THY NGUYÊN
Ảnh: tư liệu
Viết khi con mười sáu
Tháng bảy. Trăng quên rọi tường ngõ nhà mình
Mẹ vớt vội vàng an nhiên bất định
Con và em xa mẹ một vòng ôm chặt
Giấc ngủ muộn. Mẹ nghĩ về bát canh thiếu bàn tay cha.
Con mười sáu hỏi câu gì cũng một nửa
Nửa gửi về đâu mẹ biết rồi quay đi
Mẹ cúi đầu chào những ăn năn đã gẫy
Mẹ cúi đầu chào những đêm mọc rễ trở trăn.
Tháng bảy. Hơi nước còn mong manh
Cơn mưa ru ngoan bốn bức tường xám lạnh
Con gối đầu cuốn sách tháng bảy
Ghi tên con vào cuốn sách đời mẹ an nhiên.
Tháng bảy. Trăm lượng mưa rơi cuối vồng vườn
Mẹ ôm con cách một vòng ôm biển rộng
Mẹ mơ ước mỗi sáng được chải tóc con mềm mượt
Ngắm con cười trong giấc mơ ngoan.
Chào cô gái tháng bảy nở mùa lược gương...
Ngày mai chị tái hôn
Bao hạt mưa
Nhân gian chọn dột về một hướng
Ướt tiếng dế vườn khuya
Ướt phía gối mẹ nằm.
Ngày mai chị tái hôn
Những cây cầu chạm đời Tô Thị
Cong queo bật rễ
Khắp ngả đường trơn
Vụn gằn hắt cũ
Táp bậc thềm rối quanh.
Ngày mai chị tái hôn
Cứ nghĩ gầu hớt giếng chua cần năm tháng gạn lành
Cơm canh chị dâng cuối ngày bọc vàn hiếu thảo
Hôm chị lược gương sửa soạn
Cha ngồi giữa sân quệt ngang mày mắt.
Tháng bảy
Cây nhãn già đổi mùa thưa thớt
Ngón tay khuya cha lần rượu cuối giường
Bậc thềm nhà mình đóng đinh nỗi nhớ
Mẹ ấp tay phải vào tay trái khóc ngang.
Tháng bảy
Trời đã kịp thương đâu mà tơ hồng vội thế
Se những tháng năm góa bụa vào ngăn
Ngày mai chị tái hôn
Cơn mưa nhớ bơi ngược
Ướt phía em thôi
Khô hướng chị đi…
Xa xăm quá gửi cầu xin vào núi
Trổ cùng cây
Cùng gió
Cùng mây.
Gửi bức tường
mái hiên
Con dốc.
Gửi người khâu lành vết đứt mới khô…
Trăm hiu hắt
Trăm lời thương
Buộc kín
Khoảng trống thưa
Lễnh loãng vỗ đau
Mưa dẫu sa
Nắng dẫu gầy
Nhà mình góc nhớ nở thương kín vườn…
(TCSH426/08-2024)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh