ĐẶNG THÀNH
Nữ sinh Huế - sơn dầu của Mai Chí Thành
Còn thương
Tôi chẳng được như người ta cao thượng
Cầu cho em hưởng hạnh phúc ấm êm
Em sang sông tôi oán hờn khôn tả
Cầu mong sao cho giông bão lật thuyền
Tôi chẳng được như người ta rộng lượng
Mong đời em mật ngọt nếm tràn môi
Tôi muốn em gặp trăm cay nghìn đắng
Để lúc buồn em chợt tiếc tình tôi
Chắc lắm người đã cho tôi ích kỷ
Trong tình yêu sao quá nhỏ nhen
Nhưng bạn hỡi ! Tôi đang yêu tha thiết
Sao người ta lại phủi sạch lời nguyền
Thà trước đây đừng thề non hẹn biển
Đừng thốt lời vàng đá khắc ghi
Nếu có yêu tôi cũng đành lặng lẽ
Đâu nói lời chua chát lúc chia ly
Ai có hiểu cho tôi - Rằng ai hiểu
Oán hờn kia dai dẳng bởi vì đâu
Nhưng người ơi chuyện muôn đời vẫn vậy
Còn oán hờn còn tưởng nhớ về nhau
* * *
Chó mẹ sinh ba con bé bỏng
Hôm qua họ bắt mất chúng rồi
Đêm xuống nó nhức căng bầu sữa
Nhớ con mình tru mãi không thôi
Nó chạy băng qua quãng đồng trống trải
Gặp vầng trăng sắp lặn cuối chân trời
Dáng cong cong tựa chó con nằm ngủ
Nó chồm lên vồ lấy mảnh trăng rơi
Rồi từng đêm - từng đêm như thế
Nó ra đồng tìm gặp dáng con
Trăng cuối tháng cứ mỏng dần lặng lẽ
Nó sắp mất đi niềm an ủi cuối cùng
Và đêm nay nó lại ra đồng trống
Mắt láo liên tìm dáng con mình
Trời đen tối - nó tru lên tuyệt vọng
Nước mắt buồn hóa giọt sương đêm.
Thư bạn
Thư bạn viết đôi dòng ngắn ngủi
Gợi cho tôi nhớ cả một thời
Mà sắc nắng huy hoàng nay sót lại
Vài mảnh tàn thoi thóp cháy khôn nguôi
Từng dòng chữ như gọi mời dĩ vãng
Về cho tôi thêm đôi phút mềm lòng
Sợ cuộc sống tựa đại dương khắc nghiệt
Khiến con thuyền quên lãng một dòng sông
Bạn bè ơi - con đường quá khứ
Cả thời gian khỏa lấp lối về
Tay gượng nhẹ xin gỡ từng cọng rối
Để tim mình sống lại tuổi say mê
Thuở cư xá nuôi đàn con xa mẹ
Tụ về đây tự mấy phương trời
Vâng - Hà Nội, dạ - ngọt ngào giọng Huế
Mái tóc thầy xanh lắm tuổi đôi mươi
Dạy cả tháng nhận đồng lương bé nhỏ
Cầm trên tay thoáng chút ngậm ngùi
Ai có hỏi - chúng tôi cười vui vẻ
Để bao điều cay đắng giấu sau môi.
Bạn bè ơi - những ngày gian khó
Bữa cơm thường ít thịt nhiều rau
Ta vẫn dạy học trò mơ ước
- Đất nước mình tươi đẹp mai sau
Ta vẫn dạy học trò nhân nghĩa
Đem tình người đùm bọc thương yêu
Như bọn mình - mùa đông xứ lạ
Ấm lòng nhau chung mảnh chăn nghèo
Nay chúng ta như dòng sông chia nhánh
Đứa xanh tươi đôi bờ bãi mỡ màu
Đứa cằn cỗi u trầm bên đá dựng
Vẫn đôi dòng thương nhớ chảy về nhau
Bạn bè ơi hãy thương nhau như thể
Cổ tích xưa nay còn mãi trên đời
Để thư bạn chỉ đôi dòng ngắn ngủi
Kéo ta về sống lại tuổi hai mươi
8-1992
(TCSH52/11&12-1992)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh