Nhà thơ Lưu Trọng Lư - Ảnh: giadinh.net.vn
Có những vườn không thuộc “Nghìn đêm lẻ” Đêm có sương trắng, ngày có nắng chan hòa Hoa đến mùa, gọi hoa Trái đến mùa, gọi trái Chẳng biết tay ai trồng Chẳng biết tay ai hái Chim không hề đụng tới Gió phong kín mùi hương Có những kẻ qua đường Vẫn gửi chút mồi hôi trả nghĩa… Xưa: đây có buổi họp rừng nắng xế Buổi họp dưới những vì sao Chia nhau chút chút hương cau Từng trái mãng cầu, từng múi bưởi Nơi đây có tiếng chào, không ngoảnh lại Anh đi! Em đi! Đồng chí đi Đường đầy bóng sói Phải xóa từng dấu chân Mà đời có những mắt nhìn Không xoá nổi? Có những giọng nói Có những giọng cười… Trong hầm mẹ, trưa nay Con nghe tiếng gà thôn bất chợt Ai biết? Gà ơi! Tiếng gà chót Của đời ta? Nếu em biết trước Ngày mai sẽ vĩnh biệt Em ơi! Em có mở đôi môi trinh tiết dâng đời? Nếu anh biết trước Chi bộ phải xóa ba lần Nơi hư không Chắc anh nghĩ: “không chỉ có thế! Nếu phải chết ba lần Thì sống một lần Phải xứng một lần hơn Giữa mùa hoa đỏ nở”. Chi bộ mình, đồng chí ơi! Giặc đã ba lần xóa sổ Sông cạn bao phen, sông chẳng dứt dòng Da tóc nầy còn xanh mãi với cây trồng Em vẫn có chim đêm, ngày có chim ngày ríu rít! Giữa những hàng cây bất diệt Võng tháo rồi, nghe mãi sóng chao trăng Huế Hà Nội 1983 Qua đèo Hải Vân Biển xanh chi lắm, biển mình ơi! Nắng sao gắt thế, nắng trưa ngày Mây đèo lửng thửng, chim đâu vắng? Chỉ có tôi và ngọn gió say. Bên kia Đà Nẵng, bên ni Huế Gió tự dòng Hương đã chạm mây Trời say muốn ngã theo màu tím Lòng say muốn ngã giữa vòng tay Dội nước vào tóc cho anh tỉnh Anh sẽ như chim hót cả ngày Anh chẳng soi gương tìm lại tuổi Theo dòng mắt cũ, thuyền anh bay. Huế 1-8-1983. (4/12-83) |
Tải mã QRCode
Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà