ĐỨC SƠN
Ảnh: tư liệu
Nhớ chái bếp
Trạm thương binh về đây
Cánh rừng rậm che phủ
Tiếng bom gầm xa bên kia trọng điểm
Lọt qua đêm pháo sáng
Lọt ác liệt, về nơi con né gọn tán rừng
Có mái tranh choãi chái bếp của mẹ
Đêm, những đoàn xe lao về phía trước…
Chái bếp thâm u
Lặng yên chảy trong veo dài con suối uốn qua
Dãi dầu mưa nắng, che mắt lá rừng
Mảnh vườn đơn sơ hơi ấm tình mẹ
Kháng chiến trường kỳ
Lau sậy phơi trắng dốc triền
Bất chấp muỗi, vắt, dội mưa nguồn, sốt rét
Có mẹ luồn tán rừng bao la
Vòng tay để đón các con về
Ấm nóng đun nấu
Cùng đồng đội đỡ đần thương binh
Ngày đêm, mẹ giữ than củi
Sức bền tươi ngọn lửa dựng nên
Quả cảm dưới bàn tay rắn rỏi
Dốc sức bừng cháy
Người mẹ ròng rã chẳng quản
dẫu còn thiếu bữa sắn, khoai
Tình mẹ khôn nguôi
Ăm ắp là đây niềm hy vọng
Trái tim mẹ vẫy đập vượt con đường gian nan
Ao ước ngày hòa bình
Khuya sớm mẹ mong
Chân cứng, đá mềm
Trường Sơn - đất nước sừng sững
Lời thề xẻ dọc…
Da diết miền A Lưới
Ngọn lửa chái bếp mẹ dành cho con.
Bọt nước về nơi cảng cá
Bọt nước hình vợi nổi, khuya chợ đông bến bươn
Neo mắt, mắc tình bến cá
Sóng đê mê mạn nước
Chung chao đưa xô về bọt biển
Cảng thuyền chen ngợp nào mong ngóng
Như mắc nợ bọt vô tư, cho không đòi lại
Bọt nước in hình áo bà ba nách rổ
Cánh tay sung vạm
Đắm đuối nhổ neo chào!
Tiếng sóng gió có vun bọt trắng
Cảng cá vén khuya qua cửa biển
Sóng dong và sóng buộc chuỗi nhớ hứa điều gì…
Chờm ngực thuyền con mắt đàn bà
Ruỗi đuôi con nước
Dòng hải lưu tự tình khúc mong đi biển
Điều chưa biết hết thấu trước khơi xa
Chưa đoán hình bọt nước vuông tròn cứ trôi!
Cảng ló khuya
Cột khuya, bình minh lo ló
Như thể máy đẩy giòn, rẽ ngôi sóng nôn nao
Buộc vương xanh hàng dương liễu
Nhớ lắm, bọt nước về nơi cảng cá.
(TCSH422/04-2024)
Tải mã QRCode
PHẠM TẤN HẦU
Tình yêu luôn là một huyền thoại và lịch sử kể qua câu chuyện Huyền Trân.
Và giống như một người mù
Tôi trở lại quê hương dưới mùi thơm của hoa nhài.
P.NERUDA
NGUYỄN PHÚC VĨNH BA
Lời người viết: Biết tin hiền thê của người bạn vong niên qua đời quá muộn, ghé thăm và nghe bạn than thở nỗi lòng, bỉ nhân không cầm được lòng xúc động. Thấy ông lão tám mươi rưng rưng khóc vợ, kể lể bao vui buồn ngày còn đủ vợ chồng, bỉ nhân xao xuyến vô cùng. Thay bạn, bỉ nhân viết quấy quá đôi hàng văn tế, chỉ mong nói hộ bạn nỗi niềm đau khổ đó. Than ôi! Chữ nghĩa cũng chỉ dành cho người sống đọc. Còn người đã khuất thì liệu có biết thấu chăng?
HÀ TÚC TRÍ
Đinh Cường - Nguyễn Ngọc Phú - Tần Hoài Dạ Vũ - Châu Thu Hà - Vi Thùy Linh - Đinh Thị Như Thúy - Nguyễn Nhã Tiên - Hà Duy Phương - Chử Thu Hằng - Thùy Nhiên Trương Hà
NGUYÊN QUÂN
VŨ THỊ MAI OANH
(Viết cho ai yêu thiên nhiên Nhật Bản)
HẢI HẠC PHAN
NGUYỄN TRỌNG TẠO
Khaly Chàm - Phan Hoàng - Trần Hữu Dũng - Phan Hoàng Phương - Vũ Thiên Kiều
KHẾ IÊM
Lynh Bacardi, tên thật là Phạm Thị Thùy Linh, sinh ngày 03/04/1981. Làm thơ, viết văn, đồng thời là một dịch giả chưa từng học qua trường lớp chính quy nào. Đến với thơ văn từ năm 2003, Lynh Bacardi không ngừng nỗ lực cách tân và đã tạo cho mình một lối viết đầy bản sắc trong thế hệ trẻ luôn có ý hướng cách tân hiện nay. Thế mạnh của Lynh chính là sự vượt thoát trong tư tưởng, dám bội ước với lối thi pháp truyền thống và nói lên được những khát vọng của giới nữ.
XUÂN CAO
VĂN CAO
Tần Hoài Dạ Vũ - Nguyễn Thanh Mừng - Phạm Nguyên Tường - Nguyễn Nguyên An - Lãng Hiển Xuân - Trần Tịnh Yên - Nhất Lâm - Nguyễn Đông Nhật - Trương Văn Nhân - Miên Di - Nguyễn Lãm Thắng - Huỳnh Thúy Kiều - Ngàn Thương - Hoàng Cát - Đức Sơn - Lệ Thu - Hồng Vinh - Ngô Thiên Thu - Lưu Ly - Ngô Công Tấn - Nguyễn Minh Khiêm - Nguyễn Khắc Thạch - Nguyễn Thường Kham - Từ Hoài Tấn - Nguyên Tiêu - Phan Lệ Dung - Phan Trung Thành - Tôn Phong - Trần Áng Sơn - Lê Ngã Lễ - Trần Vạn Giã - Từ Nguyễn
ĐẶNG NHẬT TRUNG
HOÀNG NGỌC QUÝ
NGUYỄN MAN KIM
NGÔ ĐÌNH HẢI
Đinh Thu - Nguyễn Văn Thanh - P.n.thường Đoan - Trần Nhuận Minh - Trọng Hướng - Lâm Anh - Đoàn Mạnh Phương - Đỗ Hàn - Trần Phương Kỳ - Nguyễn Văn Quang - Nguyễn Loan - Triệu Nguyên Phong - Kiều Trung Phương - Nguyễn Thiền Nghi - Hồ Đắc Thiếu Anh - Vạn Lộc - Nguyễn Đạt - Trường Thắng - Lê Nguyễn - Trịnh Bửu Hoài
LTS: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 có ý nghĩa lớn là làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, làm lung lay ý chí xâm lược buộc Mỹ phải “xuống thang chiến tranh”, tạo ra bước ngoặt có ý nghĩa quyết định của cuộc kháng chiến.