Cỏ xanh em Chạy trốn anh chạy trốn ngày lên dịu ngọt khuôn viên mắt tròn tiếng chim rơi mắc vào bụi cỏ cũng đô thứ lũ dế than khan giọng mùa hạ đỏ đôi môi em anh chạy trốn vùng cát tênh hênh gió giàn giụa giọt nắng mồ hôi em thơm tràn phố biển sóng vỗ bờ em luểnh loảng khua nhặt ký ức no đầy hơi thở sương mù hoang mang anh chạy trốn đêm chìm vào đất miền cao em nguyệt bạch ơ hờ câu thơ nào vừa rụng áng mây im lìm ngủ đậu trần truồng đỉnh sắc chênh vênh giọt nước mắt em dính vào mấy khuy áo mở toang chạy trốn ngọn tóc loang loáng bạc cỏ em xanh… Đằng sau mây trắng Đằng sau mây trắng không có những trần truồng cơn cớ lặng im hoang tàn ngôi làng sau cơn lũ quét, lặng im bơ vơ dải yếm tháo tung rồi bỏ vào cơn gió chênh chao trông ngóng, lặng im đêm cờ phướn rưng rưng giọt mẹ chết điếng xác con tàn hơi, lặng im chân kiến kiếm tìm loay hoay quanh đáy cốc trơn trợt… Đằng sau mây trắng không nưng nức tiếng thở dài của chị tháng chạp lầy bùn phiên chợ cơn giông, không tiếng chiêng kinh cầu bỏ ngỏ mùa thu cỏ đau quặn mình vàng vỏ, không bóng cha rộc rạc lưng nắng trưa hè đỏ lửa chú bò tức tưởi gặm nát mùa khô… Đằng sau mây trắng mở cửa chiêm bao he hé ngực trăng mênh mông ánh vàng đầy vun rộn ràng, ngân ngấn nồng nàn anh về lùa dậy tháo bỏ em vướng víu lụa bạch u trầm tháng giêng quàng xiết một cành môi thơm một nhành phong lan a ha a ha áo em tan mây qua cầu sạt lở nỗi buồn buông xó… Đằng sau mây trắng… Vắt Vắt qua bầu trời mờ cánh chim nhỏ Vắt ngang dòng sông trổ nụ hồng Vắt ngực tình em bay hương cỏ Vắt suốt mùa đợi một ngóng trông Vắt qua bầu trời cánh chim nghiêng Chiều bay Không tì vết Mây là thực thể Niềm tin tự mọc trên sườn dốc Vắt ngang dòng sông trổ Một nụ hồng Không cầu không nón (*) Cầu, nón màu vật chất Nụ hồng lễ vật Tâm linh Vắt ngực tình em bay hương cỏ Không quê mùa bồ kết Không hiện đại Michael Kols Cỏ dại anh dịu dàng mơn trớn. Lạ Vắt suốt mùa đợi một ngóng trông Nghe tiếng rơi tro bụi độ lệch một coma (**) Chết không có gì phải đợi. (nguồn: TCSH số 235 - 9 - 2008)
--------------- * nón: chiếc nón của công án Thiền ** coma: thuật ngữ âm nhạc, bằng 1/9 ton |
Tải mã QRCode
Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà