật ra khỏi mặt đất. Bột cưa từ hai mươi bảy cây phun ra mọi hướng, trên bức tường, trên hàng rào và trên các loại cây khác.
Đột nhiên Nat dừng lại, cào điên cuồng ở ngực và sờ soạng tìm cách hỗ trợ bằng tay kia khi một chân trượt trên đống cà chua bị rụng. Ông đổ sụp xuống đất, giật hai lần, sau đó nằm bất động và máy cắt tiếp tục chạy mà không cần sự điều khiển của ông, vượt qua hàng rào và nghiền nát những cây hoa. Đống quả bị tàn phá có màu mè xanh đỏ như đồ trang trí Giáng Sinh.
Bằng cách nào đó cái máy cắt đang gào rú với những dây dợ gây chết người không bao giờ đụng phải Nat. Và nó cũng không bao giờ chạm vào tôi khi tôi đi quanh khu vườn trần trụi để nhìn vào cái miệng im lặng và đôi mắt mơ hồ của Nat mở rộng trân trân dưới bầu trời cuối hè. Những điều này làm phiền sự kỹ tính thời thơ ấu của tôi khi mà tôi biết tất cả mọi thứ đều thuộc về một nơi nào đó và yêu cầu nó được đặt vào nơi ấy ngay lập tức. Tôi cúi xuống, nhẹ nhàng đặt một quả cà chua chín trên mỗi mắt và một quả ở miệng mở to của Nat. Sau đó, tôi lững thững quay lại, leo lên hiên nhà, mở cửa và đi vào trong để chơi, tràn đầy sự hài lòng vì đã làm tất cả mọi thứ tôi có thể.
Cha tôi dừng cuộc điện thoại và đi ra ngoài gặp tôi. Những gì ông tìm thấy, tất nhiên, là Nat, dính đầy những tàn dư của khu vườn của mình. Chiếc máy cắt của ông ta đã bị mắc cạn sau khi chạy qua hàng rào xung quanh đống phân cha tôi ủ một năm về trước. Cha tôi chạy lại trong sợ hãi và vô cùng mừng rỡ khi thấy tôi an toàn. Sau đó ông nhanh chóng gọi xe cứu thương mặc dù nó đã quá muộn để có thể làm gì đó với Nat.
Năm tiếp theo, cha sửa sang vườn và bãi cỏ của mình với sự giúp đỡ của Emily Cobb. Vào những buổi tối mùa hè dài, cô đi xuống cầu thang và ngồi với chúng tôi trong sân. Chúng tôi kể chuyện cười và tôi trồng chuối rồi chơi những trò chơi nguy hiểm khác để Emily thấy vui. Khi đã nghỉ hưu, cô dời đến Florida. Emily bán nhà cho chúng tôi với một mức giá thực sự hấp dẫn và chúng tôi di chuyển vào căn hộ trên lầu rộng rãi hơn.
Cha trồng một bụi cây hoa hồng để tưởng nhớ Nat. Cây hoa hồng leo lên tầng ba trổ hoa rạng rỡ phía sau ngôi nhà. Cỏ xanh cùng các loại rau lớn lên tươi mươi và cuối cùng các cây cà chua không bao giờ mọc đè lên lớp hoa một lần nữa.
Cha và con
Joe rất tự hào về con trai của mình, ngay cả khi nó không có tên Joe, Jr. Đó từng là một chủ đề đau đầu và dường như chỉ được giải quyết khi vợ ông đi vào phòng sinh. Joseph nếu nó là một cậu bé, Josephina nếu đó là một cô bé. Nhưng giấy khai sinh lại là “Joel”. Cô quyết định lấy khác chỉ vì cái tên kia “có vẻ quá Công giáo” trong khi cả hai vợ chồng đều là kẻ ngoại đạo.
Khi cậu bé lớn lên, Joe cố ý để dành nhiều thời gian với con trai nhưng công việc của Joe vô cùng bận rộn đòi hỏi rất nhiều việc vào những ngày cuối tuần dành cho các sự kiện đặc biệt. Sau đó là sân golf và bóng đá trên truyền hình trong những đêm dài. Mọi người ghé thăm và gia đình lại có thêm các thỏa thuận. Tất cả trượt qua thật nhanh.
Ngay cả khi Joe thực hiện một nỗ lực đặc biệt, hiếm khi việc xảy ra theo cách ông đã hy vọng. Một lần ông đưa Joel đi cùng tới chỗ thuê nai để bắt đầu chuyến đi săn đầu tiên của Joel. Chủ đất gọi khi họ lái xe qua và nói: “Anh ở đây với súng của tôi. Tôi có một con bò bị bệnh cần phải hạ xuống. Anh có nghĩ rằng anh có thể làm việc đó cho tôi không?”.
Joe đồng ý. Ông nạp đạn súng trường, nhằm vào bên hông còn bò đang chảy nước dãi yếu ớt và bóp cò. Nhưng thay vì nằm lăn ra, con bò già quay lại và đứng thẳng lên. Vì vậy, ông bắn một lần nữa, nhưng con bò chỉ có cái nhìn trầm trọng hơn và có phần xấu hổ mà thôi.
“Hãy để con thử, cha”, Joel nói. Joe bàn giao súng trường và Joel bắn 2 viên đúng vào nơi mà nếu là 1 con nai, đó sẽ là chỗ của trái tim. Vào lúc đó, việc bắn con bò đã thu hút được vài người cùng đi cắm trại với họ, những người lái xe bán tải khác. “Lạy Chúa Giêsu, con trai,” một trong số họ nói, “nó sẽ chết vì bệnh Alzheimer trước khi cháu đi qua.” Cùng lúc ấy, ông ta rút khẩu súng lục của mình và bắn 1 viên vào trong hộp sọ, ngay giữa hai mắt, và con bò nằm xuống. Chủ đất ngừng sử dụng máy kéo, ném một dây xích lên xác súc vật, kéo nó đi đến cái hố đào sẵn.
Xung quanh cái hố, buổi đêm hôm đó, tất cả cùng tán gẫu. Mọi người nói đi nói lại về trò đùa của lão già Larry với con ngựa của ông bị gãy chân và một vết thương do đạn bắn. Joe say nghiêng ngã, vấp vào một gốc cây và ngã vào gần chỗ lửa cháy. Joel mộng du trong giấc ngủ, miệng lảm nhảm “Chúng ta phải trở nên mù lòa trước bình minh.” Không một con nai nào đã bị hại trong chuyến đi.
Trong những năm thiếu niên, Joel đã luôn luôn chứng tỏ là một người làm việc chăm chỉ giống như cha của mình. Joel hối thúc hàng xóm cắt cỏ. Joe mua máy xén cỏ và có ý định dạy cho cậu bé tiết kiệm bằng cách bảo nó trả tiền cho khoản đầu tư. Khi đã đủ tuổi, Joel đã làm việc cho một dịch vụ cảnh quan và tìm hiểu về các loài cây cổ thụ và thuốc diệt cỏ khác, buôn bán ở Bermuda vào mùa xuân về phân bón với phốt pho và kali.
Joe đã giúp Joel mua một chiếc hotrod màu đỏ khổng lồ, bánh xe quá khổ và có tiếng gầm động cơ diesel khàn khàn. Joel để xe trong nhà, dùng sân trước như một nơi trưng bày, ngay cả khi sân sau chưa bao giờ được nhổ cỏ. Việc này xuất phát từ sự đồng bóng nhất thời và các ưu tiên khác của người đàn ông trẻ.
Em gái của Joel cũng có nhu cầu và ham muốn, bao gồm cả giáo dục tư nhân, đồng phục thể thao, một chiếc xe hơi và tất cả những thứ khác đi kèm. Sức khỏe của mẹ trở nên tồi tệ, bà đã bị buộc phải ngừng làm việc. Mỗi đêm khi trở về nhà sau một ngày bị cháy nắng và bám đầy bụi, Joel dỡ đồ ra từ xe và chuyển tất cả các thiết bị của ông chủ vào nhà để xe của gia đình. Sau đó, bất chấp những hạn chế của mùa hạn hán, Joel mở vòi phun nước trong khi anh kì cọ. Anh dịch chuyển vòi phun nước trước khi ăn bánh pizza mà mẹ đã đặt. Ăn xong, Joel lại chuyển dịch vòi phun nước. Trước khi Joel rời đi Joel nhắc cha mình tắt nó đi.
Bởi vì bia và vì ông chỉ lắng nghe với một tai mà tai kia đang nghe điện thoại hoặc cố gắng để nghe nhạc liên tục, Joe thường xuyên không nắm bắt được những gì Joel nói. Đôi khi ông quên mất. Đôi khi nước chảy cho đến khi Joel về nhà một lâu sau khi Joe đã đi ngủ. Ngay ngày hôm sau, khi Joe rời đi trước khi bình minh còn Joel, người không thể cắt cỏ cho đến khi hết sương, đang thi đua trở thành một thiếu niên điển hình lười biếng thì mọi việc không có gì xảy ra. Tuy nhiên mỗi tháng 1 lần khi hóa đơn tiền nước đến, cuộc cãi cọ bắt đầu.
Joe phục kích Joel vào cuối ngày, trước khi Joel đi tắm, lúc Joel ở vào thế yếu nhất của mình. Joel sẽ càu nhàu nhưng để dành những chỉ trích khắc nghiệt nhất của mình cho mẹ vào ngày hôm sau khi anh ta tỉnh dậy và Joe đã biến mất. Vào cuối tuần Joel sắp xếp qua đêm ở nhà bạn để tránh mặt ông già.
Một trong những ngón nghề Joel đã được học hỏi từ ông chủ của mình là việc lắp đặt hệ thống phun nước với các van chảy ngược và đồng hồ bấm giờ theo yêu cầu của cơ quan cấp nước thành phố. Giống như tất cả những chàng trai trẻ, anh rất tự hào về thành tích của mình. Anh cũng cho rằng, “Đây là một cách để giữ cho các sân đẹp, tiết kiệm nước và tránh được cha. Tất cả cùng một lúc.”
Vì vậy, anh xin nghỉ ngày hôm sau, và trong khi Joe đang làm việc, anh đã tìm ra đường để cài đặt một hệ thống phun nước từ trên cao, đánh dấu sự sắp đặt bằng lá cờ màu cam trên bãi cỏ của cha mình. Anh đánh giá các thành phần, tìm ra các rãnh và liên lạc với thợ sửa ống nước để trả giá cho việc cung cấp nước trong nhà. Anh thậm chí còn dự kiến thời gian của mình trong công việc để có thể bảo Joe chính xác ông sẽ tiết kiệm được bao nhiêu tiền nhờ có một người con trai thông minh.
Khi Joe đi vào và thấy sân phủ đầy lá cờ như một lễ hội cầu nguyện Hinayana, ông thực sự thấy mình như một cỗ xe yếu ớt. Thế chấp nợ nần, các khoản thanh toán xe tải và học phí đang ăn mòn ông - và bây giờ là cái này! Ông biết Joel đã cam kết một khoản chi phí ông không bao giờ có đủ khả năng trả. Ông sẽ cảm thấy xấu hổ trước mặt mọi người: gia đình, những người hàng xóm, ông chủ của Joel. Ông ngồi trong xe tải và bật nút chai whisky Two Dogs ông đã lượm được trên đường về nhà.
Ở bên trong, mẹ của Joel đã trở nên quan tâm và bảo anh ra kiểm tra Joe. “Cha nghĩ gì vậy cha?” anh hỏi trong khi tiến tới xe tải. “Cha nghĩ rằng chúng ta không đủ khả năng chi trả”, Joe trả lời con trai. Joe đã bị sốc bởi lời giải thích của Joel, rằng “Cha thậm chí không biết giá tiền của nó! Con đã có một chiết khấu tuyệt vời.”
“Ồ, con nên hỏi ý kiến cha trước. Kể cả là một xu nó cũng nhiều hơn những gì cha có thể trả.”
Ngay lúc đó, Joe mở cửa xe, đánh Joel sang một bên, đi vào nhà với bình rượu trong tay. Joel vo viên những ghi chú, bản vẽ của mình lại và ném chúng ra đường phố. Anh ta nắm lấy điện thoại di động của mình và quay số một người bạn. “Có chỗ cho tao không?”. Anh hỏi tiếp: “Xe của tao thì sao?”. “Yeah,” anh nói, “Tao đã chịu đựng quá đủ với đống phân bò này rồi!”
Anh bốc lên xe máy cắt, máy mài, máy thổi và lon cao su và thẳng tiến với cái xe tải thế chấp của mình. Anh lấy chìa khóa nhà từ thắt lưng ra và ném chúng vào nhà để xe. Khi lái xe đi trong một đám mây khói diesel Joel vẫn có thể nhìn thấy những lá cờ màu cam rung lên trong gương chiếu hậu của mình.
Cuộc đối thoại mang màu thạch tín
“Hãy cho tôi biết, cái gì mang ông đến đây?” Dorothy Fredericks luôn luôn bắt đầu bằng một câu hỏi trực tiếp như thế. Cô cần nó làm mồi để giảm căng thẳng cho người đối diện khi họ bắt đầu nói.
Tuy nhiên thời gian này, các bệnh nhân tương lai (cô luôn luôn nhìn nhận họ như thế cho đến kỳ kiểm tra đầu tiên được rõ ràng) rất thoải mái. Eldrich Alden DeFord hành động như thể ông đã được sinh ra ở nơi này, nhưng có vẻ ở bất cứ đâu ông ta cũng như thế.
“Giấc ngủ của tôi bị xáo trộn”, ông nói. “Tôi không lúc nào được nghỉ ngơi và nó ảnh hưởng đến tất cả mọi thứ tôi làm, ngay cả khi tôi chơi trò quần vợt.”
“Có lẽ tôi có thể giúp. Ông có chơi thường xuyên không?”
“Vâng, hàng ngày, nhưng đó là thực sự là nằm ngoài chủ đề. Tôi đọc luận án của cô về thiếu ngủ ở thư viện đại học Yale và nghĩ rằng nó cho thấy cái nhìn sâu sắc thực sự của cô”.
“Ồ ông quá khen, ông DeFord. Hay tôi nên gọi ông bằng cái tên khác?”
“Ed cũng được. Đó là cái tên bạn bè của tôi sử dụng. Trong các hợp đồng của công ty và các hội cựu sinh viên tôi đều được gọi là ‘E. A.’. Mẹ tôi thì luôn gọi tôi là Bunny. Nhưng tôi chắc chắn đặt bản thân tôi vào phía trước. Tôi nên gọi cô là gì?”
“Tôi yêu cầu khách hàng của tôi gọi tôi là tiến sĩ Fredericks để duy trì một bầu không khí chuyên nghiệp.”
“Nhưng cô không phải là một bác sĩ thực sự, phải không? Mặc dù tôi hiểu cô có bằng cấp cao trong lĩnh vực này.”
“Vâng, Ed. Nếu chúng tôi quyết định rằng ông cần thuốc hoặc một cái phân tích lỗi thời, tôi sẽ hợp tác với một số bác sĩ tâm thần giỏi nhất ở đây.”
“Thật tuyệt vời, tiến sĩ Fredericks. Nhưng về giấc ngủ của tôi...”
“Trước tiên cho tôi hỏi, đây có phải là chứng mất ngủ? Ông có gặp khó khăn khi rơi vào giấc ngủ, hoặc có thức giấc vào ban đêm không?”
“Thật ra là vế sau. Tôi bật dậy ngay ra sau khi đầu chạm gối. Và trước khi cô hỏi, tôi duy trì một chế độ nghiêm ngặt vào buổi tối. Trừ khi chúng tôi đi ra ngoài, Babs và tôi có giới hạn là một cú đúp martini và một chai rượu nho khiêm tốn vào bữa tối. Cô ấy có một toa thuốc mà cô ấy uống trước khi đi ngủ nhưng tôi vẫn là kẻ hít thuốc lão luyện.
“Và ông có gặp bất kỳ căng thẳng bất thường trong công việc của ông hay cuộc sống gia đình không?”
“Công việc lúc nào cũng giống nhau. Tôi đã ngồi ở rất nhiều ban bệ, cô biết đấy, nhưng tôi không thực sự đi vào một văn phòng nào, về bản chất là kể từ khi rời công ty. Ở nhà thay đổi duy nhất đó là chúng tôi đang chuẩn bị cho đám cưới của cô con gái nhỏ, vì thế nên mọi thứ thật hỗn độn.”
“Điều đó có lẽ rất căng thẳng, tôi hiểu.”
“Ít nhất Jenny không kết hôn với một người Do Thái hoặc một người nào đó khác màu da, nếu cô hiểu ý tôi.”
“Thật may mắn, chúng chọn một đám cưới ở nhà thờ. Babs khẳng định, nhưng Jenny yêu cầu việc tiếp tân được đặt ở nhà. Khi các cô gái lớn kết hôn, chúng tôi đã tổ chức toàn bộ sự kiện tại câu lạc bộ. Phải bỏ ra một số trò lừa bịp và một cuộc bỏ phiếu đặc biệt của hội đồng, nhưng tất cả mọi người hạnh phúc hơn nhiều và nó đã diễn ra rất trôi chảy - Ý tôi là, họ có gặp vấn đề, nhưng không gây ra sự khó chịu ngay lập tức. Nhưng lần này, ý tôi là, chỉ cần tưởng tượng! Các lều trại, nơi cung cấp thực phẩm và các sàn nhảy, tất cả mọi cái cọc đổ ập vào bãi cỏ.
“Nó bao gồm rất nhiều công việc và lo lắng.”
“Và tiền! Cô không thể tưởng tượng những gì tôi phải trả giá để có được nơi này theo ý muốn. Hoặc có bao nhiêu người dọn dẹp sân bãi xuất hiện trong xe tải giận dữ và phải đỗ xe ngoài đường. Ở mức giá của họ không ai có thể yêu cầu nhiều lòng tự trọng. Họ nói tiếng Anh? Không. Và thậm chí nếu có một quản đốc phiên dịch, ông ta sẽ không bao giờ ở nơi bạn cần khi vài chú hề làm bẩn chỗ này bằng những cái cây đáng lẽ phải bỏ đi. Và khi gánh xiếc một ngày này xong việc sẽ mất nhiều năm nó mới quay trở về.
“Tôi có thể thấy rằng nó đang làm ông rối loạn.”
“Tất nhiên rồi! Tôi thức dậy mỗi đêm với giấc mơ này, về Fidel Castro và về người đàn ông nhỏ màu xanh xuất hiện tại đám cưới.”
“Người đàn ông nhỏ màu xanh? Cho tôi biết thêm về họ đi.”
“Không có nhiều điều để nói. Chúng cao khoảng năm feet, đi dép và da của họ màu xanh tươi sáng”.
“Bạn có thể nghĩ ra bất kỳ hiệp hội nào trong quá khứ với các nhân vật hay màu sắc không bình thường như vậy không?”
“Một lần tôi đọc một số báo cáo từ văn phòng địa phương của Cuba của chúng tôi, trước khi anh em nhà Castro chiếm mất. Có một số loại nấm tấn công những lùm cây cọ dầu. Gốc cây Ganoderma thối rữa, hoặc một cái gì đó như thế. Cách chữa trị duy nhất là phun thạch tín lên ngọn cây. Phun nó rất đắt tiền, và Batista không cho phép máy bay hoạt động bởi vì chúng có thể mang theo súng từ Miami hoặc Yucatan.”
“Tại sao mà chuyện này làm ông liên tưởng tới màu sắc?”
“Ồ, chất thạch tín mà họ sử dụng có màu xanh tươi sáng. Hoàn toàn an toàn. Tôi đã chứng kiến một trong những tên đội trưởng uống một tách thứ đó để chứng minh. Cơn mưa nhớp nháp rơi xuống những người làm đồng và sơn họ. Người dân địa phương gọi những người đàn ông này là “vẹt” bởi vì đầu của họ được nhuộm màu xanh, ngay thông qua cái mũ sombreros của họ”.
“Đó hẳn là một tổ chức lớn mạnh. Nhưng tại sao là Fidel Castro?”
“Trong những ngày đầu, một số người tại các công ty muốn Castros thành công vì họ đã mệt mỏi vì phải trả những kẻ đâm thuê chém mướn cho Batista. Nhưng đó là trước khi ông ta tuyên bố mình là một người cộng sản. Tôi biết điều đó từ lâu. Làm thế nào bạn có thể tin tưởng một người đàn ông trốn tránh đằng sau một bộ râu? Hãy nhìn những gì mà Lincoln đã làm cho chúng tôi! Nhưng một khi Fidel bắt đầu công cuộc chiếm hữu, chúng tôi buộc phải trả rất nhiều tiền để cố gắng kết liễu ông ta. CIA, Mafia, và rất nhiều nhà thầu tự do khác. Tất cả mọi người đều thử một lần. Một trong số đó xuất hiện trong các buổi điều trần Ủy ban Giáo hội trước Quốc hội và hội đồng quản trị quyết định rằng chúng ta nên đổi tên công ty để tránh tiếng xấu từ truyền thông phía cánh tả. Công ty quảng cáo đã đưa ra một cái gì khả quan với thị trường hơn là sản phẩm hỗn hợp quốc tế. Một vài lối chơi chữ trên phúc lợi xã hội, mặc dù tin tôi đi, chúng tôi không cho đi cái gì cả. Xây dựng thương hiệu, bộ phận quan hệ công chúng gọi nó là như vậy.”
“Ông DeFord, “cô nói,” Tôi sợ rằng tôi không thể giúp ích nhiều cho vấn đề của ông. Cái ông mắc phải không phải là giấc mơ. Đó là những bóng ma. Theo ý kiến cá nhân của tôi, ông không cần một nhà tâm lý học nhưng một vị linh mục. Và tôi có thể nói vậy vì tôi là người Do Thái. Tôi sẽ không lấy tiền công lần này của ông. Chắc hẳn ông có thể tự tìm thấy lối ra ngoài.”
Văn Cầm Hải giới thiệu và dịch
(SH293/07-13)
Tải mã QRCode
LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.
YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.
KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.
S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.
KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.
SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.
BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.
JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).
KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...
MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.
YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.
MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!
AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.
HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.
OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979 những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.
NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.
OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.
BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.
RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.