Chùm thơ Lưu Trọng Lư

10:14 26/08/2010
LƯU TRỌNG LƯCó những vườn

Nhà thơ Lưu Trọng Lư - Ảnh: giadinh.net.vn

Có những vườn không thuộc “Nghìn đêm lẻ”
Đêm có sương trắng, ngày có nắng chan hòa
Hoa đến mùa, gọi hoa
Trái đến mùa, gọi trái
Chẳng biết tay ai trồng
Chẳng biết tay ai hái
Chim không hề đụng tới
Gió phong kín mùi hương
Có những kẻ qua đường
Vẫn gửi chút mồi hôi trả nghĩa…
Xưa: đây có buổi họp rừng nắng xế
Buổi họp dưới những vì sao
Chia nhau chút chút hương cau
Từng trái mãng cầu, từng múi bưởi
Nơi đây có tiếng chào, không ngoảnh lại
Anh đi! Em đi! Đồng chí đi
Đường đầy bóng sói
Phải xóa từng dấu chân
Mà đời có những mắt nhìn
Không xoá nổi?
Có những giọng nói
Có những giọng cười…
Trong hầm mẹ, trưa nay
Con nghe tiếng gà thôn bất chợt
Ai biết? Gà ơi! Tiếng gà chót
                                    Của đời ta?
Nếu em biết trước
Ngày mai sẽ vĩnh biệt
Em ơi! Em có mở đôi môi trinh tiết dâng đời?
Nếu anh biết trước
Chi bộ phải xóa ba lần
Nơi hư không
Chắc anh nghĩ:
“không chỉ có thế!
Nếu phải chết ba lần
Thì sống một lần
Phải xứng một lần hơn
Giữa mùa hoa đỏ nở”.

Chi bộ mình, đồng chí ơi!
Giặc đã ba lần xóa sổ
Sông cạn bao phen, sông chẳng dứt dòng
Da tóc nầy còn xanh mãi với cây trồng
Em vẫn có chim đêm, ngày có chim ngày ríu rít!
Giữa những hàng cây bất diệt
Võng tháo rồi, nghe mãi sóng chao trăng

                                   
Huế Hà Nội 1983


Qua đèo Hải Vân


Biển xanh chi lắm, biển mình ơi!
Nắng sao gắt thế, nắng trưa ngày
Mây đèo lửng thửng, chim đâu vắng?
Chỉ có tôi và ngọn gió say.

Bên kia Đà Nẵng, bên ni Huế
Gió tự dòng Hương đã chạm mây
Trời say muốn ngã theo màu tím
Lòng say muốn ngã giữa vòng tay

Dội nước vào tóc cho anh tỉnh
Anh sẽ như chim hót cả ngày
Anh chẳng soi gương tìm lại tuổi
Theo dòng mắt cũ, thuyền anh bay.

                                   
Huế 1-8-1983.

(4/12-83)




Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất

  • Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác

  • Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy

  • Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh

  • HỒNG NHUChiếc tàu cau                        (Trích)

  • Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật

  • LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.

  • LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…

  • Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.

  • L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.

  • Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)

  • Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.

  • ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi

  • Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh

  • PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà